Các dự án phát triển và đô thị hóa ở một xã miền núi phía bắc Việt Nam - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHĂN VĂN
*********** TRƢƠNG VĂN CƢỜNG

CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN VÀ ĐÔ THỊ HÓA
Ở MỘT XÃ MIỀN NÖI PHÍA BẮC VIỆT NAM

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 22 70

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Sửu
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ
CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN VÀ ĐÔ THỊ HÓA Ở KHU
VỰC MIỀN NÚI
7
1.1. Khái niệm và một số vấn đề về đô thị hóa
7
1.1.1. Khái niệm
7
1.1.2. Một số khuynh hướng đô thị hóa
10
1.2. Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam
18
1.3. Phát triển ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam
22
1.3.1. Chính sách phát triển của Nhà nước
22
1.3.2. Các chương trình và dự án phát triển
24
Tiểu kết
29
CHƢƠNG 2: TỔ NG QUAN VỀ XÃ NGHĨ A ĐÔ , HUYỆ N
BO YÊN, TỈNH LÀO CAI
32
2.1. Ngƣời Tày ở xã Nghĩa Đô, huyệ n Bả o Yên, tỉnh Lào Cai
32
2.1.1. Vài nét về người Tày ở Việ t Nam và ở khu vự c m iề n nú i
phía Bc

3.1.1.3. Xây dựng và nâng cấp hệ thống thuỷ lợi
67
3.1.1.4. Phát triển sản xuất và đào tạo nghề
67
3.1.2. Chương trình 135II
68
3.1.3.Một số tồn tại hạn chế Chương trình 135
71
3.2. Chƣơng trình 134
73
3.3. Dự án 661 và Dự án 327
74
3.4. Một số dự án khác
75
Tiểu kết
76
CHƢƠNG 4: QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở X NGHĨA
ĐÔ, HUYỆ N BẢ O YÊN, TỈNH LÀO CAI
78
4.1. Mục tiêu xây dựng và phát triển khu trung tâm
78
4.2. Quá trình xây dựng khu trung tâm xã Nghĩa Đô
80
4.2.1. Sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng
80
4.3. Sự hình thành một thị tứ ở khu vực miền núi vùng cao
86
4.3.1. Một trung tâm hành chính, văn hóa và giáo dục
86
4.3.2. Một trung tâm kinh tế, thương mại và dịch vụ

án phát triển và quá trình đô thị hóa ở một địa bàn cụ thể, đó là xã Nghĩa Đô,
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai trong hơn một thập kỷ vừa qua. Thông qua
nghiên cứu trường hợp này, tôi hy vọng kết quả của luận văn góp phần nhỏ bé
vào việc làm rõ hơn về việc thực hiện các dự án phát triển và mối quan hệ
giữa phát triển với đô thị hóa ở khu vực nông thôn miền núi.
2. Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu đó, nghiên cứu này đặt ra một loạt các câu hỏi nghiên cứu
cụ thể.
Thứ nhất là về những đặc điểm cơ bản về xã Nghĩa Đô:
- Xã Nghĩa Đô được hình thành từ khi nào? Quá trình phát triển dân số
ở đây diễn ra như thế nào? Có bao nhiêu dân tộc cư trú ở địa bàn này, trong
đó dân tộc nào chiếm đa số, dân tộc nào là thiểu số?
- Hoạt động kinh tế chủ yếu của các tộc người dựa là gì, dựa vào các
nguồn lực nào, trong đó trồng trọt, chăn nuôi, rừng có vị trí như thế nào?
- Hoạt động kinh tế tại xã Nghĩa Đô có khác hay giống với các xã xung
quanh như thế nào?
2
- Ngoài hoạt động nông nghiệp, người dân có đi làm các nơi khác
không? Nếu đi làm thuê thì chủ yếu đi những nơi đâu và làm những nghề gì là
chủ yếu?
Thứ hai, về các dự án phát triển:
- Sau khi đổi mới, các dự án phát triển được thực hiện và đẩy mạnh ở
Nghĩa Đô từ khi nào? do ai đưa vào? Quá trình triển khai các dự án này diễn
ra như thế nào? Vốn các dự án là bao nhiêu? Những ai được tham gia hoạch
định dự án? Ai không được tham gia hoạch định? Cuối cùng là người dân tiếp
nhận các dự án như thế nào? Hiệu quả các dự án ra sao?
- Các dự án này có tác động như thế nào đến Nghĩa Đô dưới các khía

