Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM MAI THANH TÙNG
CHẤT LIỆU DÂN GIAN TRONG CA TỪ NHẠC
TRỊNH CÔNG SƠN
(KHẢO SÁT NHỮNG CA KHÚC THÂN PHẬN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
THÁI NGUYÊN - 2014
minh và hóm hỉnh. Ông nhìn thấy con chim ở trọ trên cành cây, con cá ở trọ
dƣới nƣớc, cơn gió ở trọ giữa đất trời, rồi đẩy tới một khái quát bất ngờ:
Trăm năm ở đậu ngàn năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3
Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn (Ở trọ)
Trong ca khúc Để gió cuốn đi, Trịnh Công Sơn diễn tả thắm thiết tình
cảm với cuộc đời:
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không
Để gió cuốn…đi
Để gió cuốn…đi.
Gió cuốn đi cho mây qua dòng sông
Ngày vừa lên hay đêm xuống mênh mông
Ôi trái tim đang bay theo thời gian. (Để gió cuốn đi)
Thân phận con ngƣời là một trong ba chủ để lớn (thân phận - tình yêu -
quê hƣơng) kết cấu nên dòng nhạc Trịnh. Có thể nói thân phận con “Ngƣời”
là chủ thể của mọi mục đích sáng tạo. Con ngƣời hiện sinh, con ngƣời tƣợng
trƣng, con ngƣời mặc định, con ngƣời trở đi trở lại nhƣ một nỗi ám ảnh trong
hầu hết các sáng tác của Trịnh Công Sơn. Thân phận con ngƣời có khi đứng
tách riêng ra thành một chủ đề độc lập, có khi ẩn hiện trong các chủ đề khác
tạo nên một sợi dây xuyên suốt, một chất keo kết dính tạo nên tính thống nhất
mà đa dạng trong âm nhạc Trịnh Công Sơn. Ông khai thác con ngƣời ở hầu
hết các trạng thái khác nhau, khi thì “gần gũi”, có lúc thật “xa xôi”, nhƣng tựu
chung đều bắt nguồn từ một cái nôi văn hoá dân gian của tâm hồn tác giả, đó
là: “chất liệu dân gian”, nguồn cảm hứng đã xuyên suốt mọi chủ đề và hình
tƣợng trong ca từ nhạc của ông. Chất liệu dân gian hiện lên trọn vẹn nhất
trong những bài hát về thân phận, về kiếp luân hồi và giải thoát bản ngã. Ông
phẩm đầu tiên “Ướt mi” cho đến nay đã làm tốn không biết bao nhiêu là giấy
mực của nhà nghiên cứu phê bình. Nhiều năm trở lại đây, với sự phát triển
của âm nhạc và sự yêu mến những sáng tác của ông, liên tiếp những show
biểu diễn về nhạc “TRỊNH” ngày càng thu hút đƣợc sự quan tâm chú ý của
rất nhiều khán giả yêu thích nhạc Trịnh Công Sơn và những học giả, nhà
nghiên cứu tìm hiểu về ông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
Hầu hết đều là giới thiệu những bài viết ngắn, từ 2 cho đến khoảng 15
trang, cho ta những cái nhìn nghiêng, những “bán diện” của Trịnh Công Sơn,
qua mắt nhìn của những ngƣời viết. Ðặc biệt, về nội dung và cách trình bày,
nổi bật lên cuốn sách của Trịnh Cung và Nguyễn Quốc Thái (Trịnh Công Sơn
(1939 - 2001) cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội hoạ và suy tưởng) và tuyển tập Một
cõi Trịnh Công Sơn của Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha và Ðoàn Tử
Huyến [45]. Trong hai tuyển tập này, ngoài bài viết của những tác giả trong
nƣớc, có nhiều bài viết của những tác giả không sống ở Việt Nam. Ở nƣớc
ngoài, có những tuyển tập đặc biệt về Trịnh Công Sơn, gồm những bài viết
trong nƣớc, của các tạp chí sáng tác, nhận định văn nghệ, tạp chí Văn học, …
Trong những năm trở lại đây, về đề tài Trịnh Công Sơn, trong nƣớc nổi
bật lên cuốn sách Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của Hoàng tử bé (nhà xuất
bản Trẻ, 2004) của Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng [72], một ngƣời bạn của ngƣời
nhạc sĩ. Cuốn sách là một tập hợp nhiều bài viết mang tính đoản văn, tuỳ bút,
pha với phần nào tính chất ký và tự truyện, cho ngƣời đọc thấy đƣợc chân dung
đời thƣờng của ngƣời nhạc sĩ, đƣợc nhìn ngắm từ những góc độ đời thƣờng pha
lẫn một chút triết lý của tác giả. Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng là một ngƣời có đƣợc
những nét tài hoa trong tạp bút và ký, lại là bạn thân của Trịnh Công Sơn, nên
cuốn sách của ông có những nét đặc biệt riêng, chiếu rọi đƣợc những “cận
cảnh” đời thƣờng của Trịnh Công Sơn. Ở hải ngoại, có cuốn Trịnh Công Sơn:
nhạc của ông. Có thể khẳng định văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa
mẹ nuôi dƣỡng tâm hồn Trịnh Công Sơn giúp ông sáng tạo nên những tác
phẩm bất hủ cùng năm tháng.
