Du lịch cộng đồng vùng núi phía bắc Việt Nam ( nghiên cứu trường hợp bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai và bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu, Hòa Bình - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VÙNG NÚI PHÍA
BẮC VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai và
bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG

1.1. Cảnh quan sinh thái với tư cách là một nguồn tài nguyên du lịch của vùng núi
Tây Bắc 16
1.2. Văn hóa tộc người với tư cách là một nguồn tài nguyên nhân văn của du lịch
cộng đồng 24
1.3. Sự hình thành loại hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác (Hòa Bình) và Sả Séng
(Lào Cai) 43
Chương II. Du lịch cộng đồng và tác động kinh tế - môi trường ở địa phương.
54
2.1. Dịch vụ du lịch tại cộng đồng 54
2.1.1. Dịch vụ nhà nghỉ và loại hình du lịch tại gia (homestay) 54
2.1.2. Sản xuất và tiêu thụ sản vật địa phương 58
2.1.3. Dịch vụ ẩm thực trong du lịch cộng đồng 67
2.1.4. Quảng bá, môi giới và hướng dẫn viên du lịch 69
2.2. Tác động kinh tế 72
2.2.1. Du lịch cộng đồng và kinh tế hộ gia đình 72
2.2.2. Du lịch cộng đồng và dịch chuyển cơ cấu kinh tế địa phương 77
2.2.3. Du lịch cộng đồng và quá trình đô thị hoá ở miền núi 81
2.3. Tác động lên môi trường sinh thái 86
2.3.1. Nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương 86
2.3.2. Nguy cơ rác thải và ô nhiễm môi trường 88
2

Chương III. Du lịch cộng đồng và tác động lên đời sống văn hoá - xã hội ở địa
phương 90
3.1. Văn hoá tộc người trong du lịch cộng đồng 90
3.1.1. Lễ hội cổ truyền và du lịch 90
3.1.2. Lối sống của tộc người và du lịch 92
3.1.3. Văn nghệ địa phương và du lịch 94
3.2. Tác động của du lịch lên đời sống văn hoá - xã hội địa phương 96
3.2.1. Bản sắc văn hoá tộc người 96

không thể thiếu đối với nhiều người. Tham quan du lịch ngày nay không chỉ dừng
lại ở sự chiêm ngưỡng, ngắm nhìn mà đối với nhiều khách du lịch, còn là cơ hội để
tìm hiểu và khám phá nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết của bản thân. Con người
hoà mình vào môi trường thiên nhiên, môi trường văn hoá xa lạ và cảm nhận một
cách trực tiếp, chân thực và trọn vẹn những giá trị của tài nguyên du lịch mà mình
mong muốn được đến tận nơi để trải nghiệm.
Theo số liệu điều tra của Tổ chức du lịch thế giới, ngày nay có trên 80% số
khách đi du lịch nhằm mục đích hưởng thụ các giá trị văn hoá độc đáo và khác biệt
với nền văn hoá của dân tộc họ. Họ muốn được xem và hưởng thụ những giá trị văn
hoá giàu bản sắc, đích thực, sống động trong cuộc sống hàng ngày của người dân
địa phương. Người dân tự tổ chức các sinh hoạt văn hoá đích thực vì cuộc sống của
chính họ chứ không phải "đóng giả" như diễn viên để phục vụ du khách. Các hoạt
động văn hoá sống động như phiên chợ, cảnh làm ruộng bậc thang, lễ cưới, sinh
hoạt ở từng gia đình, sản xuất đồ rèn, thêu dệt thổ cẩm, v.v., luôn thu hút du khách
(Trần Hữu Sơn, http://laocai.gov.vn).
Những nhu cầu trên đã thúc đẩy và tạo điều kiện cho loại hình du lịch cộng
đồng ra đời và phát triển.
Du lịch cộng đồng thường được hiểu như là một loại hình du lịch mà khách
du lịch được “ba cùng”: Cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt với gia đình người dân bản
địa. Du lịch cộng đồng một mặt tạo ra mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa khách du
lịch với cộng đồng cư dân địa phương, mặt khác người dân địa phương không chỉ là
đối tượng được thăm viếng một cách thụ động mà họ cũng là một phần của quá
trình du lịch, từ tiếp cận thị trường, tổ chức cung cấp dịch vụ du lịch và quản lý du
lịch trên địa bàn và gắn bó chặt chẽ với loại hình du lịch cộng đồng. Như vậy, khái
4

