WTO và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam khi trở thành thành viên của WTO - Pdf 23

LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay, hội nhập
và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế tất yếu
khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều các nước tham gia, buộc các nước
phải thực hiện chiến lược mở cửa kinh tế nhằm tranh thủ thời cơ, phát
huy lợi thế và vượt qua thách thức thì mới có thể phát triển nhanh nền
kinh tế của quốc gia mình, đóng góp chung vào tăng trưởng kinh tế khu
vực và toàn cầu. Không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu
không tham gia vào quá trình này và Việt Nam cũng không nằm ngoài
xu thế chung này. Hiện nay mỗi quốc gia muốn phát triển thì không
còn cách nào khác là tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) - Tổ chức thương mại toàn cầu lớn nhất, quan trọng nhất thu
hút tới 149 quốc gia thành viên và chi phối đến 95% tổng kim ngạch
thương mại thế giới. Đây cũng chính là nguyên nhân chi phối trong
việc định hướng cho kế hoạch phát triển kinh tế của Việt Nam trong
những năm gần đây. Các chính sách mà Nhà nước Việt Nam đưa ra đều
phục vụ cho mục tiêu được là thành viên chính thức của WTO xem đó
như là một con đường tốt nhất để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác
và có điều kiện phát huy tối ưu hơn những lợi thế so sánh của mình
trong phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Mặc dù vị thế của Việt Nam khi gia nhập WTO không giống như
các nước thành viên khác (ví dụ như nước láng giềng Trung Quốc)
nhưng chúng ta có thể rút kinh nghiệm từ những thành công và hạn chế
của các nước đó để có thể tiến hành tốt nhất tự do hoá thương mại theo
như cam kết từ đó đưa nền kinh tế phát triển một cách hiệu quả và hạn
1
chế những thua thiệt mà quá trình cạnh tranh không cân sức này mang
lại.
Chính vì lý do này, mà em chọn đề tài “WTO và những vấn đề
đặt ra cho Việt Nam khi trở thành thành viên của WTO ” làm đề tài
nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại thương của mình.

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ VIỆT NAM
I.Đặc điểm cơ bản của các ngành kinh tế chủ chốt của Việt Nam
trước khi gia nhập WTO
1. Công nghiệp
1.1Ngành dệt may
1.2. Các ngành công nghiệp lắp ráp (điện tử, ô tô, xe máy)
1.3. Công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu
2. Nông nghiệp
3
II. Những tác động từ việc gia nhập WTO
1. Tác động đến kinh tế
2.Tác động đến xã hội
CHƯƠNG III
NHỮNG LỢI THẾ CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO
I. Lợi thế về thương mại
1. Khái quát thương mại Việt nam trước khi gia nhập WTO
2. Phân tích những điều kiện mà WTO đem lại cho thương mại Việt
Nam
2.1 Thương mại tự do giúp giảm chi phí cuộc sống và tăng thu nhập
2.2 Kích thích tăng trưởng kinh tế
3.Thực trạng thương mại Việt nam khi tham gia WTO
II/ Lợi thế về xuất khẩu
1.Khái quát xuất khẩu Việt nam trước khi gia nhập WTO
2.Những lợi thế mà WTO mang lại cho xuất khẩu Việt nam.
2.1 Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam
2.2 Các định hướng chiến lược trong kỳ hội nhập
III/Lợi thế về môi trường đầu tư
1.Vài nét cơ bản về môi trường kinh doanh của Việt Nam
2.Các yếu tố tạo nên lợi thế của môi trường kinh doanh
2.1 Các định hướng chiến lược trong giai đoạn hội nhập

GATT ra đời sau Đại chiến Thế giới lần thứ II trong trào lưu hình
thành hàng loạt cơ chế đa biên nhằm điều tiết các hoạt động hợp tác
kinh tế quốc tế. GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ
thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm mà điển hình là
Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, thường được biết đến như là
Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế
(International Monetary Fund – IMF) ngày nay. Với ý tưởng hình thành
những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế điều tiết
các lĩnh vực về công ăn việc làm, về thương mại hàng hóa, khắc phục
tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển,23 nước
sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương
mại và việc làm, dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức
thương mại Quốc tế (International Trade Oganization –ITO) với tư
cách là cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc. Đồng thời, các nước
này cùng tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biện
pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế
từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hoá mậu dịch, mở
đường cho kinh tế thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng
cao thu nhập và đời sống của nhân dân của các nước thành viên.
6
Hiến chương thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nói
trên đã được thoả thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và
việc làm ở Havana từ tháng 11/1947 đến 24/3/1948, nhưng do một số
quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc thành lập Tổ chức
Thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được.
Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích
lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế
áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng
mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký kết Hiệp định
chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực

giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên.
WTO gồm các qui định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế:
Ra đời với kết quả ghi nhận trong hơn 26.000 trang văn bản pháp lý,
WTO tạo ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viên
hoạch định và thực thi chính sách nhằm mở rộng thương mại, tạo thêm
việc làm, tăng thêm thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân các nước
thành viên. Các văn bản pháp lý này bản chất là các “hợp đồng”, theo
đó chính phủ các nước tham gia ký kết công nhận (thông qua việc gia
nhập và trở thành thành viên của WTO) cam kết duy trì chính sách
thương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thoả thuận. Tuy là do các
chính phủ ký kết nhưng thực chất mục tiêu của các thoả thuận này là
để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất hàng hoá,
cung cấp dịch vụ, các nhà nhập khẩu thực hiện hoạt động kinh doanh,
8
buôn bán của mình.
WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp: Nếu mục tiêu kinh tế
của WTO là nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại hàng hoá,
dịch vụ, trao đổi, trao đổi các sáng chế, kiểu dáng, phát minh…(gọi
chung là quyền tài sản sở hữu trí tuệ) thì các hoạt động của WTO nhằm
giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại phát sinh giữa các
thành viên theo các qui định đã thoả thuận, trên cơ sở các nguyên tắc
cơ bản của công pháp quốc tế và luật lệ của WTO chính là “mục tiêu
chính trị” của WTO. Mục tiêu cuối cùng của các mục tiêu kinh tế và
mục tiêu chính trị nói trên là nhằm tới “mục tiêu xã hội” của WTO là
nhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho
người dân, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường.
1.2. Chức năng của WTO
WTO có 6 chức năng chính:
- WTO tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và điều
hành và những mục tiêu khác của Hiệp định thành lập WTO, các hiệp

và luật lệ của tổ chức này; bảo đảm cho các nước đang phát triển, đặc
biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng lợi ích đích thực
từ sự tăng trưởng của thương mại thế giới, phù hợp với nhu cầu phát
triển kinh tế của các nước và khuyến khích hội nhập ngày càng sâu hơn
vào đời sống kinh tế thế giới.
- Mục tiêu xã hội: Nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho
người dân của các nước thành viên, đảm bảo các quyền và tiêu chuẩn
10
lao động tối thiểu được tôn trọng.
1.4. Các nguyên tắc hoạt động của WTO
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử: bao gồm 2 nguyên tắc nhỏ
là dành cho quy chế đối xử quốc gia. Quy chế tối huệ quốc có nghĩa là
tất cả hàng hoá, dịch vụ và công ty của các thành viên WTO đều được
hưởng một chính sách chung bình đẳng. Quy chế đối xử quốc gia là
không có sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa, dịch vụ và các công ty của
nước ngoài trên thị trường trên thị trường nội địa. Nguyên tắc không
phân biệt đối xử cho phép đảm bảo đối xử bình đẳng giữa các thành
viên với nhau trên thị trường cả trong nước và trên thế giới.
- Nguyên tắc tiếp cận thị trường: Nguyên tắc này được hiểu trên
hai khía cạnh. Thứ nhất, các nước thành viên mở cửa thị trường cho
nhau thông qua việc cắt giảm từng bước, đi tới xoá bỏ hàng rào thuế
quan và phi thuế quan. Thứ hai, các chính sách và luật lệ thương mại
phải được công bố công khai, kịp thời, minh bạch. Cả hai khía cạnh
này đều nhằm tạo ra một môi trường thương mại bình đẳng cho tất cả
các nước thành viên tiếp cận.
- Nguyên tắc cạnh tranh công bằng: Nguyên tắc này yêu cầu các
nước chỉ được sử dụng thuế là công cụ duy nhất để bảo hộ. Các biện
pháp phi thuế quan (giấy phép, hạn ngạch, hạn chế nhập khẩu,...) đều
không được sử dụng. Các biểu thuế phải được giảm dần trong quá trình
hội nhập theo thời gian thoả thuận.

