Vai trò của án lệ đối với sự phát triển của pháp luật quốc tế và sự cần thiết của việc
sử dụng án lệ vào nghiên cứu và giảng dạy luật quốc tế ở Việt Nam Nam hiện nay
Đặt vấn đề
Án lệ trong hệ thống thông luật (common law) có vai trò hết sức quan trọng, thể
hiện ở chỗ chúng được coi là nguồn luật không thành văn áp dụng để giải quyết
các vấn đề tương tự và là cơ sở để đảm bảo sự nhất quán trong hoạt động xét xử.
Việc nghiên cứu án lệ là một yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên và những người
làm công tác pháp luật. Trong hệ thống các giáo trình và tài liệu nghiên cứu của
nhiều nước, các án lệ luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể và sự thành công trong việc
nghiên cứu các vấn đề pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào việc tìm hiểu và vận dụng
các án lệ. Trong khoa học luật quốc tế, án lệ cũng đóng một vai trò hết sức quan
trọng, chúng không những là sự tổng kết của quá trình vận dụng pháp luật vào hoạt
động xét xử của các thẩm phán quốc tế mà còn là phương tiện quan trọng để xác
định các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế và là cơ sở vật chất cho quá trình hình thành và
phát triển của hệ thống pháp luật quốc tế. Mặc dù vậy, ở Việt Nam, án lệ thường
được tiếp cận như một loại nguồn bổ trợ của luật quốc tế và việc vận dụng án lệ
vào hoạt động nghiên cứu và giảng dạy luật quốc tế còn tương đối hạn chế.
Bài viết này nhằm tìm hiểu vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật quốc tế, qua
đó tìm hiểu ý nghĩa và sự cần thiết của việc vận dụng án lệ quốc tế trong việc
nghiên cứu và giảng dạy môn học luật quốc tế tại Việt Nam.
1.Vai trò của án lệ trong luật quốc tế
1.1Khái niệm án lệ
Án lệ hay những bản án, quyết định xét xử của Tòa án quốc tế (judicial decisions)
được xác định là một phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế hay đầy đủ hơn là
"những phương tiện bổ trợ để xác định các quy tắc pháp luật” (subsidiary means
for the determination of rules of law)[1]. Thuật ngữ "án lệ” được đề cập đến tại
điều 38(1) Quy chế Tòa án quốc tế[2]. (Thuật ngữ "án lệ” trong bài viết này chỉ
liên quan đến vấn đề vai trò của các án lệ quốc tế đối với sự phát triển của pháp
luật quốc tế).
Thứ nhất, án lệ được hiểu là những phán quyết (judgment/decision - nghị quyết xét
xử) của Tòa án Công lý quốc tế của Liên Hiệp quốc (International Court of
tư vấn có thể xét như một dạng "án lệ” đặc biệt.
Ngoài ra, khái niệm "án lệ” cũng có thể được hiểu bao gồm cả những phán quyết
của Pháp viện thường trực của Hội quốc liên (League of Nations).[11] Đây là cơ
quan giải quyết tranh chấp tồn tại trong thời kỳ Hội quốc liên tồn tại nhưng khác
với Tòa án Công lý quốc tế, Pháp viện thường trực quốc tế không phải là một cơ
quan chính của LHQ. Sau khi LHQ ra đời, theo Hiến chương LHQ và Quy chế
TAQT, Tòa án công lý quốc tế là cơ quan kế thừa Pháp viện thường trực quốc tế,
thể hiện ở quy định những các bên tranh chấp bằng tuyên bố đơn phương của mình
đã đồng ý chấp nhận thẩm quyền xét xử bắt buộc của Pháp viện thường trực quốc
tế mà vẫn còn hiệu lực thì Tòa án Công lý quốc tế sẽ có thẩm quyền giải quyết.
[12] Tương tự Tòa án Công lý quốc tế cũng tiếp nhận những vụ việc trong trường
hợp những điều ước quốc tế mà các bên ký kết đã đồng ý rằng khi có tranh chấp
xảy ra thì sẽ do Pháp viện thường trực quốc tế giải quyết.[13] Trong các phán
quyết sau này của Tòa án Công lý quốc tế cũng như giáo trình và tài liệu nghiên
cứu về luật quốc tế của các học giả trên thế giới thì các phán quyết trước đây của
Pháp viện thường trực quốc tế vẫn thường được viện dẫn để làm sáng tỏ những
phân tích và lập luận về các vấn đề pháp lý, đặc biệt như các vấn đề có tính truyền
thống như luật ngoại giao và lãnh sự, luật điều ước quốc tế, bảo hộ ngoại giao,
trách nhiệm pháp lý quốc tế.[14]
Thứ ba, tuy thuật ngữ "án lệ” được quy định tại Điều 38(1) Quy chế Tòa án Quốc
tế, nhưng điều đó không có nghĩa là Tòa chỉ viện dẫn những án lệ của chính mình
mà có thể viện dẫn tới những bản án của các cơ quan tài phán quốc tế khác.
