ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VÙNG NÚI PHÍA
BẮC VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai và
bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
Tây Bắc 16
1.2. Văn hóa tộc người với tư cách là một nguồn tài nguyên nhân văn của du lịch
cộng đồng 24
1.3. Sự hình thành loại hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác (Hòa Bình) và Sả Séng
(Lào Cai) 43
Chương II. Du lịch cộng đồng và tác động kinh tế - môi trường ở địa phương.
. 54
2.1. Dịch vụ du lịch tại cộng đồng . 54
2.1.1. Dịch vụ nhà nghỉ và loại hình du lịch tại gia (homestay) 54
2.1.2. Sản xuất và tiêu thụ sản vật địa phương 58
2.1.3. Dịch vụ ẩm thực trong du lịch cộng đồng. 67
2.1.4. Quảng bá, môi giới và hướng dẫn viên du lịch . 69
2.2. Tác động kinh tế 72
2.2.1. Du lịch cộng đồng và kinh tế hộ gia đình . 72
2.2.2. Du lịch cộng đồng và dịch chuyển cơ cấu kinh tế địa phương . 77
2.2.3. Du lịch cộng đồng và quá trình đô thị hoá ở miền núi 81
2.3. Tác động lên môi trường sinh thái 86
2.3.1. Nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương . 86
2.3.2. Nguy cơ rác thải và ô nhiễm môi trường 88
2
Chương III. Du lịch cộng đồng và tác động lên đời sống văn hoá - xã hội ở địa
phương 9 0
3.1. Văn hoá tộc người trong du lịch cộng đồng. 9 0
3.1.1. Lễ hội cổ truyền và du lịch . 9 0
3.1.2. Lối sống của tộc người và du lịch 9 2
3.1.3. Văn nghệ địa phương và du lịch 9 4
3.2. Tác động của du lịch lên đời sống văn hoá - xã hội địa phương 96
3.2.1. Bản sắc văn hoá tộc người . 96
3.2.2. Tình hình an ninh, chính trị 119
dạng sắc màu văn hoá.
Chính vì thế, nhiều năm qua lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến tham
quan, nghỉ dưỡng tại các điểm du lịch ở các tỉnh miền núi phía Bắc ngày càng tăng
Nhưng một thực tế là, bên cạnh đem lại lợi ích cho các công ty du lịch, góp phần
tăng trưởng kinh tế cho các địa phương, thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ, đẩy
nhanh quá trình đô thị hoá…, sự phát triển du lịch miền núi cũng đã và đang đặt ra
nhiều bất đề bất cập. Đó là các tác động tiêu cực đến môi trường, sự mai một của các
yếu tố văn hoá truyền thống, an ninh, chính trị, tệ nạn nghiệt hút, mại dâm… Đặc biệt
sự hưởng lợi từ hoạt động du lịch của người dân địa phương không được là bao.
Trước đây mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến mảng đề
tài này. Có thể khái quát thành bốn nhóm chính:
- Các công trình nghiên cứu sâu về các khái niệm và lý luận về loại hình du
lịch cộng đồng;
- Các nguồn tài liệu quảng bá du lịch cộng đồng thông qua lăng kính của
truyền thông đại chúng và quảng cáo du lịch;
- Các nghiên cứu định hướng chính sách phát triển du lịch bền vững;
- Các nghiên cứu học thuật về mối liên hệ giữa văn hóa tộc người địa phương
và du lịch cộng đồng.
Tuy nhiên, khuynh hướng chủ đạo của các công trình đã có là hướng đến đề
xuất chính sách phát triển du lịch bền vững hoặc xem xét lịch sử hình thành và phát
triển văn hóa vùng núi trong một viễn cảnh lịch sử và ở tầm vĩ mô. Có thể nhận thấy
hai khiếm khuyết phổ biến của các nghiên cứu đã có là:
4
- Nặng về thiên kiến chủ quan của người nghiên cứu trong khi tiếng nói của chủ
thể du lịch cộng đồng là người dân địa phương lại ít được quan tâm xem xét;
- Còn thiếu các nghiên cứu sâu ở từng trường hợp cụ thể và đặc biệt là những phân
tích tác động kinh tế - xã hội của loại hình du lịch cộng đồng còn thiên về lý thuyết hơn là
được phát triển từ những tư liệu thực địa được thu thập một cách có hệ thống.