đồng châu Âu). Hội nghị Bộ trưởng có thể ra quyết định đối với bất kỳ
vấn đề trong các thỏa ước thương mại đa phương của WTO.
- Cấp thứ hai: Đại hội đồng – Công việc hàng ngày của WTO
được đảm nhiêm bởi 3 cơ quan: Đại hội đồng, Hội đồng giải quyết
tranh chấp và Hội đồng rà soát các chính sách Thương mại. Tuy tên gọi
khác nhau, nhưng thực tế thành phần của 3 cơ quan đều giống nhau,
đều bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất
cả các nước thành viên. Điểm khác nhau giữa chúng là chúng được
nhóm họp để thực hiện các chức năng khác nhau của WTO.
Đại hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại
Geneva, được nhóm họp thường xuyên. Đại Hội đồng bao gồm đại
diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành
viên và có thẩm quyền quyết định nhân danh Hội nghị bộ trưởng (vốn
chỉ nhóm họp hai năm một lần) đối với tất cả các công việc của WTO.
Hội đồng giải quyết tranh chấp được nhóm họp để xem xét và phê
chuẩn các phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban hội thẩm hoặc
Cơ quan phúc thẩm đệ trình. Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các
nước thành viên (cấp đại sứ hoặc tương đương).
13
Hội đồng rà soát chính sách thương mại được nhóm họp để thực
hiện việc rà soát chính sách thương mại của các thành viên theo cơ chế
rà soát chính sách thương mại. Đối với những thành viên có tiềm lực
kinh tế lớn, việc rà soát diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần. Đối
với những thành viên khác, việc rà soát có thể tiến hành cách quãng
hơn.
- Cấp thứ ba: Các Hội đồng thương mại
Các Hội đồng thương mại hoạt động dưới quyền của Đại Hội
đồng. Có ba Hội đồng Thương mại là: Hội đồng Thương mại Hàng hóa,
Hội đồng thương mại dịch vụ và Hội đồng các khía cạnh của quyền sở
hữu trí tuệ liên quan đến Thương mại. Mỗi hội đồng đảm trách một

Ngoài ra, do yêu cầu của Vòng đám phán Doha, WTO đã thành
lập Uỷ ban đàm phán Thương mại trực thuộc Đại Hội đồng để thúc đẩy
và tạo điều kiện thuận lợi cho đàm phán. Uỷ ban này bao gồm nhiều
nhóm làm việc liên quan đến các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
2. Điều kiện cần thiết để tham gia WTO
Để có thể là thành viên gia của tổ chức thương mại thế giới WTO,
các quốc gia phải thực hiện theo các yêu cầu mà tổ chức đặt ra.
Trước tiên quốc gia muốn gia nhập phải nộp đơn xin gia nhập
WTO. Ban công tác về việc gia nhập của Việt Nam được thành lập.
Ban công tác có nhiều thành viên WTO quan tâm đến thị trường của
quốc gia đó.
Gửi “Bị Vong lục về chế độ ngoại thương của quốc gia gia nhập”
15
tới ban thư ký WTO để luân chuyển tới các thành viên của Ban công
tác. Bị Vong lục không chỉ giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, các
chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách, mà
còn cung cấp các thông tin chi tiết về chính sách liên quan tới thương
mại hàng hoá, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ.
Quốc gia muốn gia nhập phải làm rõ chính sách thương mại của
quốc gia mình. Cung cấp các thông tin khác theo biểu mẫu do WTO qui
định về hỗ trợ nông nghiệp, trợ cấp trong công nghiệp, các doanh
nghiệp có đặc quyền, các biện pháp đầu tư không phù hợp với qui định
của WTO, thủ tục hải quan, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh dịch
tễ...
Tiếp theo quốc gia đó phải đưa ra các bản chào ban đầu về mở
cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ để thăm dò phản ứng của các thành
viên trong tổ chức và tiến hành Đàm phán song phương với tất cả các
thành viên quan tâm tới thị trường của các quốc gia đó.
Khi đã hoàn thành Nghị định thư gia nhập có nghĩa là quốc gia đó
có các nghĩa vụ khi trở thành thành viên WTO dựa trên các thoả thuận

