Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HÀN THỊ THU HƢỜNG PHƢƠNG THỨC SO SÁNH
TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Tạ Văn Thông
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số : 60.22.01 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Tạ Văn Thông
THÁI NGUYÊN - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác.
6. Đóng góp của luận văn 8
7. Bố cục của luận văn
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ
1.1. Khái quát về so sánh 10
1.1.1. Khái niệm “so sánh” 10
1.1.2. Cấu trúc so sánh 12
1.1.3. Các kiểu so sánh 17
1.2. Khái quát về ca từ 20
1.2.1. Khái niệm “ca từ” 20
1.2.2. Ngôn ngữ trong ca từ 21
1.2.3. Hình tƣợng ca từ 23
1.2.4. Chủ thể cảm xúc trong ca từ 24
1.3. Trịnh Công Sơn và những ca khúc của ông 27
1.3.1. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Trịnh Công Sơn 27
1.3.2. Khái quát về những ca khúc của Trịnh Công Sơn 32
Tiểu kết 36
CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA PHƢƠNG
THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
2.1. Đặc điểm hình thái - cấu trúc của phƣơng thức so sánh trong 38
ca từ Trịnh Công Sơn
2.1.1. Các kiểu cấu trúc so sánh 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
5
2.1.2. Đặc điểm của yếu tố đƣợc so sánh 49
2.1.3. Đặc điểm của yếu tố so sánh 52
2.1.4. Đặc điểm của các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh 57
2.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của phƣơng thức so sánh trong ca từ 59
Trịnh Công Sơn
2.2.1. Đặc điểm của yếu tố đƣợc so sánh 59
thể nói, so sánh là một thao tác thƣờng xuyên, có ý thức hoặc vô thức, trong
đời sống hàng ngày của con ngƣời. Đối với văn học nghệ thuật, so sánh đƣợc
xem là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo. Nghiên cứu về phép so sánh của một
tác phẩm văn nghệ giúp ta tìm hiểu một cỏch thức quan trọng (trong số các
phép tu từ khác) đƣợc các tác giả dùng để tạo nên ngôn từ nghệ thuật trong
tác phẩm của mình.
Từ xa xƣa, âm nhạc đã là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với
nhân loại, bởi nó đem lại cho con ngƣời những cảm xúc khỏc nhau qua sự
cảm nhận những hình tƣợng nghệ thuật. Việc nghiên cứu âm nhạc nói chung
và ca từ nói riêng là một công việc không đơn giản nhƣng đầy lí thú.
Cũng nhƣ trong các hình thức văn nghệ khác, so sánh trong ca từ rất cần
đƣợc chú ý, về phƣơng thức này góp phần quan trọng trong việc xây dựng hình
tƣợng nghệ thuật và giúp nghệ sĩ đƣa tác phẩm (bài ca) đi vào lòng ngƣời nghe.
1.2. “Ngƣời hát rong qua nhiều thế hệ”, “ngƣời ca thơ”, “ngƣời viết
tình ca hay nhất thế kỉ”…, đó là những từ ngữ ngƣời ta đã dùng để gọi Trịnh
Công Sơn - ngƣời nhạc sĩ mà mỗi khi những ca khúc của ông đƣợc cất lên,
chúng ta đều cảm thấy lòng mình nhƣ lắng lại trong nhịp điệu và tiết tấu du
dƣơng, với một nỗi buồn da diết, để chiêm nghiệm, để nhìn lại mình, để trí
tƣởng tƣợng bay xa đến thế giới của những yêu thƣơng tha thiết, những nỗi
dằn vặt về tình yêu và thân phận con ngƣời. Những ca khúc của ông không
chỉ mang lại một “giọng điệu” riêng, mà cũn thể hiện tớnh nhõn văn sâu sắc.