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Du lịch cộng đồng ở vùng núi phía Bắc Việt
Chương 3: Du lịch cộng đồng và tác động kinh tế - môi trường ở địa phương
Chương 4: Du lịch cộng đồng và tác động lên đời sống văn hoá - xã hội ở địa
phương Chương 1
TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA VÙNG NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM VÀ
SỰ HÌNH THÀNH LOẠI HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở SẢ SÉNG (TẢ PHÌN, SAPA,
LÀO CAI) VÀ BẢN LÁC (CHIÈNG CHÂU, MAI CHÂU, HOÀ BÌNH)
1.1. Cảnh quan sinh thái với tư cách là một nguồn tài nguyên du lịch
của vùng núi Tây Bắc
Nội dung Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai
Bản Lác, Chiềng Châu,
Mai Châu, Hoà Bình
Vị trí địa lý,
địa hình
- Lào Cai cách Thủ đô Hà N
ội
338km, có cửa khẩu thông th
ương
với Trung Quốc. Sapa là m
ột trong
nh
ững điểm du lịch nổi tiếng, hấp
dẫn của Lào Cai v
ới nhiều điểm du
lịch cộng đồng hấp dẫn, giàu b
n
núi và nhiều dòng thác bạc b
ọt
tung trắng xoá.
- Các bản làng du lịch nằm ở
thung
lũng với những vạt nương định
canh,
những cánh đồng lúa nư
ớc hai vụ
cho năng suất cao nhờ kỹ thuật đi
ều
khiển nguồn nước suối n
ơi chân núi
làm nên một phong cảnh hữu t
ình
của non nước.
Khí hậu
- Khí h
ậu ôn đới với sự hội tụ của 4
mùa trong ngày. Đặc biệt, v
ào
những ngày đông l
ạnh giá, du
khách còn đư
ợc ngắm cảnh tuyết
rơi.
- Chịu ảnh hưởng của chế độ
gió
mùa tây bắc, chia th
ịnh
canh đem đ
ến cho du khách thấy
một nét đẹp khác của tự nhiên đã b
ị
chinh phục và phá vỡ ở n
ơi đây.
Đây chính là nguồn cung
ứng thực
ph
ẩm dồi dào cho du khách lưu l
ại
nơi này trong đó cá suối là m
ột sản
vật địa phương không th
ể thiếu
trong mỗi bữa ăn đãi khách.
Như vậy, xét về điều kiện tự nhiên, bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu dường như
không thật phong phú, hấp dẫn như ở Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, nhưng trên thực tế, du
lịch ở bản Lác lại phát triển không thua kém gì Sả Séng, phải chăng, sức hút du lịch của
bản Lác lại chính là nguồn tài nguyên văn hoá nhân văn rất phong phú và đa dạng mà
người Thái vẫn lưu giữ được gần như nguyên vẹn.
7
1 2. Văn hóa tộc người với tư cách là một nguồn tài nguyên nhân văn của
du lịch cộng đồng
Nội dung
văn hoá
Nhà có tư
ờng đất, dựng ở sườn núi.
Trang phục có gam màu nóng n
ổi trội,
màu đỏ kết hợp màu vàng, màu tr
ắng
nổi bật lên màu chàm, s
ử dụng kỹ
thuật thêu và ghép vải màu để tạo n
ên
trang phục.
Ngư
ời Dao ăn gạo tẻ, uống rư
ợu ngô,
rượu thóc là chính. Ngư
ời Dao ít quan
tâm đến kỹ thuật, chất lượng món ăn.