trình đô thị hóa ở địa bàn này. Với sự thâm nhập và hiểu rõ hơn các dự án
phát triển ở địa bàn nghiên cứu, tôi cố gắng lắng nghe những gì người dân,
cán bộ nói và giải thích và tập trung quan sát cuộc sống và hoạt động sống ở
khu trung tâm xã, nơi đã và đang hình thành một „trung tâm đô thị‟ hay thị tứ
của khu vực này. Đồng thời, qua đó, tôi cố gắng đưa tiếng nói của những
người trong và ngoài cuộc để chứng minh một vấn đề có nhiều cách, những
quan điểm diễn giải khác nhau.
4.2. Cách tiếp cận
Một vấn đề quan trọng ở đây là cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu. Khi
các dự án phát triển đầu tư vào những vùng khó khăn, đã làm thay đổi các
cộng đồ ng tộ c ngườ i và địa bàn được thụ hưởng dự án. Đối với quá trình đô
thị hóa ở một xã vùng cao dưới tác động của các dự án phát triển, cách giúp
chúng ta phân tích và lý giải những biến đổi đó dưới góc độ không gian và
cấu trúc. Nói cách khác, trong luậ n văn này , tôi sử dụng cách tiếp cận không
gian kết hợp với cách tiếp cận cấu trúc để phân tích những nhân tố tác động
của các dự án phát triển đến quá trình đô thị hóa tại địa bàn nghiên cứu. Tiếp
cận không gian là một hướng nghiên cứu quan trọng để nhận diện quá trình
4
đô thị hóa ở Nghĩa Đô. Ở đây, tôi muốn chứng minh sự thay đổi không gian
sống ở khu trung tâm của xã Nghĩa Đô. Trong đó, sự thay đổi không sống,
hay hẹp hơn là không gian cư trú được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều chiều,
nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ cấu trúc, nếu chúng ta nhìn nhận quá trình đô thị hóa ở
đây dưới góc độ này thì trong cấu trúc ấy có nhiều yếu tố cấu thành để tạo nên
quá trình đô thị hóa. Nếu ta nhìn toàn bộ dân cư ở Nghĩa Đô như một cấu trúc
tổng thể, cấu trúc dân cư được phân bố theo cấu trúc tập trung, trong đó tập
trung chủ yếu từ các bản di chuyển về khu trung tâm. Đó là sự sắp xếp, phân

cứu. Chương này đi sâu vào tìm hiểu các chương trình, các dự án phát triển đã
được thực hiện ở Nghĩa Đô trong suốt những năm qua, trong đó các hạng mục
đầu tư như điện, đường, trường, trạm, nước sạch, vay vốn làm ăn, v.v cùng
với đó là khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ và nhân dân. Sự đầu
tư này đã làm thay đổi căn bản hệ thống cơ sở hạ tầng và đời sống kinh tế
người dân nơi đây.
Chương 4 trình bày về quá trình đô thị hóa ở địa bàn nghiên cứu.
Chương này tập trung vào những tác động của các dự án phát triển điển sự
hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng và chính sách quy hoạch của chính quyền
địa phương nơi đây là nguyên nhân dẫn đến quá trình đô thị hóa ở đây bắt đầu
diễn ra, dù còn ở mức ban đầu. Trung tâm xã Nghĩa Đô trở thành nơi thu hút
dân cư ở các bản trong xã và khắp nơi đến đây định cư và sinh sống. Sự tập
trung này dẫn đến quá trình hình thành một trung tâm thương mại và dịch vụ
ở đây ngày càng phát triển. Sự tập trung dân cư, hình thành khu thương mại
dịch vụ đã ít nhiều tác động đến sự biến đổi cầu trúc nhà cửa, lối sống của
người dân nơi đây, đặc biệt là sự biến đổi trong cấu trúc nhà truyền thống
người mất đi, thay thế vào đó là loại hình nhà mới, nguyên liệu mới.
6