niệm du lịch cộng đồng cũng có thể hiểu như là một loại hình du lịch dựa vào cộng
đồng (community-based tourism).
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN (1998) đã khuyến cáo khách du
lịch rằng thay vì tìm kiếm “thiên đường”, hãy phát hiện tính đa dạng văn hóa bằng

bằng sông Cửu Long.
Miền núi phía Bắc Việt Nam là địa bàn cư trú chủ yếu của nhiều dân tộc
thiểu số, nơi đó còn lưu giữ được kho tàng văn hoá truyền thống giàu bản sắc, môi
trường sinh thái trong lành, là điều kiện lý tưởng để thu hút khách tham quan, nghỉ
dưỡng. Hình thức du lịch cộng đồng được khách du lịch ưa thích vì họ có thể tiếp
cận dễ dàng vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi có cảnh quan lý tưởng và sắc màu
văn hoá đa dạng. Nói cách khác, miền núi đang trở thành mảnh đất có một mê lực
mạnh mẽ của du khách đến với bản làng các dân tộc.
Bên cạnh sức hấp dẫn của du lịch văn hóa tộc người (ethnic tourism), người
ta cũng thấy du lịch có tác động mạnh lên đời sống văn hoá - xã hội cộng đồng địa
phương. Điều này dường như đặt du lịch cộng đồng trước tình trạng lưỡng nan của
phát triển. Một mặt, du lịch được xem là một ngành công nghiệp không khói mang
lại lợi nhuận lớn cho các hãng lữ hành và các cộng đồng địa phương nơi có điểm du
lịch hấp dẫn, nhưng mặt khác, một trong những yếu tố sống còn của sự phát triển du
lịch là phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa các bên tham gia vào quá trình du lịch,
bảo tồn và phát huy được các giá trị văn hoá tộc người, bảo vệ được môi trường tự
nhiên. Chính vì vậy, để phát triển du lịch bền vững và đạt hiệu quả cao, một trong
những yêu cầu bức thiết của các nhà quản lý là phải biết được mức độ tác động của
du lịch đến cộng đồng địa phương cả trước mắt cũng như lâu dài, từ đó đề ra được
các giải phát triển du lịch bền vững và hiệu quả hơn.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và lý luận nói trên, tôi đã chọn đề tài: Du
lịch cộng đồng vùng núi phía Bắc Việt Nam để nghiên cứu làm luận văn khoa học
với tham vọng có thể thu thập thông tin và phân tích mối quan hệ phức tạp giữa sự
phát triển của loại hình du lịch cộng đồng và tác động của nó lên cuộc sống của
người dân địa phương, góp một cách nhìn cùng các nhà làm chính sách phát triển du
lịch hướng đến bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá tộc người, phát triển kinh tế xã
hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu của tôi chủ
yếu tập trung vào hai trường hợp là Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) và Bản Sả Séng
(Sa Pa, Lào Cai).


đã có một công trình giáo khoa về mối liên hệ giữa nhân loại học và du lịch được
dịch ra tiếng Việt. Đó là biên khảo của Cao Lộ Gia (2004) có tiêu đề Nghiên cứu
Nhân loại học Du lịch. Trong tài liệu này, tác giả đã cung cấp cho ta một cái nhìn khá
7