[15] "Án lệ” do đó có thể được hiểu là thuật ngữ pháp lý chỉ thực tiễn xét xử của
các thiết chế tài phán quốc tế.[16] Ở cách hiểu này, khái niệm "án lệ” sẽ không chỉ
dừng lại trong phạm vi những bản án đã được Tòa án Công lý quốc tế xét xử mà
còn có thể bao gồm các phán quyết trọng tài do kết quả của việc lựa chọn phương
thức trọng tài tự nguyện[17] hoặc bắt buộc[18]. Như vậy, "án lệ” sẽ bao gồm
những bản án, phán quyết của các Tòa án quốc tế khác như Tòa án quốc tế về luật
biển, các Tòa án trọng tài trong việc xét xử các tranh chấp quốc tế như vụTrail
Smelter, Las Palmas hoặc các phán quyết của Tòa án ad hoc như Tòa án quân sự
quốc tế, trong đó trước tiên và chủ yếu là của Tòa án Công lý quốc tế của Liên
Hiệp quốc. Trong phần tiếp theo của bài viết, tác giả sẽ sử dụng khái niệm "án lệ”
theo cách tiếp cận này.
1.2 Vai trò của án lệ trong luật quốc tế
Mặc dù không có giá trị pháp lý bắt buộc như hai loại nguồn cơ bản của luật quốc
tế là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, án lệ đóng một vai trò hết sức quan
trọng và có giá trị thực tiễn cao trong khoa học pháp lý.
Thứ nhất, chúng là cơ sở thực tế có tính thuyết phục cao nhằm xác định các tiêu
chuẩn pháp lý chung,đặc biệt khi có sự không thống nhất về một vấn đề nào đó của
luật quốc tế. Vai trò quan trọng của án lệ được thể hiện ở những khía cạnh cơ bản
sau:
Một là, các án lệ khi được viện dân có ý nghĩa quan trọng làm sáng tỏ nội hàm của
một khái niệm pháp lý trong luật quốc tế. Đây có thể được coi là một vai trò cơ bản
và rõ rệt nhất của các án lệ. Chẳng hạn, trong phán quyết về vụ Las Palmas, khái
niệm chủ quyền lãnh thổ được định nghĩa là sự "… bao hàm đặc quyền thể hiện
các hoạt động của một quốc gia. Quyền này có một nghĩa vụ tương ứng: nghĩa vụ
của các quốc gia bảo vệ trong phạm vi lãnh thổ đó đối với quyền của các quốc gia
khác, cụ thể là quyền đối với sự toàn vẹn và bất khả xâm phạm trong chiến tranh
và hòa bình, cùng với các quyền mà mỗi quốc gia có thể viện dẫn đối với công dân
của mình ở lãnh thổ nước ngoài ”[29] Tòa án Công lý quốc tế trong vụ
Nottebohm đã chỉ ra bản chất của mối quan hệ quốc tịch khi xem "quốc tịch” là
"mối liên hệ pháp lý có nền tảng là sự gắn bó thực tế về xã hội, một mối liên kết
thực sự của đời sống và tình cảm, cùng với sự tồn tại của các quyền và nghĩa vụ
tương hỗ. Nó [quốc tịch] tạo ra sự công nhận về pháp lý thực tế rằng cá nhân có
được quốc tịch, một cách trực tiếp bởi luật pháp hoặc hành vi của các cơ quan công
quyền, có sự gắn kết với dân cư của quốc gia cấp quốc tịch một cách chặt chẽ hơn
là đối với dân cư của một quốc gia nào khác”[30]. Tương tự là vấn đề bảo hộ ngoại
giao đối với người hai quốc tịch trong vụ Nottebohm[31] hay vấn đề bảo lưu điều
ước quốc tế trong vụ Genocide. Trong vụ này, Tòa đã làm sáng tỏ việc thực hiện
quyền bảo lưu đối với một hoặc một số điều khoản của điều ước quốc tế trong
tế trong vụNhững hoạt động quân sự chống lại Nicaragua (Nicaragua kiện Mỹ năm
1986) là một ví dụ. Tòa đã xem xét và lập luận những hành vi của Mỹ đã vi phạm
nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế nêu ra tại
Điều 2.4 Hiến chương LHQ trong việc thực hiện các hành vi giúp đỡ các nhóm
phiến loạn tấn công, xâm nhập lãnh thổ Nicaragua. Tòa cũng đã bác bỏ lập luận
của Mỹ trong việc thực hiện "quyền tự vệ tập thể” với lý do Nicaragoa đã có thái
độ thù địch với các nước láng giềng là Honduras và El Sanvador. Đồng thời, hành
vi ủng hộ, giúp đỡ tài chính, huấn luyện và trang bị cho tổ chức Contras được Tòa
xác định là sự vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của một
quốc gia có chủ quyền. Trên cơ sở những lập luận đó, Tòa đã kết luận Mỹ đã vi
phạm các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và xử cho Nicaragua thắng kiện.
Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế trong vụBarcelona Traction[36] đã góp
phần làm rõ khái niệm về quyền chung của tất cả các quốc gia đối với những vi
phạm làm phương hại đến lợi ích chung của nhân loại (nghĩa vụ erga omnes).
Quyền khởi kiện đối với một hành vi như thế được thừa nhận cho không chỉ quốc
gia bị thiệt hại mà còn được thừa nhận đối với tất cả các quốc gia.[37] Trong các
phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế, một vấn đề luôn được Tòa làm rõ đó là tất
cả các quy phạm có tính bắt buộc chung (jus cogen) đều là những quy phạm tạo ra
các nghĩa vụerga omnes)[38].
Ba là, các án lệ có ý nghĩa khẳng định sự tồn tại một vấn đề cơ bản ở những lĩnh
vực trong khoa học luật quốc tế mà hiện nay quá trình pháp điển hóa còn đang tiếp
diễn, chẳng hạn như vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế. Trong vụ Spanish Zone of
Marocconăm 1923, Tòa Thường trực Hội quốc liên đã kết luận: "trách nhiệm pháp
lý là một hệ quả tất yếu của một quyền. Tất cả các quyền của một chủ thể luật quốc
tế đều liên hệ tới trách nhiệm pháp lý quốc tế. Trách nhiệm pháp lý dẫn đến nghĩa
vụ thực hiện việc bồi thường nếu những nghĩa vụ được nói đến là không được thực
thi”.[39] Đồng thời, trong vụ kiện nhà máy Chorzow (Chorzow Factory Case -
Đức và Ba lan (1928), Tòa án Thường trực Quốc tế của Hội Quốc liên (tiền thân
của Tòa án quốc tế đã kết luận: "Một nguyên tắc của luật quốc tế được thừa nhận
rộng rãi là bất kỳ một sự vi phạm đối với một nghĩa vụ quốc tế nào đều sẽ dẫn đến
tế; vụ Con tin Iran liên quan đến vấn đề trách nhiệm pháp lý của quốc gia trong
trường hợp hành vi vi phạm của công dân và vấn đề nghĩa vụ của quốc gia nhận
đại diện theo Công ước Vienna 1961 về ngoại giao và lãnh sự. Trong các phán
quyết của Tòa án Công lý quốc tế nói riêng và các thiết chế tài phán khác nói
chung, các án lệ có thể được viện dân để chứng minh hoặc là cơ sở lập luận đối với
nhiều vấn đề pháp lý khác nhau một cách có hệ thống.