Ở Việt Nam, chƣa có nhạc sĩ nào tạo dựng đƣợc cho mình một dòng nhạc độc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
7
lập nhƣ Trịnh Công Sơn. Ngƣời ta vẫn thƣờng gọi dòng nhạc của ông với cái
tên bình dị, thân quen, là: “Nhạc Trịnh”.
Trong những năm tháng đất nƣớc chìm trong khói lửa chiến tranh, nhạc
sĩ này đã ôm đàn “hát cho dân tôi nghe”. Những ca khúc của ông đã vƣợt lên
mƣa bom bão đạn, vƣợt lên cảnh “máu xƣơng trập trùng”, xoá nhoà đi cái
2.1. Các phƣơng thức biểu hiện của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm
văn chƣơng, trong đó có phƣơng thức so sánh, đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu
trƣớc đây đề cập tới.
Lịch sử nghiên cứu phƣơng thức so sánh ghi nhận tên tuổi của nhà triết
học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hi Lạp là Arisstotle (384 - 322 TCN). Trong
cuốn Thi học, khi trình bày những cách tu từ chủ yếu và phổ dụng, Arisstotle
đã chú ý đến so sánh. Ông xem đây là một trong những biện pháp đƣợc sử
dụng rất phổ biến trong văn chƣơng, đặc biệt rất đắc dụng trong thơ ca nhằm
tăng hiệu quả biểu cảm và giỏ trị thẩm mĩ.
Ở Trung Hoa cổ đại, cùng với ẩn dụ, lí luận về so sánh đƣợc bộc lộ qua
những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thơ ca dân gian Trung Quốc.
Trong các công trình nghiên cứu, các học giả Trung Hoa thƣờng dùng khái
niệm “tỉ” và “hứng” khi nói về phƣơng thức nghệ thuật có liên quan đến cách
ví von bóng gió.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu phƣơng thức nghệ thuật này trên quan
điểm ngữ văn học đƣợc kế thừa và phát triển truyền thống bình giảng tác
phẩm văn học Trung Hoa, theo khuynh hƣớng coi đó là thuộc mĩ từ pháp, là
một trong những “phép làm văn”.
Cho đến nay, ở Việt Nam đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về
các phƣơng thức tu từ, trong đó có so sánh, tiêu biểu là: Đinh Trọng Lạc với
Giáo trình Việt ngữ (Nxb GD, 1964), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng
Việt (Nxb GD, 1996), Phong cách học tiếng Việt (Nxb GD, 1998); Cù Đình
Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb ĐH&THCN,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
9
1983); Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Nxb
ĐHQGHN, 2001); Nguyễn Thế Lịch với Từ so sánh đến ẩn dụ (T/c Ngụn
ngữ, số 3, 1991); Hoàng Kim Ngọc với cuốn So sỏnh và ẩn dụ trong ca dao
trữ tỡnh (Nxb KHXH, 2009)…
văn học. Những bài viết ấy đều có dung lƣợng nhỏ, chủ yếu là kể về những kỉ
niệm, giai thoại, bày tỏ cảm xúc, ấn tƣợng và tình yêu đối với nhạc sĩ, cảm
nhận đối với từng bài hát, những đồng cảm về thân phận con ngƣời trong
chiến tranh qua những ca khúc phản chiến, những nỗi đau trong tình yêu, và
những phát hiện về triết lí sống trong nhạc Trịnh…Chƣa có nhiều những bài
viết mang tính chất nghiên cứu ca từ dƣới góc độ ngôn ngữ, càng ít gặp những
bài viết nghiên cứu riêng về phƣơng thức so sánh.