mới mẻ, toàn diện về hệ thống cơ sở lý luận về lý thuyết nhân loại học và du lịch và
mối quan hệ giữa nhân loại học với phát triển du lịch. Ông phân tích các thành tố
thuộc nhân loại học và ứng dụng nó vào phát triển du lịch. Tuy nhiên ông chỉ xem
đây là nền tảng bước đầu, khái quát về nhân loại học và mối quan hệ của nó với du
lịch dưới con mắt của một nhà nghiên cứu Trung Quốc. Theo ông thì “vận dụng tư
liệu Trung Quốc, giải quyết vấn đề Trung Quốc là cách trình bày giải thích hệ thống
của nhân loại học du lịch Trung Quốc ” (Cao Lộ Gia, 2004, tr.5). Hệ thống lý luận
này cũng có thể là một nguồn tài liệu tham khảo tốt để vận dụng vào nghiên cứu du
lịch tộc người ở Việt Nam.
Như vậy, dù ít ỏi, những tài liệu có tính lý luận nói trên thực sự có ích cho
quá trình nghiên cứu làm luận văn của tôi. Nó đã cung cấp một cái nhìn lý luận tổng
quan về loại hình du lịch cộng đồng, nêu ra và thảo luận một loạt các khái niệm, đặc
trưng và điều kiện phát triển của du lịch cộng đồng. Đó là cơ sở lý luận quan trọng
để vận dụng vào nghiên cứu loại hình du lịch này và tác động của nó lên đời sống
văn hoá tộc người tại một địa bàn cụ thể.
Bên cạnh những vấn đề lý luận và khái niệm có tính công cụ, cũng cần phải
nhận thấy rằng trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương
đã triển khai một hệ thống chính sách về phát triển du lịch. Có thể nói đây cũng là
một trong những cơ sở quan trọng đặt nền tảng cho các phân tích về vai trò của nhà
nước, của chính quyền địa phương trong việc xây dựng chính sách phát triển du lịch
trên cơ sở khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên sinh thái, nhân văn của
địa phương. Nhiều địa phương cũng cho ra đời các chương trình, đề án phát triển du
lịch, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển du lịch, v.v. Tuy nhiên, như một
đặc điểm phổ quát ở tầm vĩ mô, hệ thống chính sách phát triển du lịch nói chung và
du lịch cộng đồng nói riêng ở Việt Nam chủ yếu được hình thành và áp đặt từ trên

những quan tâm của các cá nhân và tổ chức quốc tế liên quan đến lĩnh vực du lịch
và văn hóa tộc người ở Việt Nam. Tuy nhiên, phải nói rằng các nghiên cứu về văn
hoá tộc người ở Việt Nam có khuynh hướng tập trung mô tả kho tàng văn hoá
truyền thống của các tộc người, quá trình tộc người và đặc tính dân tộc. Không có
mối liên hệ đặc biệt nào giữa các mô tả dân tộc học này và sự hình thành của du lịch
cộng đồng hay du lịch tộc người, nhưng chính các mô tả này đã mang lại nhiều cảm
hứng cho các nhà thiết kế các tour du lịch và là một nguồn tư liệu chính thức cho
các giới thiệu về văn hóa tộc người của các hãng lữ hành.
9

Dưới đây tôi sẽ cố gắng điểm lại một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên
quan đến du lịch cộng đồng ở các tộc người ở miền núi Bắc Việt Nam và đặc biệt là
hoạt động du lịch ở các tộc người Dao và Thái - tâm điểm chú ý của luận văn này.
Trong một nỗ lực bảo tồn đa dạng văn hóa và sinh thái, năm 1998, Tổ chức
Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới IUCN Việt Nam đã tiến hành một nghiên cứu sâu tại
Sapa nhằm phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam. Kết luận của nghiên cứu này
là muốn phát triển du lịch bền vững cần phải bảo tồn và phát huy các nguồn tài
nguyên, đặc biệt tài nguyên văn hoá truyền thống của các tộc người, thu hút sự tham
gia tối đa của cộng đồng vào hoạt động du lịch nhưng phải đảm bảo quyền lợi kinh
tế cho cộng đồng địa phương.
Dường như sự phát triển mạnh mẽ của du lịch tộc người ở Sapa đã thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài. Năm 1996 một học giả Mỹ là
Michael Dirgegorio và các cộng sự đã bắt đầu thu thập thông tin và phân tích ảnh
hưởng của du lịch ở Sapa lên tăng trưởng kinh tế ở địa phương. Một năm sau, Mark
Grindley (1997) công bố khảo sát về các hoạt động du lịch ở Sapa và các làng phụ
cận. Năm 1998, hai nhà nhân học Canada Jean Michaud và Sarah Turner xuất bản
bài viết “Contending Visions of a Hill-Station in Vietnam” phân tích lịch sử hình
thành của khu nghỉ dưỡng - du lịch nổi tiếng Sapa dưới thời thực dân và ba năm sau
(2000), họ lại viết chung một bài viết trình bầy các quan sát về hoạt động du lịch ở
chợ Sapa. Nhận định chung của hai nhà nghiên cứu này là chính văn hóa đặc sắc

