Định canh định cư ở miền núi phía Bắc Việt Nam qua nguồn tài liệu lưu trữ (1968-1990 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TR
ƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ LÊ ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC
VIỆT NAM QUA NGUỒN TÀI LIỆU LƯU TRỮ
(1968-1990)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
LU
ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ NG
ƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN VĂN CHÍNH HÀ N
ỘI – 2010
MỤC LỤC

DẪN LUẬN

6
1. Cơ sở khoa học của đề tài…………………………………………


37
Chương 2. CHÍNH SÁCH ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ QUA NGUỒN TÀI
LIỆU LƯU TRỮ……………………………………………………

38
2.1. Quan điểm của các nhà làm chính sách về nền kinh tế nương rẫy du
canh…………………………………………………………………………

38
2.2. Định canh định cư như một chiến lược phát triển miền núi44
2.3. Nghị quyết 38/CP và nội dung cuộc vận động ĐCĐC

47
2.4. Tổ chức bộ máy thực hiện định canh định cư 54
Tiểu kết chương 2…………………………………………………………
58

Chương 3. THỰC HÀNH ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ Ở MIỀN NÚI PHÍA
BẮC (1968-1990) …………………………………………………

60
3.1. Định canh định cư từ lí thuyết đến thực hành ………………………

60

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- CNXH Chủ nghĩa xã hội
-
ĐCĐC Định canh định cư
-
ĐCDC Định canh du cư
- DCDC Du canh du c
ư
- H
ĐBT Hội đồng Bộ trưởng
- H
ĐND Hội đồng Nhân dân
- HTH H
ợp tác hóa
- HTX H
ợp tác xã
- KTM Kinh t
ế mới
- KT-XH Kinh t
ế – Xã hội

Bảng 1.4. Dân số và địa bàn thuộc diện vận động ĐCĐC năm 1968 tại
17 tỉnh phía Bắc
35-36Bảng 3.1. Các giai đoạn thực hiện chính sách ĐCĐC ở Việt Nam 63-64

Bảng 3.2: Công trình thủy lợi của Nhà nước đã hoàn thành và đưa vào
sử dụng
74-75

Bảng 3.3. Phát triển chăn nuôi gia súc ở miền núi phía Bắc từ 1976 –
1990
78

Bảng 3.4: Tỷ lệ học sinh đi học so với dân số của dân tộc mình (%) 80

Bảng 3.5: Tình hình diễn biến số học sinh của sáu tỉnh biên giới qua
một số năm học
80

Bảng 3.6: Kết quả thực hiện ĐCĐC đến 1990 vùng cao phía Bắc 85-86

Bảng 3.7: Số người ĐCĐC qua các năm 1965 – 1983 88

Bảng 3.8: Kết quả công tác chỉ đạo thực hiện phương án ĐCĐC từ
1968 đến 1971
89

Bảng 3.9: Tình trạng số người còn Du canh du cư và Định canh du cư


Hộp 3.1. Tiếng nói của người dân không muốn xuống núi 66

Hộp 3.2. Tiếng nói của người dân không muốn xuống núi 2 66-67

Hộp 3.3. Quá trình chuyển đồng bào xuống thấp 68

Hộp 3.4. Những khó khăn khi người dân xuống núi thực hiện ĐCĐC 69

Hộp 3.5. Khó khăn của đồng bào miền núi khi làm ruông nước 72

Hộp 3.6. Việc xây dựng HTX ở các vùng thực hiện ĐCĐC 94

Hộp 3.7: Những lo lắng của người dân trước việc thực hiện phát huy
ba thế mạnh miền núi, xem nhẹ lương thực.
103-104

Hộp 3.8. Việc khó khăn trong giải quyết lương thực ở miền núi Nghệ
An
105-106


du canh du cư; bảo vệ môi trường sinh thái miền núi; cũng như đảm bảo an ninh
quốc phòng. Nghị quyết 38/CP (12/3/1968) của Hội đồng Chính phủ được xem như

1
Xem Đỗ Đình Sâm, 1994
một mốc chính thức bắt đầu cho chương trình đi vào hoạt động rầm rộ với qui mô
rộng lớn ở miền Bắc Việt Nam, và từ sau năm 1975 mở rộng trên phạm vi toàn
quốc, với trọng trách to lớn là thực hiện thành công những kế hoạch phát triển đất
nước của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong thời đại mới.