Ngày nay, các nhà khoa học đang nói tới cuộc cách mạng đô thị lần thứ ba
đang diễn ra ở các nước thuộc thế giới thứ Ba. Cuộc cách mạng đô thị lần thứ
ba dường như là sự lặp lại cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai, song với những
nét độc đáo bởi các điều kiện không gian và thời gian mới. Đặc điểm nổi bật
xuyên suốt ba cuộc cách mạng đô thị hóa này là: các dòng di cư mạnh mẽ từ
nông thôn vào đô thị, khiến cho tỷ lệ dân đô thị tăng nhanh, số lượng các đô
thị ngày càng nhiều, các đô thị lớn lên, phình to ra, đời sống dân cư mang
tính đô thị nhiều hơn nông thôn, đô thị đang xâm lấn, bành trướng nông thôn
[35, tr.16].
Ở một khía cạnh khác, nếu tiếp cận theo nhân khẩu học và địa kinh tế,
thì đô thị có thể được định nghĩa: quá trình đô thị hóa là sự di cư từ nông
thôn ra thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều số lượng dân cư sống
trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là đô thị [35, tr.17]. Tuy
8
nhiên, nếu chỉ tiếp cận theo góc độ nhân khẩu thì không giải thích hết được
toàn bộ tầm quan trọng và vai trò của đô thị hóa cũng như các ảnh hưởng của
nó tới sự phát triển của xã hội hiện tại. Cho nên, đô thị hóa như cần được
hiểu là một quá trình kinh tế - xã hội lịch sử mang tính chất quy luật trên quy
mô toàn cầu. Khái quát hơn, đô thị hóa được xem là các quá trình tổ chức lại
môi trường cư trú của con người, ở đó bên cạnh dân số, địa lý môi trường
còn có mặt xã hội, một mặt rất quan trọng của vấn đề [35, tr.17]. Ở một góc
nhìn khác, đô thị hóa là cái không rộng lớn, trên đó diễn ra những biến đổi
to lớn và sâu rộng trong đời sống xã hội, đời sống của các cộng đồng nông
thôn và đô thị [35, tr.16]. Như vậy, đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố
dân cư trong xã hội, mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu trong khuôn mẫu
hành vi, ứng xử vốn là những đặc trưng của người dân đô thị, sự lan truyền
lối sống đô thị hay các quan hệ văn hóa đô thị tới các vùng nông thôn và trên

thương nghiệp có một vị trí quan trọng . Hoạt động buôn bán thương nghiệp
này không chỉ được biểu hiện ở chợ , mà còn ở những khu phố cố định hoặc
bến sông,….  đó trao đổi hàng hoá mang tính thị tr ường, các mặt hàng vừa
có nguồn gốc bản địa, vừa có nguồn gốc bên ngoài. Cấu trúc văn hoá xã hội
của thị tứ có những nét khác biệt có với các làng hoặc bản. Xét về nhiều mặt,
thị tứ là một tụ điểm kinh tế - xã hội nhỏ, vừa mang tính nông thôn, vừa
mang tính đô thị, chứa đựng những yếu tố kinh tế - xã hội cần thiết của đô
thị. Sự xuất hen và phát triển của thị tứ được xếp vào phạm trù của quá trình
đô thị hoá” [14, tr.87-113].
Như vậ y, chúng ta có thể coi đô thị hóa là một quá trình tập trung dân
cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối
với sự phát triển của xã hội, sự chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang các
hoạt động phi nông nghiệp, sự phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, dịch vụ cùng
với sự hình thành những lối sống khác với lối sống nông thôn nông nghiệp.
Trong luận văn này, từ những góc nhìn khác nhau về đô thị hoá ở các địa bàn
10
khác nhau, tôi quan niệm đô thị hóa ở Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào
Cai cần được hiểu là một quá trình trong đó tính đô thị được hình thành và
phát triển dưới tác động của các dự án phát triển, chính sách quy hoạch của
Nhà nước và chính quyền địa phương dẫn đến sự phát triển của hệ thống cơ
sở hạ tầng, thu hút dân cư; xuất hiện trung tâm buôn bán – thương mại và
hình thành một trung tâm văn hóa – du lịch, giáo dục, y tế, làm biến đổi
không gian từ không phải đô thị đã bước đầu trở thành đô thị. Hiể u về đô thị
hóa theo cách này giúp tôi phân tích và lý giải về quá trình đô thị hóa ở Nghĩa
Đô dưới tác động của các dự án phát triển của Nhà nước ở khu vực này trong
những năm vừa qua. Đối lập với quá trình đô thị hoá này là một quá trình đô
thị hóa khác được khát sát ở làng Đồng Kỵ, nơi tính đô thị phát triển bởi