Nhƣ vậy, với lịch sử khám phá về ca từ nhạc Trịnh Công Sơn với những
giai điệu đáng tự hào ta có thể làm rõ sự ảnh hƣởng sâu sắc từ cội nguồn văn
hoá - văn học dân gian đã tác động nhƣ thế nào, để từ đó tạo lên những vần
thơ độc đáo vừa sâu lắng hồn quê vừa nồng nàn tinh thần hiện đại của tƣợng
trƣng - siêu thực trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn.
3. Mục đích nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7
3.1. Luận văn sẽ làm rõ - chính văn hóa dân gian, văn học dân gian là cơ
sở, nền tảng góp phần tạo lập nên vẻ đẹp độ sâu trong nội dung ca từ nhạc
Trịnh Công Sơn. Thành tựu bền vững của nhạc Trịnh là giai điệu lắng sâu, mê
đắm và ca từ đẹp của nhạc phẩm. Vì vậy, việc tìm hiểu ca từ là tìm hiểu và
xác định giá trị đích thực của nhạc Trịnh Công Sơn.
3.2. Việc sử dụng chất liệu dân gian - những thành tố cấu trúc trong văn
hóa dân gian, văn học dân gian - để tạo lập nên lời trong các ca khúc nhạc
Trịnh Công Sơn.
3.3. Xác định đƣợc những thủ pháp mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sử
dụng để tạo nên ca từ của ông. Ông đã sử dụng nguyên bản những yếu tố dân
gian và biến đổi sáng tạo những chất liệu dân gian nhƣ thế nào cho phù hợp
với thời đại.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là: Những biểu tượng của văn hóa
dân gian, văn học dân gian đã đƣợc sử dụng làm chất liệu để tạo nên Lời, tức
là tạo nên ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn ?
- Phương pháp định lượng qua thống kê phân loại, phân tích: Để cho
việc nghiên cứu đánh giá có căn cứ xác thực chúng tôi tiến hành khảo sát,
thống kê những ca từ, những bài hát của Trịnh Công Sơn. Thông qua đó phân
loại nội dung phản ảnh theo từng chủ đề, từ đó phân tích nội dung phản ánh
để rút ra giá trị của những chất liệu dân gian mà Trịnh Công Sơn đã sử dụng
trong ca khúc của mình.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Ngƣời viết đề tài đã phân loại các bài
hát theo đúng chủ đề thuộc phạm vi đề tài và có số liệu thống kê chính xác
khoa học nhất cho những luận điểm của vấn đề đã đƣợc nêu ra trong ca từ nhạc
âm nhạc Trịnh Công Sơn. Đó là quá trình tổng hợp các bài nghiên cứu, các bài
thống kê nhận diện về chất liệu dân gian, cũng nhƣ qua đó thể hiện quan điểm cá
nhân của tôi về Chất liệu dân gian trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn một cách
có hệ thống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
9
- Phương pháp so sánh: Phƣơng pháp so sánh nhằm mục đích để soi
rọi, thấy đƣợc những điểm giống và khác nhau trong cách lựa chọn chất liệu
dân gian của các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ với Trịnh Công Sơn. Từ đó tìm ra
cái khác biệt, cái mới, sự sáng tạo của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
7. Đóng góp của luận văn
Đề tài “Chất liệu dân gian trong ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
những ca khúc về thân phận” nhằm có một cái nhìn khái quát và hệ thống
hoá về tài năng nghệ thuật của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua những sáng tạo ca
từ của ông. Từ đó chứng minh rằng Trịnh Công Sơn không chỉ là một nhạc sĩ
tài hoa mà còn là một nhà thơ có tâm có tầm trong nghệ thuật, một nhà thơ
với phong cách từ cội nguồn văn hoá dân gian Việt Nam.