lại giữa văn hoá và du lịch. Chẳng hạn, tác giả Trần Hữu Sơn (2004) đã phân ảnh
hưởng của du lịch lên một số thiết chế xã hội người Mông ở Sapa trong khi Phạm Thị
Mộng Hoa và Lâm Thị Mai Lan (2000) lại xem xét tác động của du lịch đến đời sống
văn hoá - xã hội của các dân tộc thiểu số. Các nghiên cứu này đã phân tích không
gian ảnh hưởng của du lịch trên địa bàn nghiên cứu và đặc biệt là những tác động của
hoạt động du lịch đến cộng đồng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, tiếng nói của người
trong cuộc và vai trò tham gia của người dân địa phương như một đối tác tham gia
lập kế hoạch và tham gia quản lý phát triển du lịch chưa được các tác giả đề cập đến.
Hiện tượng tình dục trong du lịch (Sex tour), nhận thức và khả năng kiểm soát của cư
dân bản địa về tình dục và tác động của hiện tượng này lên đời sống văn hoá truyền
thống và sức khoẻ cộng đồng cũng chưa được các tác giả đề cập đến.
Tiếp cận sự phát triển của du lịch ở Sapa trong mối liên hệ tương tác với quá
trình hình thành của hệ thống đường sắt Hải Phòng - Côn Minh, các tác giả Nguyễn
11
Văn Chính và Trần Thùy Dương (2007) đã tập trung tìm hiểu lịch sử phát triển du
lịch Sapa và vai trò của điều kiện cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ cho sự phát triển du
lịch cũng như tác tác động của du lịch đối với quá trình di dân và đô thị hoá ở Sapa.
Tóm lại, tôi đã tóm lược những công trình nghiên cứu và các nguồn thông tin
chủ yếu liên quan đến đề tài văn hóa tộc người và loại hình du lịch cộng đồng. Như
tôi thấy, các nguồn tài liệu dù tản mạn và đa dạng, vẫn có thể quy về mấy nhóm
chính như sau: (1) Các công trình nghiên cứu sâu về các khái niệm và lý luận về
loại hình du lịch cộng đồng; (2) Các nguồn tài liệu quảng bá du lịch cộng đồng
thông qua lăng kính của truyền thông đại chúng và quảng cáo du lịch; (3) Các
nghiên cứu định hướng chính sách phát triển du lịch bền vững; (4) Các nghiên cứu
học thuật về mối liên hệ giữa văn hóa tộc người địa phương và du lịch cộng đồng.
Như đã chỉ ra ở trên, các tài liệu dường như khá thống nhất khi chỉ ra mối
liên hệ chặt chẽ giữa văn hóa tộc người/địa phương và sự hình thành, phát triển của
loại hình du lịch cộng đồng. Dù là một loại hình du lịch mới mẻ và chưa được
nghiên cứu nhiều nhưng cũng đã có các nghiên cứu phân tích ở cả bình diện lý
thuyết và chính sách ở tầm vĩ mô, trong đó một số công trình đã bước đầu đề cập