1
, hoặc giao thương và một phần do
thủ công nghiệp. Vì thế, các yếu tố đô, thành, xã, trấn, tứ, tức các yếu tố hành
chính, được thể hiện rõ trong các đô thị, thành thị, thị xã, thị trấn, thị tứ. Các
đô thị được hình thành xung quanh trung tâm hành chính. Cho nên, hiện nay
nhiều đô thị được hình thành dựa trên cơ sở đầu tiên là chức năng hành chính
rồi phát triển to và rộng ra xung quanh không gian đó.
Sự phát triển kinh tế đất nước từ khi đổi mới đã và đang làm hình thành
nhiều đô thị với nhiều cấp độ và quy mô khác nhau, từ các thành phố lớn như
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, đến các thành phố
nhỏ hơn trực thuộc cấp tỉnh, các thị trấn trực thuộc cấp huyện và nhỏ nhất là
các thị tứ ở cấp độ địa phương (làng, xã) ở một số địa bàn trên cả nước. Từ
đó, chúng ta có thể thấy quá trình đô thị hóa, tính đô thị và đặc trưng của nó
không chỉ được biểu hiện ở cấp độ vĩ mô, tức là ở các thành phố hay trung 1
Đô thị Hội An hình thành không phải do chức năng Hành chính. Hay ở trên thế giới có đô thị
Yokoham ở Nhật Bản cũng là đô thị hình thành từ một làng chài, mà không phải từ chức năng hành
chính.
12
tâm đô thị lớn, mà còn diễn ra ở cấp độ vi mô (cấp địa phương) với những
biểu hiện về tính đô thị ở cấp độ nhỏ, ít đậm nét như các quá trình đô thị hóa
ở các trung tâm đô thị lớn. Có thể nói, các quá trình đô thị hóa đã và đang
diễn ra theo ba hướng chính dưới đây.
Thứ nhất, đô thị hóa theo các tuyến thương mại, dịch vụ, tuyến giao
thông đường bộ, đường thủy, đường hàng không. Đây là các tuyến thu hút

Lạc - thị trấn Mai Châu); Sơn La (thị trấn Mộc Châu - thị trấn Yên Châu – thị
trấn Hát Lót huyện Mai Sơn - thành phố Sơn La - thị trấn Thuận Châu); Điện
Biên (thị trấn Tuần Giáo và thị xã Mường Lay
2
).
Quốc lộ 70 Bắt đầu từ Đoan Hùng Phú Thọ đi qua Yên Bái (thành phố
Yên Bái) lên Lào Cai (Phố Ràng - thành phố Lào Cai và đi Bát Xát).
Quốc lộ 279 bắt đầu từ thành phố Hạ Long - thị trấn An Châu (Bắc
Giang) đi qua thị trấn Đồng Mỏ , thị trấn Văn Quan và thị trấn Bình Gia tỉnh
Lạng Sơn, sau đó đi qua thị trấn Chợ Rã tỉ nh Bắc Cạn, tiế p đó đi qua thị trấn
Na Hang củ a tỉ nh Tuyên Quang , rồ i đi đế n thị trấn Việt Quang và thị Trấn
Quang Bình thuộc tỉnh Hà Giang, tiếp tục đi qua thị trấn Phố Ràng và thị trấn
Khánh Yên tỉnh Lào Cai, rồi đi qua thị trấn Than Uyên Lai Châu, cuối cùng là
đi qua thị trấn Tuần giáo - thị trấn Mường Ảng - thành phố Điện Biên Phủ rồi
đi qua Lào. Ngoài ra, còn rất nhiều tuyến đường khác nhau cấp quốc lộ, tỉnh
lộ đã tạo nên những đô thị nhỏ như thị trấn, thị tứ, cụm dân cư ở khắp các
vùng miền núi nước ta, đó là những đô thị vệ tinh của những thành phố, thị
xã. 2
Thị xã Mường Lay hiện nay là một thị xã mới, đượ c xây dự ng lạ i hoà n toà n do toà n bộ thị xã phả i
di dờ i từ năm 2004 để phục vụ việc xây dựng thủy điện Sơn La.
14
Nghiên cứu của TS. Trần Hữu Sơn [53, tr.325] và nghiên cứu của Trần
Thùy Dương [19, tr.26] về tác động của tuyến đường sắt đã cung cấp một ví
dụ minh họa cho xu hướng đô thị hóa này. Các tác giả đã cho thấy vai trò của