Vấn đề ĐCĐC trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng, đã thu hút được
sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều học giả trong và ngoài nước. Nhìn lại các
nghiên cứu về chủ đề này ở Việt Nam, ta thấy có hai khuynh hướng tương đối nổi
bật. Nhóm thứ nhất chủ yếu tập trung quan sát và mô tả nền kinh tế nương rẫy như
một hệ thống canh tác của các cư dân miền núi và tìm hiểu những đặc điểm văn hóa
– xã hội của các cư dân gắn với hệ thống canh tác này. Có thể nói hầu hết các mô tả
về nền kinh tế du canh, các tập quán, kinh nghiệm sản xuất và nghi lễ liên quan đều
do các nhà dân tộc học thực hiện trên cơ sở phương pháp nghiên cứu điền dã. Nhóm
thứ hai có khuynh hướng nhấn mạnh vào những quan tâm đến chính sách phát triển,
chủ yếu là đề xuất chính sách và xây dựng mô hình để hạn chế kinh tế du canh và
phát triển mô hình định canh định cư. Các nghiên cứu thuộc về nhóm này chủ yếu
do các nhà hoạch định chính sách, kinh tế môi trường và nông nghiệp thực hiện.
Điều đáng lưu tâm là hai khuynh hướng nghiên cứu này ít khi thừa hưởng thành quả
nghiên cứu của nhau, hay nói cách khác, họ ít khi làm việc cùng nhau để xây dựng
một chính sách có tính tổng thể. Có lẽ đây cũng là lý do tại sao những kiến thức về
kinh tế nương rẫy du canh lại được hiểu khác nhau bởi các nhóm nghiên cứu khác
nhau, và do đó, các chính sách được đề xuất thường phiến diện. Hầu hết các nghiên
cứu này đều đã từng sử dụng hoặc trích dẫn các nguồn tài liệu văn kiện, chính sách
hay báo cáo làm cơ sở cho nghiên cứu của mình. Tuy nhiên cho đến nay chưa có
một phân tích nào tập trung vào nguồn tài liệu lưu trữ vô cùng phong phú để hiểu

không phải bao giờ cũng lưu đủ báo cáo hàng năm của tất cả các tỉnh và các năm.

Tuy nhiên, tiếp cận nhân học từ các nguồn tài liệu lưu trữ cũng đặt ra những
thách thức. Trước hết, hệ thống báo cáo và lưu trữ tài liệu về ĐCĐC của Việt Nam
không đầy đủ. Như chúng ta biết, thời kì công tác ĐCĐC được phát động chính là
lúc đất nước đang đối mặt với các cuộc chiến tranh. Do đó có những thông tin được
báo cáo và được đưa vào hệ thống lưu trữ nhưng cũng có nhiều thông tin không
được đưa vào lưu trữ hoặc đã thất lạc. Bên cạnh những báo cáo ở các địa phương,
các ban ngành có thể bị mất mát, nhiều tài liệu cũng không được lưu trữ đầy đủ do
hệ thống quản lí và thực hành thay đổi thường xuyên. Điều này khiến cho nguồn tài
liệu này không phải là hoàn toàn có tính hệ thống. Hơn nữa, cần phải nhận thấy
rằng độ tin cậy của các báo cáo này cũng bị ảnh hưởng bởi thói quen đề cao thành
tích của các cơ quan ban ngành hoặc chưa có đủ điều kiện điều tra khảo sát theo
một phương pháp khoa học nên các báo cáo này còn nặng về cảm tính, ước lượng,
gây khó khăn cho giám định và phân tích định lượng. Tuy vậy, đây vẫn là nguồn tài
liệu duy nhất còn lại phản ánh tương đối đẩy đủ và có tính thời sự nhất về một thời
kì lịch sử đã qua của chương trình ĐCĐC. Vì vậy, chúng tôi tin rằng tài liệu lưu trữ
là một nguồn tài liệu có thể bổ sung cho các nghiên cứu thực địa tiến hành trên quy
mô địa phương hay nhóm tộc người để đạt được hiểu biết toàn diện hơn về quá trình
định canh định cư ở miền núi Bắc Việt nam.