3. Tìm hiểu tác động của loại hình du lịch cộng đồng lên hoạt động kinh tế,
môi trường, văn hoá xã hội tại điểm du lịch. Hai bản Sả Séng (Tả Phìn, Sapa, Lào
Cai) và Bản Lác (Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình) được lựa chọn là điểm nghiên
cứu sâu để khảo sát các tác động. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề lợi ích
của người dân địa phương trong quá trình tham gia hoạt động du lịch và đánh giá
hiệu quả của mô hình du lịch cộng đồng.
4. Tìm hiểu phản ứng của người dân địa phương và sự thích ứng trước trào
lưu du lịch cộng đồng cũng như nhận thức của họ về tác động của loại hình du lịch
này lên đời sống văn hoá tộc người. Mối quan hệ lưỡng nan giữa phát triển du lịch
và bảo tồn văn hoá địa phương được coi là một vấn đề mở trong nghiên cứu này để
cùng phân tích và bình luận.
Như đã nói, nghiên cứu này muốn tìm hiểu tính hiệu quả của mô hình phát
triển du lịch cộng đồng, sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động dịch
vụ du lịch và tác động của nó đến đời sống của tại cộng đồng, do đó địa bàn nghiên
cứu thực địa được lựa chọn chủ yếu tập trung vào những địa bàn đã xuất hiện và
phát triển du lịch cộng đồng. Hiện nay, du lịch cộng đồng đã trở thành một trào lưu
phát triển rộng khắp trên thế giới và cả ở Việt Nam. Để hiểu sâu hơn các vấn đề đặt
13
ra và đặc biệt là lắng nghe tiếng nói của chủ thể văn hóa từ cộng đồng, chúng tôi lựa
chọn bản Sả Séng (Sapa, Lào Cai) và Bản Lác (Mai Châu, Hoà Bình) làm trường
hợp nghiên cứu chính. Lý do của sự lựa chọn hai bản này là:
- Đây là hai cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng từ rất sớm
và vẫn đang phát triển mạnh mẽ.
- Hình thức tham gia du lịch, tổ chức và quản lý hoạt động du lịch ở hai cộng
đồng này về cơ bản có thể được xem là hai mô hình du lịch cộng đồng tương đối
điển hình để có thể nhận diện những khác biệt và tương đồng của loại hình du lịch
dựa vào cộng đồng ở Việt Nam.
- Hai cộng đồng này đều sở hữu một kho tàng các giá trị văn hóa vật chất và
tinh thần to lớn, là kho tài nguyên quý giá cho phát triển du lịch cộng đồng, người
dân cởi mở và hiếu khách, thuận lợi cho việc tiếp cận cộng đồng và tham gia “ba

- Điều tra phiếu bảng hỏi: Bên cạnh điền dã dân tộc học bằng kỹ thuật quan
sát tham gia, tôi cũng thiết lập một công cụ điều tra theo bảng hỏi để thu thập thông
tin định lượng về sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động dịch vụ du
lịch cũng như hệ quả về kinh tế hộ và tổng thể kinh tế địa phương, tác động về môi
trường và văn hoá xã hội. Thông tin về mối quan hệ tương tác giữa khách du lịch và
cộng đồng cư dân địa phương và hiện tượng sex trong du lịch tại cộng đồng cũng
được đặt ra trong bảng hỏi để đạt được một cái nhìn tổng thể.
- Tổ chức các cuộc phỏng vấn sâu các đối tượng khác nhau như đại diện
chính quyền, các tổ chức kinh tế - xã hội tại địa phương, công ty kinh doanh du lịch
lữ hành, những người có ảnh hưởng xã hội tại cộng đồng và du khách. Ngoài ra,
một số cuộc thảo luận nhóm với người dân địa phương cũng được tiến hành để hiểu
những ý kiến khác nhau và những vấn đề mà họ đặt ra liên quan đến du lịch tại cộng
đồng. Tôi đã tổ chức thảo luận ở các nhóm khác nhau trong cộng đồng nhằm thống
nhất, đối chiếu, tham khảo được nhiều ý kiến, trong đó hướng vào các ba nhóm
chính như sau:
a) Nhóm người dân cung cấp dịch vụ du lịch, trong đó có nam giới,
nữ giới đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực du lịch;
b) Nhóm du khách gồm khhách trong nước và nước ngoài;
c) Nhóm những người có vai trò xã hội và quản lý trong cộng đồng
như già làng, trưởng bản, trưởng họ. Chúng tôi cho rằng ý kiến của
họ về phong tục tập quán, địa phương, hệ giá trị chuẩn mực của
15
cộng đồng, và quan niệm của họ về hành vi của du khách có ý
nghĩa quan trọng ảnh hưởng đến việc cung cấp các dịch vụ du lịch
cho du khách.
- Các nguồn tài liệu thứ cấp lưu giữ ở các cơ quan công quyền và gia đình
cũng được thu thập và phân tích nhằm góp phần soi sáng nguồn tài liệu
nguyên cấp đã thu thập được từ điều tra thực địa.