Nhà sàn, d
ựng ven thung lũng
Trang ph
ục của phụ nữ Thái trắng
gồm áo sửa cỏm v
à váy đen bó sát
người cùng với chiếc khăn piêu t
ạo
nên vẻ thanh nhã, duyên dáng c
ủa
cao
Lễ tết nhảy, tết cơm mới và t
ục cấp
sắc là nh
ững lễ, tục có ý nghĩa quan
trọng đối với người Dao đỏ…
Rất mến khách và có tính c
ộng đồng
cao
Hội Chá chiêng, hội xên bản x
ên
mường, tết cơm mới… là nh
ững sinh
hoạt cộng đồng nổi bật của ngư
ời Thái
trắng…
1.3. Sự hình thành loại hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác (Hòa Bình) và Sả Séng
(Lào Cai)
Nội dung
Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu,
Mai Châu, Hoà Bình
Sự hình
thành
DLCĐ
Sả Séng, Tả Phìn nằm trên tuy
ến du
hướng dẫn nghiệp vụ…
Chính quyền huyện, tỉnh có đầu t
ư
phát tri
ển DLCĐ bản Lác song c
òn
khiêm tốn. Nguồn vốn đầu tư c
ủa các
tổ chức phi chính phủ thì gần nh
ư
không có. S
ự phát triển DLCĐ ở bản
Lác chủ yếu từ vốn tự đầu tư và s
ự
năng động của người dân địa phương
Qua những nghiên cứu, đánh giá trên, ta có thể rút ra một vài nhận xét so sánh về
tình hình, hiện trạng phát triển du lịch tại Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai và bản Lác,
Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình như sau:
1- Về chính sách phát triển du lịch, cả Lào Cai và Hoà Bình đều được xác định là
một trong những điểm du lịch lớn của đất nước, có nhiều tiềm năng để khai thác, phát triển
9
loại hình du lịch sinh thái văn hoá hay du lịch cộng đồng. Sả Séng, Tả Phìn, Sapa và bản
Lác, Chiềng Châu, Mai Châu là một trong những điểm du lịch làng bản, du lịch cộng đồng
nổi tiếng của hai tỉnh, có nền tảng phát triển du lịch khá lâu đời. Song xét về mức độ quan
tâm đầu tư cho phát triển du lịch thì Tả Phìn, Sapa, Lào Cai có nhiều chính sách ưu tiên và
quan tâm tới phát triển du lịch sớm hơn, toàn diện hơn Mai Châu, Hoà Bình. Các cấp chính
quyền ở Mai Châu, Hoà Bình dường như thụ động, không tham gia tích cực vào hoạt động
du lịch của bản. Ở Tả Phìn, Sapa, chính quyền địa phương rất năng động và giữ vi trí thiết
yếu trong sự phát triển du lịch của cộng đồng. Thành viên Hội chữ thập đỏ và Trung tâm
Vùng núi Tây Bắc Việt Nam được xem là địa bàn giàu có về cả hai loại hình tài nguyên
du lịch nói trên. Chính sự đa dạng và phong phú của hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn đã góp
phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của loại hình du lịch sinh thái tại khu vực này. Bản
Lác của người Thái Mai Châu và bản Sả Séng của người Dao Đỏ Sapa có thể được xem là
những mô hình du lịch dựa vào cộng đồng được phát triển tương đối sớm ở Việt Nam và vẫn
đang là những điểm đến của du khách trong và ngoài nước. Chính sự tương tác giữa con người
với hệ sinh thái đã tạo nên cảnh quan du lịch và nét đặc sắc của văn hóa tộc người do đó đã trở
thành một thứ hàng hóa đặc biệt trong hoạt động du lịch cộng đồng.
Chương 2
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ TÁC ĐỘNG KINH TẾ - MÔI TRƯỜNG
Ở ĐỊA PHƯƠNG
2.1. Dịch vụ du lịch tại cộng đồng
Dịch vụ Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu,
Mai Châu, Hoà Bình
Nhà nghỉ tại gia
06/99 hộ dân làm ngh
ỉ nghỉ tại gia
(chiếm 06%). Công năng nhà ngh
ỉ:
10-15 khách/nhà. Giá d
ịch vụ trung
bình: 40.000 đồng/người/đ
êm. Gia
đình không ph
ải đóng thuế do khách
về bản đã ph
ập
CLB, sản xuất tập trung, tiêu th
ụ qua
các cơ sở đầu mối tại các địa ph
ương,
trong đó Craflink tại Hà Nội là m
ột
trong những đầu mối chính.
- Sản xuất và tiêu th
ụ thuốc tắm cổ
truyền dưới nhiều hình thức: t
ư nhân
(3 gia đình) và thành l
ập công ty cổ
ph
ần Sapa Napro.
- Trồng và bán thảo quả dưới h
ình
thức nhỏ lẻ gia đình
- Mở gian trưng bày bán s
ản phẩm
tại chính ngôi nhà của mình (chi
ếm
80% các gia đình trong b
ản).