Có thể nói rằng tài liệu lưu trữ là một nguồn tài liệu gốc quan trọng. Hầu
hết các báo cáo đều phản ánh thực tiễn ngay đang xảy ra ở các cấp thực hiện ĐCĐC
từ các cơ quan chính phủ đến các địa phương và được lưu trữ thu thập và đưa vào
hệ thống lưu giữ. Tài liệu này giúp chúng ta hiểu được những gì đã diễn ra trong
quá khứ, những thảo luận, tranh luận, thay đổi và chỉ đạo về định canh định cư,
nhưng cũng bao gồm cả các phản hồi ở tầm địa phương trong quá trình thực hiện.
Mặc dù mức độ tin cậy không phải là tuyệt đối nhưng đó là nguồn tài liệu sống
động và phong phú, có tính lịch sử, giúp tái hiện lại được một thời kì đã qua. Những
tài liệu này cho thấy những gì đã xảy ra và cái cách mà các bên tham gia vào

tồn tại mà không phá hoại sự cân bằng đời sống của rừng, tức là không dẫn đến
việc hủy diệt môi trường sống. Thực ra, đối với các cư dân điển hình cho hình thái
canh tác nương rẫy này, do có nhiều kinh nghiệm nên có thể trụ lâu ở một nơi. Song
họ không thể từ đời này qua đời khác ở yên một chỗ vì dân số tăng và vì qua nhiều
lần quay vòng rừng không tránh khỏi dần suy thoái và cuối cùng cũng trở thành
mảnh đất không thể trồng trọt được” (1975: 11-12)

Những phân tích của Đặng Nghiêm Vạn đã được chấp nhận một cách rộng
rãi và thậm chí nó có ảnh hưởng sâu sắc trong giới học giả lúc bấy giờ. Các nghiên
cứu tiếp theo của các học giả khác về vấn đề này cũng có cái nhìn nhất quán với
những quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn. Có thể nhận thấy các nghiên cứu này hầu
hết là những mô tả dân tộc học về nông nghiệp nương rẫy ở những khía cạnh hay
tộc người cụ thể (Nguyễn Công Minh (1982); Cư Hoà Vần (1988), Nguyễn Anh
Ngọc, 1989a, 1989b), hay nhìn nhận vấn đề ĐCĐC dưới góc độ dân số dân số học
(Lê Duy Đại, 1989)…Các nghiên cứu này hầu hết nhấn mạnh sự cần thiết phải thay
đổi lối sống của các tộc người còn DCDC và sự đúng đắn của chính sách ĐCĐC
của chính phủ. Quan điểm này được xuyên suốt trong các bài tham luận của cuộc
hội thảo về ĐCĐC năm 1984 và thường xuyên được nhấn mạnh trong các bài phát
biểu của các nhà lãnh đạo Việt Nam (Nguyễn Văn Linh, Đồng Sĩ Nguyên, Đàm
Quang Trung, 1990). Có thể nói trong số các nhà dân tộc học Việt Nam, Nguyễn
Anh Ngọc đã dành công sức đáng kể để mô tả về loại hình kinh tế du canh du cư
của các tộc người miền núi phía Bắc, đặc biệt là người Hmong. Trong khi đó, Bùi
Minh Đạo đã có một công trình nghiên cứu sâu về tập quán canh tác trồng trọt
nương rẫy của các cư dân vùng Trường Sơn – Tây nguyên. Các nghiên cứu này đã
mang lại cái nhìn cận cảnh đối với hoạt động nông nghiệp, loại hình trồng trọt
nương rẫy du canh của các tộc người ở Việt Nam.

Đối lập với cách nhìn của các học giả Việt Nam, các nhà nghiên cứu
phương Tây có xu hướng phủ định nỗ lực của Nhà nước trong phát triển miền núi
thông qua chương trình ĐCĐC. Tiếp cận từ quan điểm nhân học chính trị để phân

chống đối, Nhà nước không đánh trả gay gắt mà thay vào đó là tìm cách điều chỉnh
cho phù hợp hơn với địa phương. Đó không phải là quá trình đồng hóa của người
Kinh mà đó là quá trình tương tác giữa các tộc người và các bên tương tác đều có sự
biến đổi cho phù hợp.