Nghiên cứu về chất dân gian trong ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
trong ca từ những bài hát thân phận giúp ngƣời đọc, ngƣời nghe thêm yêu
Năm 1943 từ Dak Lak ông theo gia đình chuyển về Huế. Ông học trƣờng
tiểu học Nam Giao (nay là Trƣờng An), vào trƣờng Pellerin, theo học trƣờng
Thiên Hựu (Providence). Ông tốt nghiệp tú tài ban Triết tại Chasseloup
Laubat, Sài Gòn. Học trƣờng Sƣ Phạm Quy Nhơn khoá I (1962-1964). Sau
khi tốt nghiệp ông lên dạy học và làm hiệu trƣởng một trƣờng Tiểu học ở Bảo
Lộc (Lâm Đồng). Sau 1965, ông bỏ hẳn nghề dạy học, về sống và sáng tác tại
Sài Gòn. Sau 1975 ông sống ở Huế một thời gian dài và sau đó vào ở hẳn tại
Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) [45].
Ngoài Âm nhạc, tác phẩm của ông còn gồm nhiều thể loại thuộc các lãnh
vực nhƣ: Thơ, Văn và Hội Họa.
Ông tự học nhạc, bắt đầu sáng tác năm 1958 với tác phẩm đầu tay Ƣớt
Mi (Nhà xuất bản An Phú in năm 1959). Cho đến nay nhạc sĩ đã sáng tác hơn
600 tác phẩm, có thể đƣợc phân loại dƣới 3 đề mục lớn: Tình Yêu - Quê
Hƣơng - Thân Phận.
Năm 1972, ông đoạt giải thƣởng Đĩa vàng ở Nhật Bản với bài Ngủ đi
con (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly phát hành trên
2 triệu bản; Giải thƣởng cho bài hát hay nhất trong phim Tội lỗi cuối cùng;
Giải nhất của cuộc thi Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh với
bài Em ở nông trường, Em ra biên giới; Giải nhất cuộc thi Hai mươi năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
11
sau với bài Hai mươi mùa nắng lạ; Năm 1997 ông đoạt giải thƣởng lớn của
Hội nhạc sĩ cho một chuỗi bài hát: Xin trả nợ người, Sóng về đâu, Em đi bỏ
lại con đường [56].
Trịnh Công Sơn thực sự là một thi sĩ, nhạc sĩ có tài có tâm, cái tâm cao
quý của ngƣời thể hiện những thi phẩm thơ lấp lánh chất nhạc. Cái tâm của
Trịnh Công Sơn còn là tâm huyết của ngƣời con Việt Nam luôn trăn trở trong
khát vọng sống về tình yêu về hòa bình. Bằng tài năng của mình, Trịnh Công
1.1.2. Nội dung trong các ca từ về thân phận của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
Nội dung của những bài hát về thân phận, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã
viết về tất cả những gì về con ngƣời, đó là niềm vui nỗi buồn của kiếp nhân
sinh ở đời. Trong những bài hát về thân phận con “Người” là chủ thể của mọi
mục đích sáng tạo. Con ngƣời hiện sinh, con ngƣời tƣợng trƣng, con ngƣời
mặc định, con ngƣời ám chỉ cứ trở đi trở lại nhƣ một nỗi ám ảnh trong hầu hết
các sáng tác của Trịnh Công Sơn. Thân phận con ngƣời đƣợc nhạc sĩ khắc họa
đầy đủ nhất tổng hợp nhất có khi đứng tách riêng ra thành một chủ đề độc lập,
có khi ẩn hiện trong các chủ đề khác tạo nên một sợi dây xuyên suốt, một chất
keo kết dính tạo nên tính thống nhất mà đa dạng trong âm nhạc Trịnh Công
Sơn. Trong những bài hát về thân phận cái Tôi của Trịnh Công Sơn, là cái
Tôi xuyên suốt mọi chủ đề và hình ảnh. Tôi hiện lên trọn vẹn nhất trong
những bài hát nói về thân phận, về kiếp luân hồi và giải thoát bản ngã. Cái tôi
gặm nhấm nỗi cô đơn, nỗi buồn đến đôi khi là tuyệt vọng. Cái Tôi đào sâu
vào bản ngã, lắng nghe những âm vọng nhân sinh để chiêm nghiệm hết sự tàn
phai của cõi đời, để rồi trăn trở với những suy tƣ, với những quan niệm về sự
sống và cái chết.