Thứ hai, trên cơ sở khẳng định sự đúng đắn và hợp lý, các án lệ có vai trò là cơ sở
vật chất (material sources) làm nền tảng xây dựng các quy phạm mới của luật quốc
tế (ví dụ tính đúng đắn của đường cơ sở thẳng[49], nguyên tắc công bằng trong
phân định biển,[50]vấn đề chiếm hữu thực sự đối với tranh chấp lãnh thổ.) kể cả
việc hình thành các quy phạm luật quốc tế dưới dạng các tập quán. Ví dụ, quy
phạm tập quán của luật môi trường quốc tế "không một quốc gia nào có quyền sử
dụng hoặc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình dân đến việc gây thiệt hại bởi việc
gây ô nhiễm do khói bay sang hoặc trên lãnh thổ của một quốc gia khác” được nêu
ra trong vụ Trail Smelter (Mỹ và Canada) của Tòa án Trọng tài.[51] Nguyên tắc đó
sau này đã trở thành cơ sở pháp lý cho những điều ước quốc tế về môi trường,
chẳng hạn như Nghị định thư Kyoto của Công ước khung của Liên Hiệp quốc về
biến đổi khí hậu năm 1997.[52] Các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế
chính là cơ sở đề hình thành những quy phạm tập quán của luật môi trường quốc tế
khi tại thời điểm phán quyết ra đời chưa có các quy phạm điều ước quốc tế. Ví dụ
tiêu biểu như các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế trong vụ Gabcikovo-
Nagymaros (Hungary và Slovakia);[53] Pulp Mills (Argentina và Urugoay).[54]
Trong vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế, nguyên tắc về trách nhiệm của quốc gia
do những hành vi sai trái áp dụng đối với người nước ngoài đòi hỏi người nước
ngoài bị vi phạm đó trước tiên phải áp dụng hết mọi biện pháp bảo vệ hiện có ở
nước sở tại là kết quả của việc vận dụng quy tắc tương ứng của pháp luật quốc gia,
thể hiện trong vụ Ambatielos (Hy Lạp kiện Anh) năm 1956.[55] Vai trò của các án
lệ được thể hiện khá rõ nét trong những vụ tranh chấp về lãnh thổ và luật biển.
Trong vụ Ngư trường Anh - Na Uy, một loạt các vấn đề được giải quyết trong phán
quyết của Tòa án đã được công nhận và sau đó được ghi nhận trong Công ước của
lý nhất thiết cần phải nắm vững và viện dân lập luận nêu ra trong các vụ việc tranh
chấp liên quan như vụ Las Palmas (Mỹ và Hà Lan), Minquier and Ecrehous (Pháp
và Anh), Palau Islands (Malaysia và Singapore)
Cũng ở khía cạnh này, tác giả muốn nhấn mạnh đến vấn đề Việt Nam cần phải có
ngày một nhiều hơn các bài viết khoa học hoặc công trình nghiên cứu được thừa
nhận ở quy mô quốc tế. Điều này không chỉ nhằm giới thiệu pháp luật của Việt
Nam ra nước ngoài, thể hiện quan điểm và lập trường của nhà nước mà quan trọng
hơn là cung cấp những nguồn tài liệu tham khảo có thể truy cập và có thể sử dụng
(viện dân) bởi các chuyên gia và nhà nghiên cứu nước ngoài, lấy ví dụ như về vấn
đề tranh chấp biển Đông, chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa.
[58] Để đạt tới mục tiêu này, không những chúng ta cần chú trọng về chất lượng
(thể hiện qua việc viện dân các bằng chứng và thực tiễn pháp lý thông qua các án
lệ của Tòa án Công lý quốc tế và các cơ quan tài phán quốc tế khác) mà còn về
hình thức (sự trích dân các án lệ và các công trình nghiên cứu của các học giả
khác).
Thứ ba, việc đẩy mạnh sử dụng nghiên cứu án lệ cho các môn học thuộc chuyên
ngành luật quốc tế có ý nghĩa tích cực đối với sinh viên việc làm quen và chuẩn bị
cho việc nghiên cứu một số môn học tiếp theo của khoa luật quốc tế,[59] đặc biệt
là thương mại quốc tế (việc nghiên cứu thực hiện thông qua việc tìm hiểu các vụ
việc tranh chấp thương mại quốc tế, đặc biệt là trong khuôn khổ cơ chế giải quyết
tranh chấp thương mại quốc tế của WtO).
Thứ tư, việc đưa các án lệ vào trong giáo trình, tài liệu nghiên cứu, giảng dạy là
cần thiết giúp cho chương trình đào tạo chuyên ngành luật quốc tế trở nên gần gũi
với xu hướng chung của các nước. Hiện tại hệ thống các giáo trình tài liệu nghiên
cứu chuyên ngành luật quốc tế thường đề cập không nhiều các án lệ phổ biến trong
luật quốc tế,[60] trong khi đây lại là một điểm chung thường thấy ở đại đa số các
giáo trình, tài liệu nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài, do đó sinh viên và cán bộ
nghiên cứu khi ra nước ngoài học tập hoặc tiếp cận với các nguồn tài liệu nước
ngoài thường gặp nhiều bỡ ngỡ trong khi đây lại là một yêu cầu quan trọng các bài
luận (essay hoặcassignments) khi nghiên cứu luật quốc tế nói riêng và pháp luật