Gần đây, nhóm nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Đông – Tây (từ trường
Đại học Hawai và Trung tâm nghiên cứu môi trường (Trường Đại học quốc gia Hà
Nội) cũng đã dành quan tâm đặc biệt tới nông nghiệp nương rẫy ở miền núi phía
Bắc Việt Nam với nỗ lực tìm ra giải pháp cho nền nông nghiệp phát đốt truyền
thống. Các nghiên cứu này tập trung vào việc thích ứng của các tộc người khác
nhau ở rừng núi và vùng cao (Terry Rambo, 1995; Trần Đức Viên, 2003, 2006;
Tran Duc Vien & Collaborators, 2007…). Nhóm tác giả cho rằng chủ trương chính
sách ĐCĐC và phát triển kinh tế xã hội miền núi chỉ được thực thi dưới cái nhìn của
những người miền xuôi mà không chú ý tới và không hiểu đúng về đồng bào vùng
cao. Các chính sách thường được áp dụng chung cho các nhóm người mà không
tính đến đặc trưng vùng dân tộc và kiến thức địa phương. Trong điều kiện có tính đa
dạng cao ở miền núi, không thể có một kế hoạch chung để áp dụng thành công. Và
nhóm nghiên cứu đưa ra gợi ý về giải pháp là kết hợp nông nghiệp nương rẫy truyền
thống với việc đưa các kĩ thuật mới về nông nghiệp trên đất dốc và lúa nước có thể
tạo ra một mô hình có triển vọng cho việc phát triển bền vững miền núi.

Ngoài ra, gần đây cũng có rất nhiều các nghiên cứu tập trung phân tích
DCDC và ĐCĐC trong những tộc người cụ thể. Đỗ Đình Sâm (1994), trong Báo
cáo quốc gia về Nông nghiệp nương rẫy, tiến hành nghiên cứu thực địa tại một số
tỉnh hi vọng rằng nghiên cứu sẽ cung cấp cho các nhà làm chính sách những hiểu
biết sâu hơn về nông nghiệp nương rẫy, đặc biệt là về các loại hình của nó, ít nhất là
phân biệt được loại hình mở và quay vòng. Ông cho rằng chúng ta không nên đổ lỗi
hoàn toàn cho canh tác nương rẫy là thủ phạm của việc mất rừng hay suy thoái đất
mà cũng phải công nhận một điều rằng chúng ta có thể học từ canh tác nương rẫy
quay vòng nhiều cách để sử dụng đất bền vững. Để giải quyết vấn đề, chúng ta

Frontier Formation in the Central Highlands of Vietnam, the 1955-61 period” (tạm
dịch: Bụi dưới sương: Nhà nước và sự hình thành biên giới ở Tây Nguyên Việt
Nam, giai đoạn 1955 – 1961”). Đây là một nghiên cứu tiếp cận vấn đề từ nguồn tài
liệu lưu trữ và nguồn tài liệu chính của luận văn tiến sĩ này được tác giả khai thác
tại trung tâm lưu trữ quốc gia I và chủ yếu là các văn bản của Nhà nước Cộng hòa
Việt Nam đối với vùng Tây Nguyên. Còn công cuộc ĐCĐC ở miền núi phía Bắc
Việt Nam với nguồn tài liệu khá phong phú từ 1968 - 1990 thì chưa được nghiên
cứu nào khai thác và sử dụng.
3. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào công tác ĐCĐC của Nhà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1990, tức là cho đến khi chính
sách ĐCĐC chuyển sang một mô hình mới gắn với các dự án phát triển. ĐCĐC đã
luôn và vẫn đang là một vấn đề nóng của phát triển miền núi. Công tác này đã được
Chính phủ quan tâm ngay từ sau khi miền Bắc giải phóng (1954) và chính thức trở
thành một chương trình quốc gia từ 1968 với Nghị quyết 38/CP của HĐCP. Về cơ
bản, các chính sách ĐCĐC của Nhà nước Việt Nam sau 1954 đều nhấn mạnh
ĐCĐC đi liền với xây dựng lối sống mới và nâng cao mức sống của người dân. Tuy
nhiên, về phương thức tiến hành ĐCĐC thì có sự khác biệt khá rõ từ năm 1990.
Trong những năm 1960 và 1980, chương trình định canh định cư tập trung vào việc
vận động người dân gia nhập hợp tác xã nông nghiệp và làm ăn tập thể hoặc vào
làm trong các lâm nông trường của nhà nước. Từ năm 1990 trở đi, sau khi chế độ
kinh tế tập thể bị thay thế bởi kinh tế định hướng thị trường, các chương trình định
canh định cư vẫn được tiếp tục và dựa vào các dự án đầu tư, kết hợp Định canh định
cư với các chương trình khác như trồng rừng (NQ 327/TTg/1992), phân bố lại dân
cư (NQ số 393/TTg/1992), phát triển kinh tế thị trường ở miền núi (NQ số
20/CP/1998), xây dựng cơ sở hạ tầng ở các xã vùng sâu (CT 135/TTg/1998, và các
chương trình xoá đói giảm nghèo (NQ số 133/CP/1998). Tuy nhiên, trong khuôn
khổ của nguồn tài liệu được tiếp cận và yêu cầu giới hạn của luận văn, trong nghiên
cứu này chúng tôi chỉ tập trung vào giai đoạn định canh định cư dưới bối cảnh của
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (1968-1990).