tr.10 - 17].
Một nghiên cứu khác của các tác giả Nguyễn Ngọc Nông, Đỗ Thị Lan,
Tạ Thị Thanh Hương năm 2007 về đô thị hóa, phát triển nông thôn và những
tác động đến môi trường khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam đã tập trung
vào vấn đề đô thị hóa đã tác động như thế nào đến đời sống của người dân
trên nhiều phương diện [38, tr.18-25]. Các tác giả Trương Mạnh Hùng và
Phan Thị Hương Quế phân tích về vấn đề đô thị hóa tác động đến đời sống
của người dân và môi trường như: mất đất, thay đổi nghề nghiệp, thay đổi nhà
cửa, thay đổi thu nhập và tác động đến môi trường ở thành phố Lào Cai.
Còn TS. Vi Văn An xem xét về đô thị hóa qua trường hợp nghiên cứu
thị trấn La Bảo, huyện Hưng Hóa, Quảng Trị. Trong đó, tác giả đã nhìn nhận
quá trình đô thị hóa diễn ra như một hệ quả tất yếu của việc xây dựng tuyến
đường hành lang kinh kế với con đường 9 (một phần của tuyến hành lang
kinh tế Đông – Tây dài hơn 300km từ Lào đến Đông Hà, tỉnh Quảng Trị). Nói
cách khác, nhân tố chính dẫn tới quá trình hình thành đô thị ở nơi đây chính là
sự hình thành và phát triển của tuyến đường 9 [1, tr.270-280].
Trong một nghiên cứu khác, Pichet Saiphan đã tìm hiểu về quá trình đô
thị hóa ở Điện Biên, nhấn mạnh đến một số ví dụ về vấn đề đô thị - nông
thôn. Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng đô thị hóa ở Điện Biên phát
triển do những chính sách của Nhà nước được thực hiện ở khu vực này. Bắt
đầu từ chính sách xây dựng và phát triển nông trường đến các chính sách phát
triển kinh tế thị trường sau đổi mới. Tác giả kết luận, sự biến đổi sau đổi mới
là nguyên nhân chính dẫn tới quá trình đô thị hóa mạnh ở Điện Biên [40,
tr.312-326].
16
Tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương nghiên cứu về đô thị Hải Phòng đặc
biệt là lịch sử hình thành và phát triển của nó cho rằng đô thị Hải Phòng được

Vùng Đông Bắc lấy thành phố Thái Nguyên làm trung tâm thì các đô thị
xung quang như thị xã Bắc Cạn - thị xã Cao Bằng - thị xã Lạng Sơn - thị xã Bắc
Giang - thị trấn Phổ Yên cùng với đó là hoàng loạt các đô thị nhỏ cấp huyện (thị
trấn) đặt tại trung tâm hành chính các huyện.
Vùng Lào Cai - Yên Bái - Phú Thọ - Tuyên Quang - Hà Giang thì có
thành phố Việt Trì làm trung tâm, các đô thị xung quanh như thị xã Lào Cai - thị
xã Yên Bái - thị xã Hà Giang - thị xã Tuyên Quang và các đô thị cấp huyện (thị
trấn).
Vùng Tây Bắc thị xã Hòa Bình là thành phố trung tâm vùng, hai đô thị
xung quanh là thị xã Điện Biên Phủ và thị xã Sơn La và các đô thị trung tâm cấp
huyện và khu vực.
Các nghiên cứu theo hướng này cho thấy các quá trình mở rộng của khu
đô thị sang vùng ven đô. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Sửu cho thấy các
tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa làm chuyển đổi không gian
sống và các hoạt động sinh kế của người nông dân ở một làng ven đô Hà Nội.
Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu và phân tích quá trình công
nghiệp hóa và đô thị hóa đã tác động đến sự biến đổi một làng ven đô về trên
nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó nổi bật là vấn đề mất đất dẫn đến người dân
chuyển đổi sinh kế từ người nông dân thuần túy sang làm các nghề khác như xe
ôm, đi buôn, mở cửa hàng buôn bán, [51, tr.1-17].
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Văn Sửu với Chu Thu Hường cung cấp
một ví dụ khác về sự biến đổi không gian ở một làng ven đô ở tỉnh Bắc Ninh. Ở
nghiên cứu này, các tác giả cho thấy quá trình đô thị không chỉ là sự mở rộng
sang vùng ven đô dưới tác động của các chính sách Nhà nước từ bên ngoài mà
trước hết là từ bên trong nội tại cộng đồng. Những nguyên nhân đó dẫn tới quá
18
trình đô thị hóa ở nơi đây, từ đó dẫn tới sự biến đổi không gian cư trú, không