“Thân phận” trong ca từ nhạc Trịnh hội tụ cái buồn, cái cô đơn của thân
phận con ngƣời vừa là tâm sự bản thể, vừa là nỗi ám ảnh của mọi kiếp ngƣời.
Nó là sự phản ánh của hiện thực đời sống khách quan qua lăng kính tâm hồn
mang đậm chất dân gian của ngƣời nghệ sĩ. Thông qua giai điệu nồng nàn của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
âm nhạc Trịnh Công Sơn, con ngƣời không còn sợ hãi “bệnh”, “xem” bệnh là
một tất nhiên - cái giới hạn mà khi nhận thức đƣợc nó, con ngƣời sẽ tiến gần
đến với sự “giải thoát”.
“Bao nhiêu năm làm kiếp con người / Chợt một chiều tóc trắng như vôi”
(Cát bụi). Đó là những gì chúng ta tìm thấy trong những ca khúc của ông, ta
trong cội nguồn đó hơi thở của nghệ thuật dân gian.
Hiểu nhƣ vậy những sáng tác âm nhạc của Trịnh Công Sơn đã tiếp nối
truyền thống “hồn cốt” của dân tộc, Ông đã mƣợn “chất liệu” dân gian hay sử
dụng trực tiếp để tạo nên những khúc ca, bày tỏ những suy tƣ trong tâm hồn
với đời.
Những đặc trƣng cơ bản của thơ ca có liên quan chặt chẽ với các đặc
trƣng khác của văn học dân gian, nó nhƣ cội nguồn, nhƣ dòng thác muôn
đời chảy trong tâm hồn dân tộc Việt Nam. Trịnh Công Sơn là ngƣời có suy
nghĩ suy sâu sắc, tâm hồn suy tƣ, tinh tế, nhạy cảm. Ông đã lấy chất liệu dân
gian làm nền tảng để sáng tạo nên những vần thơ hay nhất cho các ca khúc
của mình.
Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại nhƣ một món ăn tinh thần của con
ngƣời từ những khi còn nằm nôi. Những bài hát ru gắn với việc ru ngƣời ru
đời, ru tình ru cõi lòng, dƣờng nhƣ không thể thiếu lời ru khi nói đến nhạc dân
gian. Thơ và nhạc của Trịnh Công Sơn đã lấy cội nguồn từ chất liệu dân gian,
từ trong tinh hoa của văn học dân gian, văn hóa dân gian, “dệt” cho đời những
khúc ca thấm đậm bản sắc của ngƣời Việt, những khúc hát ru ngọt ngào yêu
thƣơng bậc nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
1.2. Cơ sở của chất liệu dân gian trong các ca khúc của nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn
* Quê hương
Cuộc đời Trịnh Công Sơn trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, chế độ cũng
nhƣ giai đoạn sáng tác. Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông học theo học các
trƣờng Lyceè Francais và Provindence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết
học trƣờng Tây Lyceé J.J Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây[56].
Những năm tháng tuổi thơ gắn bó với quê hƣơng Thừa Thiên Huế, đƣợc
Công Sơn rời Huế, Quy Nhơn vào Sài Gòn học, bà kết hợp những chuyến vào
mua hàng đến thăm con trai lớn. Những lần nhƣ thế, bà gặp gỡ con và bạn bè
cùng học với Sơn, cuộc trò chuyện cũng giống nhƣ thời Sơn còn bé, bà đọc
thơ của bà làm, lảy Kiều (vịnh, phú) cho con trai nghe. Giai điệu Huế, tâm
hồn Huế, thi ca đã đến với Sơn trƣớc khi âm nhạc đến và sau này, khi có
những ngƣời bạn trí thức nhƣ Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng, Đinh
Cƣờng … ngƣời ta sẽ không ngạc nhiên khi ca từ trong ca khúc của Trịnh
Công Sơn đẹp nhƣ những vần thơ. Đúng hơn, đây cũng chính là những bài
thơ [45,tr.27].