Thành l
ập CLB sản xuất thổ cẩm,
Cơ sở bảo trợ xã h
ội nhân đạo
Thuận Hoà do m
ền thống của dân tộc
như: thịt sấy khô trên gác bếp, thịt g
à
đen, lợn cắp nách và đặc biệt là rư
ợu
thóc Tả Phìn
- Ở bản Lác, loại hình dịch vụ n
ày
phát tri
ển sôi động hơn. Giá dịch
vụ trung bình 50 -
80.000
đồng/bữa/người, doanh thu ước đ
ạt
15-20 triệu đồng/tháng
Món ăn gồm: thịt thú rừng (ho
ẵng,
cầy, lợn rừng…); các loại thú nuôi
(cá dầm xanh, gà đồi ) và các lo
ại
rau: su su, cải mèo, khoai sọ
, măng
rừng; Cơm lam, sôi đồ; Rư
ợu cần,
rượu Mai Hạ
Quảng bá,
hướng dẫn du
lịch
- Ngư
ịch vụ môi giới với lái xe ôm,
HDV du lịch…
- Bản Lác ch
ưa có ai làm HDV du
lịch mà chỉ có một số gia đ
ình cung
cấp dịch vụ chỉ đư
ờng khi khách có
nhu cầu
2.2. Tác động kinh tế.
2.2.1. Tác động lên kinh tế hộ gia đình
- Bảng so sánh lực lượng lao động tham gia vào hoạt động du lịch tại Bản Lác
và bản Sả Séng
STT Loại hình
Tỷ lệ người tham gia
Bản Lác Bản Sả Séng
1 Sản xuất và bán hàng thổ cẩm
80% dân số
70% dân số
2 Dịch vụ nhà nghỉ homestay
21,8% hộ gia đình
6% hộ gia đình
3 Tham gia đi tour du lịch
Trên 5% dân số
1,8% dân số
4 Chở xe ôm 1,2% dân số 2,7% dân số
đình tại bản Lác và Sả Séng
Bản Lác Bản Sả Séng
Thu nhập
Từ du lịch
Thu nhập từ nông, lâm
nghiệp
Thu nhập
từ du lịch
Thu nhập từ
nông, lâm nghiệp
Tỷ suất (%) Số hộ
gia đình
Tỷ suất
(%)
Số hộ
Gia đình
Tỷ suất
(%)
Số hộ
gia đình
Tỷ suất
(%)
Số hộ
gia đình
90-100 3 80-100
2 90-100 1 80-100 4
70-90 4 60-80 3 70-90 6 60-80 6
Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu, Mai
Châu, Hoà Bình
Chuyển
dịch cơ
c
ấu kinh
tế địa
phương
Nông nghi
ệp được đầu tư phát tri
ển
theo hướng sản xuất hàng hoá
Nhiều nghề thủ công truyền thống
được khôi phục. Xuất hiện hiìh th
ức
sản xuất dư
ới dạng tập thể, công ty cổ
ph
ần
Ho
ạt động dịch vụ vu lịch phát triển
và chiếm ưu thế trong thu nhập
S
ản xuất nông nghiệp phát triển, trở
thành ngu
ồn cung cấp LTTP chính
cho du lịch
Nhi
Du lịch phát triển một mặt đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về
bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường sinh thái xanh sạch đẹp, nhà cửa gọn gàng,
ngăn nắp. Ngược lại, sự tăng nhanh lượng khách về bản cũng kéo theo nhiều vấn đề
về môi trường nảy sinh, đặc biệt đó là sự quá tải của hệ thống cơ sở hạ tầng, nhu cầu
lương thực thực phẩm… gây ra nhiều bất cập với môi trường.
Tác động Bản Sả Séng Bản Lác
Nguy cơ cạn kiệt
tài nguyên thiên
nhiên
- C
ạn kiệt nguồn thuốc
quý. Suy giảm các lo
ài
đ
ộng, thực vật trong tự
nhiên như phong lan, n
ấm
hương, lợn rừng…
- Cạn kiệt các loài đ
ộng, thực
vật trong tự nhiên như: l
ợn
rừng, gà đ
ồi, chim cút, lửng,
gấu đất, măng rừng
Nguy cơ ô nhiễm
môi trường
- Tình tr
ạng xả thải bừa
bãi gây mất mỹ quan l
cộng đồng đã làm hạn chế đế thu nhập của người tham gia dịch vụ du lịch và làm
cho thu nhập của họ trở nên bấp bênh hơn.