dân tộc, phân bố trên 15 tỉnh, trong đó có khoảng 7,5 triệu là người dân tộc thiểu
số. Những dân tộc có số lượng dân cư đông như Tày, Nùng và H‟mông chủ yếu
tập trung ở khu vực Đông Bắc, trong khi người Thái, Mường chủ yếu tập trung ở
khu vự c Tây Bắc. Cùng với đó, ở trung tâm các tỉnh, huyện là nơi tập trung chủ
yếu của người Kinh. Hiện nay khu vực trung du và miền núi phía Bắc có 15 tỉnh
thành, dân số 11095,2 nghìn người (năm 2009), đông nhất là tỉnh Bắc Giang có
1560,2 nghìn người, ít nhất là Bắc Cạn có 295,3 nghìn người. Với vị trí địa lí đặc
biệt, giáp với Thượng Lào và có thể giao lưu thuận lợi bằng đường sắt và đường
ô tô với các tỉnh phía Nam Trung Quốc qua các cửa khẩu Lạng Sơn , Lào Cai và
Móng Cái. Phần miền núi phía Bắc Việt Nam gần đến 4/5 diện tích là đồi núi ,
phần còn lại là các đồng bằng châu thổ và duyên hải do nhiều con sông bồi đắp
lên đượ c thể hiệ n trong nghiên cứu của Lê Bá Thảo đã giới thiệu cho chúng ta có
cái nhìn tổng quan về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, dân cư của
các vùng miền trên cả nước [56, tr.532].
Bảng 1.1: Sự phân bố dân cư giữa thành thị và nông thôn trên các vùng nước ta
Đơn vị tính: Người
Khu vực
Tổng số
Thành thị
Nông thôn
Trung du và miền núi phía Bắc
11.053.590
1.753.711
9.299.879
Đồng bằng sông Hồng
19.584.287
5.739.684
13.844.603
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền
Trung

thị cả nước), sau đó là khu vực miền núi phía Bắc (chiếm 6,89% dân thành
thị) và khu vực đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 15,43% dân thành thị cả
nước).
Nếu tính theo nội bộ thì khu vực Đông Nam Bộ cũng vẫn là nơi có dân
thành thị cao nhất là 8.043.806/14.076.361 người (tức dân thành thị chiếm
57,14% dân trong vùng), thấp nhất là khu vực miền núi phía Bắc
1.753.711/11.053.590 người, (chiếm 15,87% dân số toàn vùng).
Xét về mặt dân số học tộc người, các dân tộc chiếm đa số như dân tộc
Tày sống chủ yếu ở Đông Bắc 1.626.392 người (năm 2009), dân tộc Nùng:
968.800 người; dân tộc Thái: 1.550.423 người chủ yếu ở Tây Bắc, dân tộc
H‟mông: 1.068.189 người ở gần như khắp nơi trên đỉnh núi cao , dân tộc
Mường: 1.268.963 người người sống ở khu vực Hòa Bình - Thanh Hóa - Phú
Thọ, các dân tộc khác chỉ có mỗi dân tộc vài vạn người, thậm chí vài nghìn
hoặc vài trăm người sinh sống ven biên giới Việt - Trung và biên giới Việt
Lào hoặc sống xen kẽ với các dân tộc khác. Các dân tộc có dân số tương đối
lớn đều sông xen kẽ với nhau từ độ cao 700m trở xuống [56, tr.360], còn trên
các vùng núi cao là địa bàn cư trú của dân tộc Dao có dân số 751.067 người;
từ trên 1000m là dân tộc H‟mông, người Xinh Mun: 23.278 người; Hà Nhì:
21
21.725 người; Kháng: 13.840; Phù Lá: 10.944 người; La Hủ: 9.651; La Ha:
8.177 người; Cống: 2.029 người và một số dân tộc ít người khác
3
.
Xét về thành phần cư dân ở khu vực này, nhóm Tày, Nùng, Thái,
Mường chủ yếu sinh sống ở những thung lũng mầu mỡ, vùng đất bằng phẳng,
thì người Dao, H‟mông, Kháng, La Ha, Xinh Mun, Phù Lá, La Hủ, Cống, Si
La,… lại chủ yếu sinh sống ở trên những sườn đồi, núi cao. Còn tại các trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status