Trịnh Công Sơn yêu mẹ, sùng bái mẹ cũng thật dễ hiểu. Khi lớn lên
Trịnh Công Sơn ngày càng hiểu rõ sự yêu thƣơng, đức hy sinh của mẹ dành
cho con cái và đặc biệt là ông. Nhiều bóng dáng giai nhân, nhiều ngƣời phụ
nữ đến rồi đi qua cuộc đời Trịnh Công Sơn, có nhiều ngƣời để lại dấu ân
không mai mờ trong nhiều ca khúc danh tiếng nhƣ: Diễm xưa, Biển nhớ, Xin
trả nợ người, Bông bồng ơi … nhƣng cuối cùng, con ngƣời tài hoa ấy vẫn
quay trở về nằm bên mẹ của mình. Những anh chị em khác của Trịnh Công
Sơn đều đã có gia đình, có con cái. Trịnh Công Sơn dƣờng nhƣ đã nhƣờng
hạnh phúc ấy cho các em mình, ông dành cả cuộc đời cho âm nhạc, cho sáng
tạo và tìm về với mẹ nhƣ trẻ thơ sau cuộc trả nợ tử sinh, cho tất cả thân phận
cuộc đời.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
17
* Thời đại
Trịnh Công Sơn sống trong một thời đại đầy biến động, đã tác động ảnh
hƣởng đến những sáng tác của ông. Trịnh Công Sơn chứng kiến những giai
đoạn lịch sử đất nƣớc, chế độ xã hội cũng nhƣ thời kỳ văn học nghệ thuật
khác nhau. Vì lời lẽ đó mà trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản
chiến, nhà cầm quyền miền Nam đã cấm lƣu hành vài tác phẩm của ông.
vực nhƣ thơ, văn và hội họa. Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dƣ,
năm 1971 ông thủ vai chính trong phim Đất khổ. Sau năm 1975, bộ phim
không đƣợc trình chiếu rộng rãi tại Việt Nam. Cuối cùng, một bản phim đã về
tay nhà thơ Đỗ Trung Quân. Bộ phim đƣợc chọn là phim Việt Nam chính
trong liên hoan phim Á Mỹ năm 1996 [45, tr.15].
Trịnh Công Sơn bị bệnh gan, thận và tiểu đƣờng. Ông mất tại thành phố
Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đƣờng vào ngày mà không ai cho là thật 1- 4 - 2001.
Con ngƣời Trịnh Công Sơn hiện lên rõ nét hơn qua những nhận xét của
những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ về ông:
1. Nhạc sĩ Frank Gerke
“Nhạc anh Sơn rất đặc biệt. Bài nào cũng chỉ phất phơ có mấy nét thôi,
cứ như là nhạc của trẻ con ấy. Nhưng nghe là nhớ ngay. Trịnh Công Sơn đã
đạt được đến độ cao nhất của nghệ thuật. Đó là sự giản dị Người hát hay
nhất nhạc Trịnh chính là Trịnh Công Sơn. Sau Trịnh mới đến Khánh Ly. Sau
Khánh Ly là không còn ai nữa. Hồng Nhung chỉ hát tàm tạm được một đôi
bài )
Mặc dù nhạc Cách mạng của các anh rất hay. Hầu như bài nào cũng
hay. Khoẻ khoắn, hùng tráng. Nhưng đó là nhạc hội hè, nhạc vui. Nhạc cho
tất cả mọi người. Hầu hết nhạc sĩ các anh đều viết cho đám đông. Người ta
hát khi vui, hát ở chỗ đông người. Còn nhạc anh Sơn là nhạc chỉ dành cho
một người. Khi nào buồn, khi nào cô đơn đến tuyệt vọng mà không còn biết
bấu víu vào đâu nữa, người ta tìm về với Trịnh. Trịnh sẽ đón họ, nâng đỡ an
ủi họ. Vì thế, tôi mới bảo Trịnh Công Sơn là một nửa âm nhạc Việt Nam [56].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
19
2. Nhà thơ Trần Đăng Khoa
“Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ có nhiều người hâm mộ nhất. Đi đến đâu,
tôi cũng thấy người ta hát ca khúc của anh. Nhạc Trịnh không chỉ ngự trị
ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim,
không chỉ ở trong nước, mà ở cả ngoài biên giới nữa ” [56].