5. Bố cục luận văn


Lào Cai và Hoà Bình là hai tỉnh thuộc miền núi phía Bắc Việt Nam, vị trí địa
lý, địa hình có những điểm tương đồng và khác biệt và nguồn tài nguyên sinh thái
của mỗi tỉnh đã góp phần tạo nên nguồn tài nguyên du lịch đa dạng nhưng vô giá
của vùng núi Tây Bắc.
Lào Cai nằm cách Thủ đô Hà Nội 338km, có con đường thông thương với nước
bạn Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai. Địa hình Lào Cai nói chung và Sapa
nói riêng đều có sự chia cắt mạnh, tạo nên sự phong phú đa dạng các loại địa hình, có
thung lũng và có cả núi cao hàng nghìn mét, trong đó đỉnh Phanxipang cao 1.343m vẫn
được mệnh danh là nóc nhà của Đông Dương. Môi trường tự nhiên ấy không thật thuận
lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp, do thời tiết quá lạnh, mỗi năm chỉ gieo trồng
được một vụ lúa, một vụ nương, năng suất thấp. Thế nhưng, ở đây lại rất thích hợp phát
triển các đặc sản xứ lạnh mà những vùng khác không thể có được như rau, hoa quả,
thảo dược và cá nước lạnh.
Khác với Lào Cai, tỉnh Hoà Bình nằm ở vị trí tiếp giáp với thủ đô Hà Nội về
phía Tây Bắc. Đây là một vị trí có ý nghĩa chiến lược của vùng đồng bằng Bắc Bộ, là
cửa ngõ ra vào vùng thủ đô và là cửa ngõ thông sang thượng Lào. Đường số 6 có độ
dài qua Hoà Bình 125km là con đường chiến lược nối Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ với
Tây Bắc và Thượng Lào. Địa hình Hoà Bình có sự chia cắt phức tạp theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm ở phía Tây Bắc có độ
cao trung bình 600 - 700m, địa hình hiểm trở, cao nhất là huyện Đà Bắc - độ cao
trung bình 660m; vùng núi thấp ở phía Đông Nam gồm các dãy núi thấp, chia cắt,
độ dốc trung bình 20
0
- 25
0
, độ cao trung bình 100 - 200m, thấp nhất là thành phố
17
Hoà Bình, độ cao trung bình 20m. Toàn tỉnh có 11 đỉnh núi cao trên 1.000m so với
mực nước biển.

thời điểm tháng 1 khoảng 0
0
C, có những năm khí hậu Sapa xuống tới -3,2
0
C. Những
ngày nhiệt độ Sapa xuống thấp nhất thường báo hiệu những cơn mưa tuyết, một
hiện tượng khí hậu kỳ thú đối với khách du lịch. Tuyết đã rơi nhiều lần, tuyết rơi
trắng trời và tràn ngập cả một thị trấn. Vì vậy, Sapa không chỉ hấp dẫn khách du
18
lịch vào mùa hè mà Sapa còn tập trung rất đông khách du lịch vào mùa đông, đặc
biệt là vào những ngày lạnh nhất để chờ đợi tuyết trắng Sapa.
Mây Sapa là một kỳ quan hấp dẫn khách du lịch mỗi khi đến vùng đất thơ
mộng này. Nói đến Sapa là nói đến mây Sapa, mây đã trở thành một “nhân vật” của
Sapa, khách du lịch luôn nhìn thấy một Sapa ẩn hiện giữa trời mây trắng. Mây Sapa
thay đổi theo mùa, theo tháng, thậm chí theo từng ngày, từng giờ với nhiều dáng
hình đa dạng và kỳ thú.
Chính nền khí hậu đó đã sản sinh ra hệ động thực vật phong phú, đa dạng về
chủng loại và giống loài. Với hơn 800 loài thực vật, trong đó có nhiều loại quý hiếm như:
dược liệu, cây cảnh, cây ăn quả và hơn 600 loài động vật đang cần được bảo tồn.
Tổng hợp tất cả các yếu tố từ vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, cảnh quan, động
thực vật đều cho ta khẳng định, Sapa là trung tâm du lịch lớn với những sản phẩm
du lịch độc đáo như: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hoá, du lịch cộng
đồng Sự khai thác và phát triển du lịch Sapa nói riêng và Lào Cai nói chung đã
đưa đến nhiều đổi thay trong toàn bộ đời sống văn hoá - xã hội của các dân tộc nơi
đây. Sự ảnh hưởng đó sâu đậm khác nhau, càng xa trung tâm thì khoảng cách của
nó tới vùng du lịch càng xa dần. Càng những thôn, bản gần trung tâm, có cảnh sắc
thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn, người dân hội nhập nhanh với thời cuộc thì những
nơi đó chịu tác động càng lớn.
Mai Châu, điểm du lịch hấp dẫn của Hoà Bình cũng may mắn được thiên
nhiên ưu đãi nhiều tài nguyên quý giá. Mai Châu có huyện lỵ là Thị trấn Mai Châu