rào mậu dịch thông qua thương lượng và áp dụng nguyên tắc không
phân biệt đối xử. Kết quả là chi phí sản xuất giảm, giá hàng hoá thành
phẩm và dịch vụ giảm và cuối cùng là chi phí cuộc sống thấp hơn. Cho
đến nay, các hàng rào mậu dịch đã giảm đi rất nhiều so với trước đây.
Các hàng rào này còn tiếp tục được giảm và tất cả các quốc gia đều có
lợi.
17
WTO cũng tạo cơ hội mở rộng thị trường hàng hoá và dịch vụ cho
các nước thành viên. Hiện nay các quốc gia có thể có được tất cả các
hàng hóa bởi các nước có thể nhập khẩu chúng. Nhập khẩu cho phép
người dân có nhiều lựa chọn hơn – cả hàng hoá và dịch vụ lẫn phạm vi
chất lượng. Thậm chí chất lượng của hàng sản xuất nội địa có thể nâng
lên do chính sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu. Nhiều lựa chọn hơn
không đơn giản là vấn đề người tiêu dùng mua hàng thành phẩm của
nước ngoài. Hàng nhập khẩu còn được sử dụng làm nguyên liệu, linh
kiện và thiết bị cho sản xuất trong nước. Điều này mở rộng phạm vi
của các thành phẩm và dịch vụ do các nhà sản xuất trong nước làm và
nó làm tăng phạm vị những công nghệ mà họ có thể sử dụng. Chẳng
hạn, khi thiết bị điện thoại di động trở nên phổ biến, các dịch vụ phát
triển mạnh, thậm chí ngay tại các nước không hề sản xuất thiết bị. Đôi
khi, sự thành công của một sản phẩm hay dịch vụ nhập khẩu tại thị
trường trong nước cũng có thể khuyến khích các nhà sản xuất trong
nước cạnh tranh, làm gia tăng lựa chọn nhãn hàng hoá sẵn có cho
người tiêu dùng cũng như tăng phạm vi hàng hoá và dịch vụ sản xuất
trong nước. Nếu thương mại cho phép chúng ta nhập khẩu nhiều hơn,
nó cũng cho phép người khác mua nhiều hàng sản xuất của chúng ta
hơn. Nó làm tăng thu nhập của chúng ta, cung cấp cho chúng ta những
phương tiện để hưởng sự lựa chọn gia tăng đó.
WTO làm tăng thu nhập cho các quốc gia. Việc giảm bớt hàng rào
thương mại cho phép thương mại tăng trưởng, điều này làm tăng thu

19
tiềm năng tạo ra việc làm và cũng giúp cho việc xoá đói giảm nghèo và
thường là cả hai. Bên được lợi nhiều nhất là nước hạ thấp rào cản
thương mại. Nước xuất khẩu vào nước hạ thấp rào cản cũng có lợi,
nhưng ít hơn. Tuy nhiên, các nhà sản xuất nội địa và công nhân của các
nước hạ thấp rào cản (trước đây được bảo vệ) rõ ràng là phải đối mặt
với sự cạnh tranh mới khi hàng rào thương mại thấp hơn. Một số nhà
sản xuất nội địa tồn tại được là vì biết tạo ra cho mình khả năng cạnh
tranh tốt hơn. Một số hội nhập nhanh hơn bằng việc tìm nguồn nhân
lực mới. Cụ thể, một số nước hội nhập tốt hơn so với các nước khác.
Đó là do những nước này có chính sách hội nhập hiệu quả hơn. Những
nước không có chính sách hội nhập hiệu quả sẽ bỏ lỡ thời cơ là sự thúc
đẩy mà thương mại đem lại cho nền kinh tế. WTO giải quyết vấn đề
này bằng một số cách. Trong hệ thống thương mại WTO, sự tự do hoá
được thực hiện một cách từ từ tạo điều kiện về mặt thời gian cho các
nước thành viên thực hiện việc điều chỉnh cần thiết. Nhiều qui định
trong các hiệp định cho phép nước thành viên áp dụng một số biện
pháp tình thế nhằm giảm thiểu các thiệt hại do việc nhập khẩu có thể
gây nên. Các biện pháp này, tất nhiên, phải tuân theo những qui định
và trình tự hết sức chặt chẽ. Đồng thời, sự tự do hoá trong hệ thống
thương mại WTO là kết quả của đàm phán. Những nước cảm thấy chưa
kịp thích ứng với việc mở cửa, có thể phản đối yêu cầu mở cửa đối với
một số lĩnh vực cụ thể. Trong khi thế giới vẫn còn 1,5 tỷ người dân
sống trong tình trạng đói nghèo, chính sách tự do hoá thương mại đã
giúp ba tỷ người thoát khỏi cuộc sống đói nghèo kể từ sau chiến tranh
thế giới lần thứ 2.
Gia nhập vào WTO sẽ giúp các quốc gia tăng cường thu hút đầu
20
tư nước ngoài. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt,
việc trở thành thành viên của WTO sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi

Bên cạnh đó, ngành dệt may Việt Nam cũng có những điểm yếu
khá cơ bản. Đó là:
- Năng lực thiết kế sản phẩm thấp kém, các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay chủ yếu thực hiện gia công cho các hãng nước ngoài
theo mẫu mốt do họ cung cấp.
- Chưa xây dựng được thương hiệu sản phẩm có uy tín trên thị
trường.
- Năng suất lao động thấp kém, giá thành đơn vị sản phẩm cao.
- Công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may hết sức yếu kém,
nguyên phụ liệu chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài (do phía nước
ngoài đặt gia công cung cấp); trang bị kỹ thuật của ngành dệt lạc hậu,
22
đổi mới công nghệ chậm, không có khả năng sản xuất những loại vải có
chất lượng cao, thay đổi mẫu mã đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách
hàng, nhất là những khách hàng cao cấp.
Việc đầu tư vào dệt may kém hiệu quả, gần 8400 tỷ đồng đầu tư
vào 220 dự án trong 5 năm qua, song hiệu quả đạt được rất thấp. Hầu
hết sản lượng các nguyên phụ liệu đầu vào cho ngành dệt may chưa đạt
kế hoạch đặt ra. Theo Tổng công ty Dệt may Việt Nam (VINATEX), từ
đầu năm đến nay đã có 11 dự án đầu tư mới được triển khai với kinh
phí 345 tỷ đồng, nâng tổng vốn đầu tư 5 năm qua (2001-2005) lên mức
8.373 tỷ đồng. Tuy vậy, hiệu quả đầu tư vẫn khá thấp so với yêu cầu.
Chẳng hạn, sản lượng bông mới đạt được 56%, vải dệt kim đạt 71,4%,
sản phẩm may dệt kim đạt 83% và may dệt thoi đạt 77% so với dự
kiến. Chỉ có sản lượng sợi toàn bộ là tăng 6% so với yêu cầu đặt ra.
Nguyên nhân khiến một số chỉ tiêu không đạt được yêu cầu là công tác
đầu tư còn khép kín với từng doanh nghiệp, chưa thể hiện mối liên kết
trong nội bộ và tính chuyên môn hoá theo ngành hàng và sản phẩm.
Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt khoảng 4,85 tỷ
USD, tuy thấp hơn kế hoạch (5,2 tỷ USD), nhưng vẫn tăng 10% so với

Bông 90,4 115,4 111,6 105,4 190,2
Xơ dệt 89,1 119,1 119,0 158,7
Sợi dệt 237,3 228,4 272,6 317,5 338,8
Vải các loại 761,3 880,2 1523,1 1805,4 1926,7
Phụ liệu may 971,4 1036,2 1069,2 1264,9 2252,7
(Nguồn: Niên giám thống kê 2004)
Trong định hướng chiến lược phát triển công nghiệp trong
quá trình công nghệ hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, nhằm phát huy lợi
thế về nhân lực, ngành công nghiệp dệt may được coi là một trong
24
những ngành được chú trọng đầu tư phát triển. Trong chiến lược tăng
tốc của ngành dệt may, Việt Nam đã hết sức chú trọng phát triển các
ngành công nghiệp phụ trợ cho dệt may. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư
chưa đạt được như mong muốn.
1.2 Ngành da giầy
Công nghiệp da giầy có những nét tương đồng với công nghiệp
dệt may cả về lợi thế, yếu thế và phương thức xuất khẩu. Trong những
năm qua, phát huy về nhân lực và cơ sơ vật chất kỹ thuật hiện có, da
giầy là một trong những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao,
đóng góp lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho người
lao động. Hiện nay, chất lượng giày dép, đồ da của Việt Nam đã được
thị trường thế giới chấp nhận và xác lập được vị thế trên thị trường.
Sản xuất giày dép cũng là lĩnh vực thu hút được nhiều nhà đầu tư nước
ngoài, chủ yếu là các nhà đầu tư Hàn Quốc và Đài Loan.
Tuy được xếp vào nhóm ngành có kim ngạch xuất khẩu cao,
nhưng cũng giống như ngành dệt may, hiệu quả kinh tế trong xuất khẩu
ngành hàng da giầy không cao là do:
- Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu nhận làm gia công cho
nước ngoài;
- Công nghiệp phụ trợ cho sản xuất da giầy Việt Nam quá yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status