Như vậy, về mặt thời gian, mặc dù tập trung vào quãng thời gian 3 thập kỷ
ĐCĐC ở miền núi phía Bắc Việt Nam nhưng chúng tôi cũng, trong chừng mực có
thể, mở rộng quan tâm đến thời kỳ trước và sau đó để có cái nhìn so sánh. Về không
gian, giới hạn của nghiên cứu tập trung vào các tỉnh miền núi thuộc khu vực phía
Bắc Việt Nam mà các tài liệu lưu trữ hiện có tại Cục Lưu trữ nhà nước, Trung tâm
Lưu trữ III Hà Nội và các văn phòng của Ban ĐCĐC, Ban ĐCĐC & Kinh tế mới
Bộ lao động, và cơ quan phụ trách hiện nay là Cục Hợp tác xã, Bộ Nông nghiệp.

Về mặt đối tượng và phương pháp nghiên cứu, chúng tôi tập trung thu thập
và phân tích các văn kiện khác nhau, trong đó bao gồm các văn bản chính sách, các
thảo luận của các nhà làm chính sách ở các Cục, vụ, Viện của chính phủ và các báo
cáo của các Bộ, các Ban ngành và đặc biệt là của các địa phương từ cấp xã, huyện
và tỉnh về tình hình thực hiện ĐCĐC. Tất cả các báo cáo liên quan lưu trữ tại các
Phông Phủ Thủ tướng, Các Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Bộ Y tế đều được thu
thập, xử lý và phân tích. Tuy nhiên, các nguồn tài liệu này được tham khảo, đối
chiếu và so sánh với các tài liệu nghiên cứu và mô tả dân tộc học đã có về loại hình
nông nghiệp nương rẫy du canh và quá trình thực hiện ĐCĐC. Trong khi nguồn tài liệu văn bản khai thác từ Cục Lưu trữ và các cơ quan
chính phủ hiện đang lưu giữ các tài liệu về ĐCĐC được xem là nguồn tài liệu chủ
yếu để tiếp cận vấn đề, các mô tả dân tộc học và các báo cáo khảo sát thực địa ở tầm
địa phương có ý nghĩa quan trọng như một nguồn tham khảo không thể bỏ qua để
giúp đạt được cái nhìn toàn diện và sống động hơn.

Các nguồn tài liệu này được xử lý ở cả khía cạnh định tính và định lượng.
Các báo cáo về tình hình thực hiện ĐCĐC của các địa phương, dù không thực sự hệ
thống theo niên đại, đã giúp cung cấp những số liệu tương đối khái quát để đạt được
một cái nhìn có tính phổ quát về định canh định cư ở các tỉnh miền núi phía Bắc
trong 3 thập kỷ (1960-1990). Tuy nhiên, các báo cáo này cũng cho phép tiếp cận từ

1990)
Trên cơ sở phân tích chủ trương chính sách ĐCĐC ở chương hai, Chương này tập
trung vào trình bày các nguồn thông tin về quá trình ĐCĐC ở miền núi phía Bắc
Việt Nam. Chương này tập trung vào phân tích các mô hình định canh định cư như
lập làng tập trung, làm thủy lợi, trồng lúa nước, cây công nghiệp, lâm nghiệp và
phát triển văn hóa giáo dục ở các khu vực ĐCĐC cũng như những phản hồi của
người dân trong quá trình thực hiện chính sách này.