Cuốn sách mang tính chuyên luận đầu tiên nghiên cứu về ca từ Trịnh
Công Sơn là cuốn Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của
Bùi Vĩnh Phúc. Trong cuốn sách này, tác giả đã dành riêng một chƣơng để viết
về nghệ thuật ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn. Đó là cách viết ca khúc nhƣ những
bài thơ, cách dùng những hình ảnh tỉnh lƣợc, những câu bỏ lửng, những nét đối
xứng và những biện pháp tu từ. Trong phần viết về những biện pháp tu từ, tác
giả có đề cập đến biện pháp so sánh nhƣng ông chỉ dừng lại ở việc mô tả biện
pháp này và đƣa ra một số ví dụ minh hoạ, chứ chƣa đi sâu nghiên cứu những
đặc điểm về hình thái cấu trúc, đặc điểm về ngữ nghĩa cũng nhƣ vai trò của so
sánh đối với việc xây dựng hình tƣợng nghệ thuật trong ca khúc Trịnh Công
Sơn.
Ngoài những cuốn sách viết về cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của
Trịnh Công Sơn đã xuất bản kể trên, có thể kể đến những công trình nghiên
cứu mang tính chất chuyên đề về ca từ nhạc Trịnh: Luận văn Thạc sĩ, chuyên
ngành Văn học Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Thuý, Đại học Sƣ phạm
Quy Nhơn (2006) với đề tài Ca từ Trịnh Công Sơn - những ca khúc về tình
yêu và thân phận con người với những mảng nghiên cứu về cuộc đời và sự
nghiệp, tầm ảnh hƣởng của Trịnh Công Sơn, thân phận con ngƣời và tình yêu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
11
trong ca khúc Trịnh Công Sơn; Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Văn học Việt
Nam của Lê Thị Thu Hiền, Đại học Sƣ phạm Hà Nội (2007) với đề tài Quan
- Miêu tả những biểu hiện cụ thể của việc sử dụng phƣơng thức so sánh
về hình thức và ngữ nghĩa, những vai trò của việc sử dụng phƣơng thức này
để xây dựng hình tƣợng nghệ thuật, trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn.
- Từ sự phân tích nói trên, giúp ngƣời đọc hƣớng tới một số nhận xét về
đặc điểm đáng chú ý trong phong cách ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn xét về
phƣơng diện so sỏnh.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn đƣợc xác định là ca từ của Trịnh
Công Sơn. Trờn thực tế, ca từ của Trịnh Công Sơn đƣợc công bố trong nhiều
tuyển tập ca khúc khác nhau, nhƣ: Một cõi đi về, Nxb Văn nghệ TPHCM,
1992; Khói trời mênh mông Nxb Văn nghệ TPHCM, 1992; Em còn nhớ hay
em đã quên, Nxb Trẻ, 1993; Những bài ca không năm tháng, Nxb Âm nhạc,
1998… Tuy nhiờn trong luận văn này, sẽ đƣợc chọn làm đối tƣợng khảo sát là
242 văn bản ca từ (không có phần nhạc) đƣợc công bố trong cuốn Trịnh Công
Sơn - vết chân dã tràng của tác giả Ban Mai xuất bản năm 2008 tại Nxb Lao
Động - Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây. Văn bản những ca khúc này
đƣợc công bố với sự cho phép của ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh - em gỏi của nhạc sĩ
và là ngƣời thừa kế bản quyền nhạc Trịnh và ông Phạm Văn Đỉnh - Chủ tịch
Hội Văn hoá Trịnh Công Sơn (Pháp) - ngƣời đó sƣu tầm và chỉnh lí thƣ mục
ca khúc Trịnh Công Sơn. Có thể nói đây là nguồn tƣ liệu đáng tin cậy để
nghiên cứu về ca từ Trịnh Công Sơn (Danh mục các ca khúc này đƣợc trình
bày ở cuối luận văn).
Ngoài 242 văn bản ca từ kể trên, đề tài còn dựa vào một thứ “siêu văn
bản” khác. Đó là hoàn cảnh xã hội, không khí thời đại, bầu khí quyển triết
học, chính trị trong đó những ca từ của Trịnh Công Sơn ra đời, và hoàn cảnh,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
tâm sự cá nhân của chính nhạc sĩ… Đây có thể đƣợc xem nhƣ những gợi mở
tuởng, đƣợc sử dụng ở ca từ Trịnh Công Sơn. Kết quả của luận văn sẽ là minh
chứng cho khả năng tìm hiểu về giá trị của văn bản nghệ thuật dƣới góc nhìn
ngôn ngữ học, đồng thời góp thêm tƣ liệu và cách nhìn nhận đối với bộ môn Tu
từ học nói chung và nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong cỏc ca khúc nói riêng.