5. Trịnh Công Sơn tự bộc bạch
Ông từng chia sẻ: “Mỗi bài hát của tôi là một lời tỏ tình với cuộc sống,
một nhắn nhủ thầm kín về những tuyệt vọng và cũng là nỗi lòng tiếc nuối
không nguôi đối với buổi chia lìa cùng mặt đất mà tôi đã một thời gian sẻ
những buồn vui với mọi người”.
“Tôi đến với âm nhạc có lẽ cũng vì tình yêu cuộc sống. Một phần cũng
do một khúc quanh nào đó của số phận.”
Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành một người viết ca khúc nổi
tiếng nhưng đời đã tặng cho tôi món quà ấy thì tôi không thể không nhận. Và
khi đã nhận rồi thì mình phải có trách nhiệm đối với mọi người. Vì thế tôi đã
cố gắng làm thế nào để có thể trong những bài hát của mình chuyên chở được
một thông điệp của lòng nhân ái đến với mọi người” [56].
Chúng ta thấy những nhận xét đánh giá của các nhạc sĩ nhà văn đều coi
Trịnh Công Sơn là một nhà thơ, một nhà thơ luôn đến với nỗi buồn, vui con
ngƣời, âm nhạc của ông len lỏi đến tận những ngóc ngách sâu thẳm nhất trong
cõi tinh thần của ngƣời Việt bằng chính cội nguồn văn hóa dân tộc.
1.3. Ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn đƣợc dệt lên từ chất liệu dân gian
* Khái niệm ca từ
Ca từ là phần lời của bài hát, khi tách biệt phần nhạc điệu của một bài
hát ta có một tác phẩm nghệ thuật đƣợc viết nhƣ một bài thơ, bài văn [1,tr.3].
Nếu tách riêng phần nhạc và phần lời của các ca khúc của Trịnh Công
Sơn, bao giờ cũng có khả năng tồn tại độc lập bằng đời sống riêng của chúng,
nhƣng khi đƣợc kết hợp lại với nhau chúng dễ có cơ hội để tạo nên một tác
phẩm nghệ thuật sống mãi với thời gian. Ở đây, chúng tôi tạm gác lại phần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
21
22
Một nét riêng nữa rất dễ nhận thấy là nhịp điệu trong các ca từ của Trịnh
Công Sơn. Nhịp điệu trong ca từ là yếu tố vô cùng quan trọng làm nên nhạc
điệu của ca khúc. Các nhà thơ, các nhạc sĩ tài năng đều có các kiểu ngắt nhịp
riêng phù hợp với nhịp điệu của cảm xúc. Trịnh Công Sơn cũng có rất nhiều
kiểu ngắt nhịp. Ở bài Cát bụi chủ yếu là nhịp 3 - 4: Bao nhiêu năm - làm kiếp
con người/ Chợt một chiều - tóc trắng như vôi Tạo nên nét nhạc trầm lắng,
suy tƣ. Bài Tình nhớ ngắt theo nhịp 3 - 2: Một người về - đỉnh cao/ Một người
về - vực sâu Tạo nên nét nhạc đứt đoạn nhƣ sự chia lìa. Nhƣng kiểu ngắt
nhịp đôi (2 - 2) mới là kiểu ngắt nhịp phổ biến trong ca từ Trịnh Công Sơn.
Chính kiểu ngắt nhịp này góp phần làm nên nhạc điệu chủ đạo trong gần một
phần ba tình khúc của ông. Chẳng hạn nhƣ: Ngày mai - em đi - đồi núi -
nghiêng nghiêng - đợi chờ/ Sỏi đá - trông em - từng giờ. Nghe buồn - nhịp
chân - bơ vơ (Biển nhớ); Mưa vẫn - mưa bay - trên hàng - lá nhỏ/ Buổi
chiều - ngồi ngóng - những chuyến - mưa qua (Diễm xưa); Gọi nắng - trên
vai - em gầy/ Đường xa - áo bay (Hạ Trắng); Con chim - ở đậu - cành tr/.
Con cá - ở trọ - trong khe - nước nguồn (Ở trọ). Cảm giác nhẹ nhàng, êm
dịu của nhạc Trịnh Công Sơn phải chăng một phần là do kiểu ngắt nhịp khá
phổ biến này.