lịch như: hang Khoài, hang Láng, các làng người Thái (bản Lác, bản Pom Coọng, bản
Pước), người H’Mông (xóm Hang Kia). Hang Khoài thuộc xã Xăm Khoè, là một di
di tích khảo cổ học được Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch) cấp bằng công nhận năm 1996. Hang Láng nằm ở núi Chua Luông, thuộc bản
Lác, xã Chiềng Châu, được phát hiện và khai quật năm 1976.
Điểm nhấn tại các điểm du lịch Sapa, Mai Châu đó chính là các tuyến du lịch
làng bản hiện đang trở thành một trong những trào lưu du lịch hấp dẫn đối với du
khách. Một trong những điểm du lịch nằm trên tuyến du lịch làng bản của Sapa đó
chính là bản Sả Séng, xã Tả Phìn của người Dao đỏ và điểm du lịch làng bản của
người Thái trắng ở Bản Lác, Mai Châu, Hoà Bình.

Đặc điểm tài nguyên sinh thái xã Tả Phìn (Sapa)
Là một xã vùng cao của huyện Sapa, Tả Phìn nằm cách trung tâm thị trấn
Sapa 12km về phía Bắc, là trung tâm du lịch khá sôi động của Sapa. Tả Phìn có vị
trí khá thuận lợi trong phát triển du lịch nhờ các đường phân tuyến du lịch làng bản
từ trung tâm Thị trấn toả về. Theo quy hoạch phân vùng địa lý của huyện Sapa, Tả
20
Phìn cùng với Tả Giàng Phình, Bản Khoang nằm trong tiểu vùng I của huyện. Có
độ cao trung bình 1200m (chiếm 60%) khí hậu ở đây mang tính chất chung của đới
khí hậu á nhiệt đới, trong vành đai bắc bán cầu, khí hậu mát mẻ quanh năm. Lúc
sáng sớm và khi về chiều sương mù bao phủ, mùa đông đến thì tuyết rơi trắng trời.
Nhiệt độ trung bình luôn ở mức 13 - 14
0
C, lượng mưa trung bình từ 2861mm/năm.
Với điều kiện thuận lợi đó, Tả Phìn có khả năng trồng được nhiều loại cây khác
nhau: đào, mận, cây dược liệu, chè Đặc biệt, thiên nhiên ưu đãi cho Sapa, Tả Phìn
một bầu không khí trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên mạnh mẽ tạo sức hấp
dẫn du khách ở khắp mọi nơi hội tụ về, đưa đến sự phát triển mạnh mẽ của hoạt
động kinh tế mới - kinh tế du lịch - làm chuyển biến cơ cấu kinh tế của một vùng
đất vốn trước kia thuần nông nghiệp, tự cấp, tự túc.