- Về mặt thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giúp cho những ngƣời quan
tâm đến dũng nhạc Trịnh có cái nhìn đa chiều hơn về giá trị tác phẩm, trong
đó ngoài chiều sâu tƣ tƣởng, thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả, cũn
cú sự tài hoa về tiếng Việt. Đồng thời, nó có thể giúp những ngƣời yêu nhạc
tiếp cận có định hƣớng và dễ dàng hơn với dòng nhạc đƣợc đánh giá là “kén
ngƣời nghe” này, từ đó biết thƣởng thức những cái hay, cái đẹp của nhạc
Trịnh và nhận thức đƣợc một cách sâu sắc những cảm xúc, những triết lí nhân
sinh mà ngƣời nhạc sĩ tài hoa này muốn gửi gắm qua những ca khúc của
mình, cũng nhƣ có cơ sở để hiểu hơn về tiềm năng của tiếng Việt.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn bao gồm 3 chƣơng
nhƣ sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tế
Chƣơng 2: Đặc điểm hình thái - cấu trúc và ngữ nghĩa của phƣơng
thức so sánh trong ca từ Trịnh Công Sơn
Chƣơng 3: Phƣơng thức so sánh với hình tƣợng nghệ thuật trong ca
khúc Trịnh Công Sơn
Phần Phụ lục gồm:
- Danh mục những ca khúc đƣợc khảo sát trong luận văn
- Một số văn bản ca khỳc của Trịnh Công Sơn
- Một số đoạn tản văn của Trịnh Công Sơn
- Một số hình ảnh và bút tích của Trịnh Công Sơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
16
Hoà; Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú; Phong
cách học tiếng Việt hiện đại của Hữu Đạt
Trong những công trình kể trên, hầu hết các tác giả đều đƣa ra sự phân
biệt giữa so sánh tu từ và so sánh logic (so sánh luận lí). Theo các tác giả này,
trong so sánh logic, cái đƣợc so sánh và cái so sánh là các đối tƣợng cùng loại và
mục đích của sự so sánh là xác lập sự tƣơng đƣơng giữa hai đối tƣợng. Ví dụ:
- Mặt con cũng tròn như mặt mẹ
- Cô Hoa gầy hơn cô Huệ
- Giá trị của (a+b)(a-b) bằng giá trị của a
2
- b
2
So sánh tu từ khác với so sánh logic ở tính hình tƣợng, tính biểu cảm và
tính dị loại (không cùng loại) của sự vật. Ví dụ:
- Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa (Nguyễn Du)
- Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải lụa đào tẩm hương (Ca dao)
Với sự phân biệt nói trên, những khái nệm đuợc đƣa ra trong các giáo
trình phong cách học đều định nghĩa so sánh với tƣ cách là một trong những
biện pháp tu từ ngữ nghĩa.
Trong cuốn Giáo trình Việt ngữ, tác giả Đinh Trọng Lạc đã quan niệm
về so sánh nhƣ sau: “So sánh là định nghĩa sự vật, hiện tƣợng hoặc khái niệm
ở trong ngôn ngữ nghệ thuật thông qua sự so sánh chúng với hiện tƣợng hoặc
khái niệm có cùng dấu hiệu chung. Mục đích so sánh là để cụ thể hoá những
sự vật trừu tƣợng, để ngƣời đọc dễ hiểu, dễ tƣởng tƣợng hơn.”. Ở cuốn giáo
trình này, tác giả chủ yếu tiến hành khảo sát hình thức biểu hiện của so sánh.