CHƯƠNG 1
MI
ỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ TẬP QUÁN DU CANH DU CƯ CỦA CÁC
DÂN T
ỘC THIỂU SỐ“Miền núi phía Bắc nước ta có một vai trò quan trọng toàn diện đối với cả nước về
kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng và giao lưu quốc tế. Bản thân nó còn đang
chứa đựng những tiềm năng, thế mạnh kinh tế cần được khai thác và phát huy đầy
đủ, hợp lí, có hiệu quả, tương xứng với vai trò, vị trí của nó”
1
1.1. Một số đặc điểm miền núi phía Bắc Việt Nam

Khái niệm “miền núi phía Bắc” được dùng trong luận văn này chủ yếu để chỉ
một vùng địa lý hơn là một vùng kinh tế theo lãnh thổ như được xác định trong các
văn kiện về chiến lược phát triển kinh tế theo lãnh thổ của nhà nước (Đặng Văn
Phan, 2004)
2


Bản đồ 1. Bản đồ hành chính Miền Bắc Việt Nam

Nguồn:
truy cập ngày 11-11-2010
Miền núi phía Bắc phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ, phía bắc và đông bắc giáp
các tỉnh phía nam Trung Quốc, phía tây giáp với Thượng Lào và phía nam giáp với
các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Địa hình miền núi phía Bắc phức tạp với đặc điểm
địa hình của cả miền núi và trung du. Địa hình ở đây núi cao rừng sâu trùng điệp,
dốc đèo khe suối hiểm trở, đi lại rất khó khăn (BYT.2426.1: 1). Đất đai canh tác có
độ dốc cao (xem Bảng 1.1) nên canh tác trên đất dốc hay canh tác nương rẫy là hình
thức sản xuất chủ yếu của các nhóm dân tộc thiểu số nơi đây. Khí hậu miền núi phía
Bắc thất thường với sự phân hóa theo mùa và độ cao đòi hỏi một nông lịch thật hợp
lí thì mới có thể thích ứng được với môi trường. Trên thực tế đồng bào các dân tộc
đã đúc kết được lịch gieo trồng tương đối chuẩn xác và khoa học. Chẳng hạn như
thời điểm đốt nương được đồng bào chọn không phải là tháng có nhiệt độ cao nhất
mà lại là tháng có độ ẩm thấp nhất (tháng 3 dương lịch: độ ẩm 73%) và vừa trải qua
thời kì có lượng mưa ít nhất (các tháng 10, 11, 12, 1, 2). Đốt xong đất nguội là vào
mùa mưa để gieo hạt, cây sẽ nảy mầm và sinh trưởng. Trong khi đó ở vùng Tây
Nguyên đồng bào Ba Na đốt rẫy vào tháng 4 vì mùa mưa ở đây đến muộn hơn (xem
thêm Hoàng Hữu Bình, 1998).

Bảng 1.1. Diện tích các bậc độ cao ở miền Bắc Việt Nam

Bậc độ cao
(m)


Năm 1963 dân số miền núi phía Bắc được xác định là chiếm khoảng 1/5
dân số của toàn miền Bắc (BYT.2426.1: 1). Đây là nơi cư trú của rất nhiều các
nhóm dân tộc thiểu số, 31/54 dân tộc của của nước với số lượng lớn sinh sống phân
tán các vùng núi cao thuộc khu tự trị Việt Bắc, Tây Bắc, miền Tây Nghệ An và một
số tỉnh khác như Phú Thọ, Quảng Ninh (xem Bảng 1.2). Vào đầu những năm đầu
thập kỉ 90 của thế kỉ 20 thì miền núi phía Bắc được xác định có hơn 4,2 triệu người
thuộc dân tộc thiểu số trong số 6,2 triệu người cư trú ở đây (gần 60%) (Viện dân tộc
học, 1993: 20).

Bảng 1.2. Dân số các dân tộc ở miền núi phía Bắc

Số
TT
(1)
Dân tộc
(2)
Dân số (người)
(3)
So v i chính dân
t c ó trong c
n c (%)
(4)
Tổng số 6.856.302 10,65
1 Việt 2.760.827 4,94
2 Tày 1.109.462 93,20
3 Thái 631.137 60,65
4 Nùng 600.305 85,10
5 Hmông 554.815 95,83
6 Mường 466.399 50,99
7 Dao 450.051 94,96


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status