thánh thót trong màn đen. Hiện tại, động thứ hai này vẫn ở dạng tiềm năng chưa được
khai thác để phát triển du lịch.
Cũng giống như Tả Phìn, Sapa, khí hậu ở Sả Séng là khí hậu ôn đới được
chia thành hai mùa rõ rệt. Ở vị trí cao và có núi bao phủ xung quanh nên về mùa
đông có nhiều sương mù, ẩm ướt. Mùa hè nhiệt độ trung bình khoảng 18
0
C, khí hậu
mát mẻ, vào tháng 5 hoặc tháng 6, ngày nóng nhất lên tới 28 - 30
0
C, nhưng nền
nhiệt nhìn chung là mát mẻ. Mức độ giao động giữa ngày nóng nhất và lạnh nhất
không quá lớn. Mùa đông khí hậu lạnh nhiệt độ trung bình khoảng 10
0
C, nhiều ngày
xuống tới 4 - 5
o
C, đặc biệt có ngày xuống tới 0
o
C, nhiều sương mù và ẩm ướt.
Nguồn nước trên mặt ở làng Sả Séng khá phong phú. Khu vực đội I có 3 con
suối nhỏ - còn gọi là Khe suối con, tất cả đều chảy theo hướng bắc, với độ dài khác
nhau. Thực vật có rừng Thảo quả và rừng trúc (cho 2 loại măng: măng ngọt và
măng đắng, vỏ làm cơm lam) ở hai bên đường vào thác, tạo không gian cảnh quan
xung quanh thác và tôn thêm vẻ đẹp cho con thác. Đội IV có hai con suối nhỏ cũng
gọi là Khe suối nhỏ, một con chảy về hướng Đông, một con chảy về hướng Nam.
Sự phong phú về các con suối trong làng bồi đắp cho đồng ruộng màu mỡ, phì
nhiêu, tôn thêm vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên càng thêm thơ mộng, hấp dẫn.
Chính điều kiện khí hậu, thuỷ văn đó đã tạo nên hệ động thực vật ở Sả Séng rất
đa dạng, phong phú. Thực vật nổi bật trong các khu rừng của thôn là cây gỗ Zổi,
Xoan Trà, Trâm, to và đều, đường kính của cây tối đa là 50 cm, cao 10 - 11m. Rừng

gồm gồm hai thôn nhỏ, gọi là Lác 1 và Lác 2 nối với nhau bởi cây cầu Lác. Cả hai
bản Lác 1 và Lác 2 có khoảng 100 nếp nhà sàn, các hộ gia đình đều có khuynh hướng
xây dựng nhà bám lấy mặt đường trong bản. Diện tích nhà ở được xã phân chia đều
cho mỗi hộ là 360m
2
đất thổ cư. Quy hoạch làng bản rất gọn gàng, khoa học. Mỗi
23
ngôi nhà bám lấy mặt đường nhưng đều cách mặt đường khoảng 3m, giữa các gia
đình không có tường bao, tạo nên sự thông thoáng, cởi mở. Hệ thống đường xá đều
đã được đầu tư bê tông hoá với 3 trục đường chính và các nhánh đường xương cá
song song với nhau. Bao bọc lấy bản là 2 con suối: Suối Mùn và xuối Xia. Bản Lác
nhỏ xinh như một hòn đảo nằm giữa thung lũng.
Theo lời kể lại của người dân, thời bao cấp, người dân ở bản rất nghèo, điều
kiện canh tác khó khăn, nguồn nước tưới tiêu vào mùa hạn rất khan hiếm. Người
dân thường phải đắp đập dẫn nước về bản. Đến mùa lũ, đập lại bị cuốn trôi. Theo
nhiều thầy địa lý phán thì mảnh đất này rất khó khăn, không tốt cho việc định cư
nên người dân không thích ở lại đây. Sau khi Nhà nước thực hiện một số chương
trình hỗ trợ như: Chương trình 134, Chương trình 135 đời sống của người dân
cũng đỡ khó khăn phần nào.
Thiên nhiên phú cho vùng đất này khí hậu mát mẻ, trong lành, nhờ vậy, nước
da của người dân ở đây rất trắng trẻo, hồng hào. Hình ảnh người con gái Thái ngồi
dệt bên khung cửi đã làm say lòng bao du khách, mỗi khi về bản, khiến họ không thể
không trở lại vùng đất này lần thứ hai, thứ ba và nhiều hơn nữa.
Cũng giống như ở Sả Séng, Bản Lác sở hữu những con suối thơ mộng, và cả
những cái hang tự nhiên dưới lòng núi đá được người dân địa phương gán cho nhiều
huyền tích, làm cho du khách bị hấp dẫn bởi những câu chuyện gợi nhớ về thuở khai
thiên lập địa của loài người. Đạp xe trên những con đường nhỏ gập ghềnh quanh co và
nhìn ngắm phong cảnh hữu tình của những bản làng Thái định cư với những nếp nhà
sàn khói lên nghi ngút trên không gian xanh thẳm của núi rừng mỗi khi chiều về chính
là một thú vui khôn tả của du khách nước ngoài mỗi khi đến với bản Lác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status