Có thể nói, đây chính là một trong những giáo trình đầu tiên của môn Phong
1.2.2. Cấu trúc so sánh
Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc so sánh.
Theo cỏc tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà trong cuốn giáo
trình Phong cách học tiếng Việt, hình thức đầy đủ nhất của phƣơng thức so
sánh gồm 4 yếu tố:
- Cái cần đƣợc so sánh, kí hiệu là (A)
- Cơ sở so sánh, kí hiệu là (t)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
18
- Từ so sánh, kí hiệu là (tss)
- Cái đƣợc dùng làm chuẩn để so sánh, kí hiệu là (B)
A
(t)
(tss)
B
Cổ tay em
trắng
nhƣ
ngà
Mô hình cấu trúc đầy đủ đƣợc đƣa ra là:
A (t) tss B
Tuy nhiên, trên thực tế, tùy từng trƣờng hợp, ngƣời ta có thể đảo trật tự
so sánh hoặc bớt một số yếu tố trong mô hình. Cụ thể ta có 5 biến thể của mô
hình cấu trúc so sánh trên:
1. Đảo trật tự so sánh: (t) A tss B. Ví dụ:
Chòng chành như nón không quai
Như thuyền không lái như ai không chồng (Ca dao)
Ví dụ:
Lũ đế quốc như bầy quỷ sống
Nướng người ăn, nhảy nhót, reo cười (Tố Hữu)
Trong bài viết “Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật đăng
trên Số phụ Tạp chí ngôn ngữ số 1, 1998, cũng giống nhƣ cỏc tỏc giả Đinh
Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà, tỏc giả Nguyễn Thế Lịch đã đƣa ra một cấu
trúc so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố:
- Yếu tố cần so sánh, tức là đƣợc (hay bị) so sánh (YTĐSS) - (A);
- Yếu tố biểu thị thuộc tính của sự vật, nêu rõ phƣơng diện so sánh
(YTPD) - (x);
- Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH) - (tss);
- Yếu tố đƣợc dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS) - (B).
Theo tác giả, mô hình cấu trúc so sánh hoàn chỉnh là:
YT§SS
YTPD
YTQH
YTSS
Mặt
tƣơi
nhƣ
hoa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
20
Đặc điểm của từng yếu tố đƣợc Nguyễn Thế Lịch trình bày cụ thể nhƣ
sau:
a. Yếu tố đƣợc so sánh: về nguyên tắc, bất kì sự vật, hiện tƣợng gì cũng
có thể đem ra so sánh:
Cặp từ hô ứng bao nhiêu bấy nhiêu, ví dụ:
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu (Ca dao)
d. Yếu tố so sánh: đƣợc xem là quan trọng nhất và không thể thiếu của
cấu trúc so sánh vì đó là chuẩn của so sánh, và không có chuẩn thì không
thành so sánh. Sự xuất hiện của yếu tố này là kết quả quá trình quan sát, liên
tƣởng của ngƣời nói. Theo Nguyễn Thế Lịch, yếu tố này có một số cấu trúc sau:
- Nêu lên tên gọi sự vật đƣợc dùng làm chuẩn. Ví dụ: má đào, tóc mây, mũi
dọc dừa, mặt chữ điền, con mắt lá răm, lông mày lá liễu, ngón tay búp măng…
- Miêu tả chi tiết thuộc tính của sự vật đƣợc dùng làm chuẩn, ví dụ:
- Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất dậm hương và rộn tiếng chim (Tố Hữu)
- Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải lụa đào tẩm hương (Ca dao)
- Thể hiện nhiều sự vật khác nhau, ví dụ:
- Hồn tôi giếng ngọt trong veo
Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh (Nguyễn Bính)
- Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu (Ca dao)