Vần cũng là một yếu tố quan trọng của cả thơ lẫn nhạc. Trịnh Công Sơn
gieo vần hết sức linh hoạt và sáng tạo. Nhạc Trịnh dễ nhớ, dễ hát một phần
cũng do lối gieo vần của tác giả. Cũng nhƣ nhà thơ Nguyễn Bính, Trịnh Công
Sơn gieo vần theo thể thơ lục bát của dân tộc một cách tự nhiên, không hề gò
ép. Trịnh Công Sơn có nhiều cách gieo vần nhƣng cách gieo vần đƣợc ông sử
dụng nhiều nhất trong ca từ của anh là cách gieo vần “chân” (các từ hiệp vần
đều nằm cuối câu) và thƣờng liền với nhau từng nhóm ba câu một vần. Cách
gieo vần này cũng góp phần tạo nên âm điệu riêng của nhạc Trịnh Công Sơn.
Chẳng hạn nhƣ: Đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ/ Sỏi đá trông em từng giờ/
Nghe buồn nhịp chân bơ vơ Cồn đá rêu phong rủ buồn/ Đèn phố nghe mưa
đá buồn); Cuộc tình lên cao vút/ Như chim mỏi cánh rồi/ Như chim xa lìa
bầy/ Như chim xa lìa trờ/ Nnhư chim bỏ đường bay (Tình sầu). Người bình
thường chỉ có thể so sánh “như chim mỏi cánh rồi” là hết, nhƣng Trịnh Công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
24
Sơn có thể so sánh liên tục mà lại hết sức dễ dàng nhƣ lấy “từ trong túi ra”.
Muốn so sánh dễ dàng nhƣ vậy phải có óc liên tƣởng phong phú và nhạy bén.
Với Trịnh, thiên nhiên là ngƣời bạn thân thiết sẵn sàng trở thành chất liệu
giúp nhạc sĩ thể hiện ý tƣởng, tình cảm của mình. Thiên nhiên không chỉ trở
thành đối tƣợng để so sánh mà còn biến thành hình ảnh ẩn dụ, nhân hóa trong
những tình khúc của Trịnh. Nghe nhạc Trịnh, ta bắt gặp rất nhiều các hình
ảnh: Con chim ở đậu, con cá ở trọ; chợt buồn trong mắt nai; đồi núi nghiêng
nghiêng đợi chờ; sỏi đá trông em từng giờ
* Tiểu kết
Chất liệu dân gian càng trở lên đậm nét hơn khi những khúc ru đƣợc cất
lên, cứ ngân nga, cứ du dƣơng nhƣ lời ru của mẹ chan chứa trong ca khúc của
Trịnh Công Sơn. Có khi là lời ru của mẹ của bà nhƣng có khi là lời ru của em,
lời du của anh cho em, của con cho mẹ, cho chính thân phận kiếp ngƣời của
ông. Trịnh tìm thấy sự bình yên trong tiếng ru, những du khúc ông viết đã an
ủi cho bản thân ông khi ông không nên duyên với ai, cũng là lời an ủi cho thế
hệ của nhạc sĩ. Trịnh Công Sơn ru chính ông, ru tình, ru đời.
Một số đặc điểm về cách ghép từ, ngắt nhịp, gieo vần, biện pháp so
sánh đã góp phần làm cho nhạc Trịnh Công Sơn tƣởng chừng nhƣ không
giống ai nhƣng lại vô cùng giản dị mà không đơn điệu, quen thuộc mà vẫn
mới lạ, triết lý mà chứa chan tình cảm. Và đặc biệt ca từ của ông lại rất đậm
chất dân gian, chúng ta thấy rõ ràng trong ca từ của ông tuy “ma mị” nhƣng
lại rất đời thƣờng rất gần gũi nhƣ những hình ảnh thân quen của đời sống từ
hòn đá cho đến Đóa hoa vô thường.
nhân vật, xây dựng không khí truyện huyền ảo, thần bí, cách kết thúc truyện
có hậu trong các truyện cổ tích. Nhà văn, nhà thơ cách xây dựng các hình
tƣợng về ngƣời anh hùng và lối miêu tả những biến cố lịch sử mang tính cộng
đồng trong sử thi, và cách nói hài hƣớc, dí dỏm mà sâu sắc trong truyện cƣời
dân gian giúp nhà văn nhà thơ giáo dục sâu sắc của dân gian qua những câu
chuyện ngụ ngôn.