Chương 3
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ TÁC ĐỘNG LÊN ĐỜI SỐNG
VĂN HOÁ - XÃ HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG
3.1. Văn hoá tộc người trong du lịch cộng đồng
Văn hoá tộc người là một trong những nguồn tài nguyên quý giá, tạo nên sức
hấp dẫn kỳ lạ đối với du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng. Người Dao
đỏ ở Sả Séng và người Thái ở bản Lác còn bảo lưu nhiều vốn văn hoá có giá trị thể
hiện ở các yếu tố:
- Lễ hội cổ truyền
- Lối sống tộc người
- Văn nghệ địa phương và kho tàng văn học dân gian
Tất cả những giá trị đó đã được người dân địa phương khai thác phục vụ khách du
lịch và tạo ra những thay đổi rõ rệt lên toàn bộ đời sống văn hoá tộc người
3.2. Tác động của du lịch lên đời sống văn hoá - xã hội địa phương
* Bản sắc văn hóa tộc người thay đổi:
- Nhà ở: Từ không gian riêng của gia đình đến không gian của một nhà khách
cho người lạ.
- Trang phục truyền thống dần bị mai một trước làn sóng Âu hoá, Kinh hoá.
- Văn hoá ẩm thực có nhiều thay đổi, hướng đến phục vụ nhu cầu của khách
du lịch.
- Từ các hình thức diễn xướng dân gian của cộng đồng đến các hoạt động văn
hoá văn nghệ có tính thương mại phục vụ khách du lịch.
- Ngôn ngữ dân tộc và xu hướng sử dụng song ngữ và đa ngữ. Tiếng Việt và
tiếng Anh được người dân sử dụng thành thạo hơn, đặc biệt là người Dao đỏ.
17
- Quan hệ xã hội truyền thống, cả quan hệ gia đình, dòng họ, quan hệ cộng
nhà đã được mở rộng hơn nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách.+ Do sự lên án
gay gắt của cộng đồng, dịch vụ tình dục không có cơ hội diễn ra tại cộng đồng mà
được di chuyển đến vùng trung tâm, đó là Thị trấn Mai Châu và Thị trấn Sapa, hoạt
động dưới nhiều hình thức trá hình
- Mai Châu có trên 200 người nhiễm HIV, người chết gần 100 người. Trọng
điểm của HIV/AIDS là Thị trấn Mai Châu, xã Mai Hạ và xã Chiềng Châu. Chiềng
Châu, người nhiễm HIV/AIDS chủ yếu tập trung ở các bản Mỏ, Nông Cụ và Chiềng
Châu. Bản Lác chỉ có duy nhất một trường hợp mắc nghiện, là người từ bản khác
chuyển về.
- Ở Tả Phìn, Sapa, có một vài trường hợp nghiện ma tuý do truyền thống để
lại (ngày xưa người H'mông, Dao thường trồng cây thuốc phiện để sử dụng) nhưng
nay những người đó đều đã già và mất. Một trường hợp nghiện khác, đó là một
thanh niên người dưới xuôi lên làm ăn và lập nghiệp. Nhưng hiện tượng quan hệ tình
dục với khách du lịch đã xuất hiện ở Sả Séng. Trong số 15 em của xã Tả Phìn lên
Sapa bán hàng thổ cẩm, làm hướng dẫn viên du lịch đã có tới 3 em lỡ có bầu và
không dám trở lại thôn bản
Qua những phân tích trên cho thấy, hiện tượng quan hệ tình dục ngoài cộng
đồng, hiện tượng nghiện hút ma tuý Mai Châu và Sapa là có thực và nó đang diễn ra
ngày càng rõ rệt. Song nếu ở Tả Phìn đã xuất hiện một số thành viên bị lôi cuốn vào
những tác động tiêu cực do du lịch đem lại, do gia đình, cộng đồng và chính quyền
địa phương chưa có biện pháp can thiệp và xử lý thì ở bản Lác, hiện tượng nghiện
hút, quan hệ mại dâm không xuất hiện từ bản thân cộng đồng và nhanh chóng bị tính
cố kết của cộng đồng chế ngự và tiêu diệt.
Tiểu kết
Tác động rõ rệt nhất của du lịch cộng đồng trong lĩnh vực văn hóa xã hội là xu
hướng khôi phục các lễ hội phong tục tập quán và diễn xướng truyền thống của cộng
đồng mà một trong những mục đích là nhằm làm tăng thêm sắc mầu văn hóa, hấp
dẫn du khách tại cộng đồng. Có thể nói, chính văn hóa tộc người đã được người dân
địa phương sử dụng như một hàng hóa du lịch mà người tiêu thụ hàng hóa ấy là du
khách.
danh du lịch lưu trú tại cộng đồng. Chính người dân địa phương đã chủ động phát
20
triển, tự tìm kiếm thị trường và liên kết với các hãng lữ hành. Người dân và bộ máy
quản lý địa phương đóng vai trò quan trọng trong quản lý và tạo điều kiện cho hoạt
động du lịch và làm dịch vụ. Ngược lại, chính quyền các cấp địa phương từ xã,
huyện đến tỉnh đều rất thụ động trong việc trợ giúp phát triển loại hình du lịch này.