Theo khảo sát của Nguyễn Thế Lịch, không phải cấu trúc so sánh nào
cũng hội tụ cả 4 yếu tố trên, và tác giả đã đƣa ra 4 cấu trúc so sánh không
hoàn chỉnh nhƣ sau:
a. Vắng yếu tố phƣơng diện, ví dụ:
Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật, như đường mía lau (Ca dao)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
22
b. Vắng yếu tố phƣơng diện và yếu tố quan hệ, ví dụ:
Tác giả Đào Thản nhìn nhận phép so sánh ở mặt nội dung và phân chia
dựa vào mục đích so sánh. Theo đó, tác giả đã đƣa ra 8 kiểu so sánh nhƣ sau: - So sánh để giải thích,ví dụ:
Ở nông thôn, nước ví như sông mà chủ nghĩa xã hội như thuyền, nước
sông lên thì thuyền đi lại dễ dàng. (Hồ Chí Minh)
- So sánh để miêu tả,ví dụ:
Ánh nắng tháng năm rát như lửa chàm vào mặt. (Ngô Tất Tố)
- So sánh để đánh giá, ví dụ:
Thế địch như lửa, thế ta như nước. (Hồ Chí Minh)
- So sánh để biểu lộ tình cảm, ví dụ:
Chúng ta hãy phấn đấu như mùa xuân, với nhiệt tình như ánh nắng.
(Hồ Chí Minh)
- So sánh liên tiếp, ví dụ:
Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu (Ca dao)
- So sánh phát triển, ví dụ:
Thân em như tấm lụa đào
Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai (Ca dao)
- So sánh hơn - kém, ví dụ:
Ngọc nào bằng tay em (Tố Hữu)
- So sánh đặc biệt
Đây là kiểu so sánh mà hai vế đƣợc thể hiện hoàn toàn cân đối về hình
thức và nội dung. Kiểu so sánh này diễn đạt những tình huống hoặc sự kiện
(không dùng để diễn đạt thuộc tính) mà tính cân đối là điều kiện để nhận dạng
sự so sánh. Ví dụ:
Cây khô xuống núi cũng khô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
25
Ở kiểu so sánh này thƣờng có các từ so sánh bằng, là mang tính
khẳng định, ví dụ:
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con chèo hái mỗi ngày (Đỗ Trung Quân)
b. So sánh dị biệt, bao gồm:
- So sánh dị biệt hơn, gồm:
+ So sánh dị biệt hơn tuyệt đối: thƣờng có những từ so sánh nhất (A),
nhì (B), tam, tứ , thứ nhất (A), thứ nhì (B) Thông thƣờng, trong dạng kết
cấu này A, B đƣợc xếp theo thứ tự phân hạng đánh giá, ví dụ:
Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền. (Tục ngữ)
Tuy nhiên vẫn có những trƣờng hợp thứ tự này chỉ mang tính ƣớc lệ,
tức là ngƣời sáng tác quan tâm đến vần điệu nhiều hơn là thứ tự mức độ
“quan trọng” của đối tƣợng đƣợc liệt kê. Xếp một đối tƣợng nào đó theo thứ
tự nhất, nhì còn tuỳ thuộc vào quan nệm chủ quan của ngƣời nói.
+ So sánh dị biệt hơn tƣơng đối: thƣờng có những từ chuyên dụng: hơn,
còn hơn , ví dụ:
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người (Tục ngữ)
- So sánh dị biệt kém:
Để biểu thị quan hệ so sánh dị biệt kém, ngƣời ta thƣờng dùng các từ so
sánh nhƣ: thua, kém, không bằng, sao bằng, chẳng bằng, không tày , ví dụ:
Đêm nằm ở dưới bóng trăng
Thương cha, nhớ mẹ không bằng thương em (Ca dao)
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CA TỪ
1.2.1. Khái niệm "ca từ"
Trong âm nhạc, ca từ (lời của bài hỏt) giữ một vai trò quan trọng. Ca từ
bổ sung tính cụ thể cho hình tƣợng âm nhạc, hay nói cách khác, nó làm nhiệm