Đặc biệt, các cộng đồng như bản Lác và ngay cả các bản du lịch ở Sa Pa cũng ít
nhận được sự đầu tư của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ song du lịch cộng
đồng ở các bản này vẫn phát triển. Ở Bản Lác, tỷ lệ người dân được hưởng lợi trực
tiếp từ các hoạt động du lịch cộng đồng khá cao. Nguyên nhân là do nhận thức của
chính người dân địa phương trong việc tạo ra một cơ cấu tổ chức và quản lý cộng
đồng chặt chẽ trong cung cấp dịch vụ du lịch. Ở Sả séng, du lịch cộng đồng xuất
hiện muộn hơn và được phát triển theo kiểu áp đặt từ trên xuống, người dân bị thụ
động trong tổ chức hoạt động du lịch do bộ máy chính quyền địa phương và các
hãng lữ hành can thiệp quá sâu vào hoạt động du lịch, làm mất vai trò chủ động của
cộng đồng. Lợi ích của người tham gia hoạt động du lịch ở Sả Séng không ổn định,
hay nói cách khác, họ giống như những người đứng ở bên lề của loại hình du lịch
cộng đồng, trở thành người bán rong sản phẩm thủ công trên chính làng bản của
mình. Có thể nói mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại bản Lác thể hiện tính bền
vững, hiệu quả hơn so với mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại Sả Séng mà
nguyên nhân chính là vai trò chủ động của người dân địa phương trong tổ chức cung
cấp dịch vụ du lịch.
3. Mức độ tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch tại bản
Sả Séng và bản Lác có nhiều điểm tương đồng và dị biệt. Người Dao đỏ ở Sả Séng
và người Thái ở bản Lác đều tham gia rất sớm và mạnh mẽ vào hoạt động du lịch
thông qua việc biến nhiều di sản văn hoá thành sản phẩm du lịch song mức độ và
tính chất tham gia có sự khác nhau giữa các cộng đồng. Nếu như ở bản Lác, mỗi nhà
sàn là một gian trưng bày, giới thiệu sản phẩm truyền thống của dân tộc thì ở Sả
Séng, các gùi hàng đeo trên lưng mỗi người phụ nữ Dao đỏ bán hàng rong đóng vai
trò như là một không gian thu nhỏ trưng bày và bán các sản phẩm địa phương. Họ
Séng và bản Lác, một vài khuyến nghị được đề xuất nhằm góp phần giải quyết mối tình
trạng lưỡng lan giữa quá trình phát triển du lịch và bảo tồn văn hoá
22
Thứ nhất, cần đề cao vai trò của cộng đồng ở các điểm du lịch để họ thực sự
trở thành chủ nhân của điểm du lịch đó. Các doanh nghiệp cần quan tâm chia sẻ lợi
ích công bằng cho cộng đồng cư dân địa phương dưới các hình thức khác nhau và có
thể tổ chức đầu tư chiều sâu vào hoạt động du lịch ở cộng đồng vì đây là nơi mang
lại cho họ lợi nhuận.
Thứ hai, cần đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch, các dịch vụ du lịch thấm
đậm yếu tố văn hoá truyền thống dân tộc, đảm bảo độc đáo, hấp dẫn, có sức thu hút
lớn đối với du khách. khôi phục và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc,
hạn chế tối đa quá trình thương mại hoá văn hoá và khai thác các giá trị văn hoá có
mục đích và ý thức, gắn liền khai thác với bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc là điểm
mấu chốt của phát triển du lịch bền vững.
Thứ ba, đầu tư phát triển du lịch cộng đồng tại các địa phương cần có sự
hướng dẫn, tổ chức, quản lý theo các quy định thống nhất. tăng cường sự đầu tư trở
lại cộng đồng của các tổ chức, doanh nghiệp, các cấp chính quyền, đảm bảo sự phân
đều lợi ích cho cộng đồng, bởi họ chính là chủ nhân của nền văn hoá ấy, họ phải
được hưởng quyền "tác giả" bản quyền văn hoá của dân tộc mình.
Thứ tư, tăng cường công tác quảng bá xúc tiến du lịch tại các điểm đến, thông
qua quá trình hợp tác công bằng giữa cộng đồng với các công ty du lịch.