một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đá mài hải dương - Pdf 23

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG VỐNG LƯU ĐỘNG
1.1. Tổng quan về vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm vốn lưu động.
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành bất kì hoạt động sản xuất
kinh doanh nào cần có sự kết hợp giữa 3 yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng
lao động, sức lao động. Khác với tư liệu lao động, các đối tượng lao động chỉ
tham gia vào một chu kì sản xuất kinh doanh và không giữ nguyên hình thái
vật chất ban đầu, giá trị của nó được dịch chuyển một lần toàn bộ vào giá trị
sản phẩm.
Những đối tượng lao động nói trên, xét về hình thái hiện vật được gọi là
tài sản lưu động, xét về hình thái giá trị thì được gọi là vốn lưu động.
Tài sản lưu động trong doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: tài sản lưu động
sản xuất và tài sản lưu động lưu thông:
• Tài sản lưu động sản xuất: Bao gồm những tài sản dự trữ cho quá
trình sản xuất và trong quá trình sản xuất như nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu, thành phẩm dở dang, bán thành phẩm.
• Tài sản lưu động lưu thông: là tài sản nằm trong quá trình lưu thông
như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh
toán.
Để hình thành nên các tài sản lưu động , doanh nghiệp cần phải ứng ra
một số vốn tiền tệ nhất định để đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn này được gọi
là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Vốn lưu động là số vốn ứng ra để hình thành tài sản lưu động nhằm
đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường
xuyên liên tục.

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
1

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
gây ứ đọng vốn ở khâu dự trữ và đảm bảo được khả năng thanh toán nhanh
của doanh nghiệp.
1.1.2.2 Phân loại theo vai trò từng loại vốn trong quá trình sản xuất
kinh doanh
Theo cách phân loại trên, vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia
thành các loại chủ yếu sau:
• Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất, bao gồm: Vốn nguyên,
vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật
đóng gói, vốn công cụ dụng cụ nhỏ.
• Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất, bao gồm: Vốn sản
phẩm đang chế tạo, vốn về chi phí trả trước.
• Vốn lưu động trong khâu lưu thông, bao gồm: vốn thành phẩm, vốn
bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư về tài chính ngắn hạn.
Theo cách phân loại này cho ta thấy kết cấu vốn lưu động theo vai trò.
Từ đó giúp cho việc đánh giá được tình hình phân bổ vốn trong các khâu của
quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn trong
kinh doanh. Từ đó có giải pháp quản lý vốn hiệu quả làm tăng tốc độ luân
chuyển vốn.
Qua các cách phân loại vốn lưu động, doanh nghiệp có thể xác định cho
mình một kết cấu vốn lưu động hợp lý phù hợp với đặc điểm kinh doanh của
công ty, phân tích kết cấu vốn lưu động để từ đó thấy được những đặc điểm
riêng biệt về vốn lưu động mà doanh nghiệp mình quản lý và sử dụng. Từ đó
doanh nghiệp xác định được trọng tâm quản lý và có những giải pháp quản lý
vốn lưu động phù hợp qua các thời kỳ.
1.1.3. Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu
vốn lưu động.
1.1.3.1. Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thuận lợi vừa là căn cứ để kiểm
tra tình hình sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Tuy nhiên vốn lưu động
là một nhân tố động không cố định mà thường xuyên biến đổi do tác động của
nhiều nhân tố khác nhau. Do đó muốn xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
động, nhà quản lý doanh nghiệp cần phải chú ý đến các nhân tố ảnh hưởng
đến nhu cầu vốn lưu động, trong đó cần chú ý đến một số nhân tố sau:
 Thứ nhất, những yếu tố về đặc điểm tính chất ngành nghề kinh
doanh như: chu kỳ kinh doanh, quy mô kinh doanh, tính chất thời vụ, những
thay đổi về kỹ thuật công nghệ sản xuất. Các yếu tố này có ảnh hưởng trực
tiếp đến số vốn lưu động mà doanh nghiệp phải ứng ra và thời gian ứng vốn.
 Thứ hai, những yếu tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm như:
khoảng cách giữa doanh nghiệp với các nhà cung cấp vật tư hàng hoá, sự biến
động giá cả của các loại vật tư, hàng hoá mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, khoảng cách giữa doanh nghiệp với thị trường bán
hàng, điều kiện và phương tiện vân tải.
 Thứ ba, chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, tín
dụng và tổ chức thanh toán.
1.1.3.2. Các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của
doanh nghiệp
• Phương pháp trực tiếp
Nội dung cơ bản của phương pháp này là: Căn cứ vào các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến lượng VLĐ mà DN phải ứng ra để xác định nhu cầu VLĐ
thường xuyên. Việc xác định nhu cầu VLĐ theo phương pháp này có thể xác
định theo công thức sau:
Nhu cầu = Mức dự trữ + Khoản phải thu - Khoản phải trả
Vốn lưu động hàng tồn kho từ khách hàng người cung cấp

Nó thích hợp với việc xác định nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp có
quy mô nhỏ.
 Trường hợp 2: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở thời
kỳ vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu chuẩn ở thời kỳ tiếp
theo.Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa các
yếu tố hợp thành nhu cầu vốn lưu động gồm: hàng tồn kho, nợ phải thu của
khách hàng, nợ phải trả nhà cung cấp (số nợ phát sinh có tính chất chu kỳ và
có tính chất tự động) với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
chuẩn nhu cầu vốn lưu động theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này để xác định
nhu cầu vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo.
Trình tự thực hiện:
- Xác định số dư bình quân các khoản hợp thành nhu cầu vốn lưu động
trong năm báo cáo. Chọn ra những khoản mục chịu sự tác động trực tiếp và có
mối quan hệ chặt chẽ với doanh thu và tính tỷ lệ phần trăm của các khoản mục
đó so với doanh thu thực hiện được trong kỳ.
- Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo
cáo. trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động so với doanh thu thuần.
- Xác định nhu cầu vốn lưu động cho kỳ kế hoạch.
Phương pháp này có ưu điểm là việc tính toán tương đối đơn giản giúp
doanh nghiệp nhanh chóng ước tính được nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp năm kế hoạch để xác định nguồn tài trợ phù hợp, thích hợp với việc
xác định vốn lưu động trong những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Tuy
nhiên trong những trường hợp vốn lưu động của doanh nghiệp thường có
những biến đổi bất thường thì việc xác định nhu cầu vốn lưu động này có
phần hạn chế độ chính xác.
1.1.4. Các phương pháp tài trợ vốn lưu động

tạm thời sẽ làm giảm chi phí sử dụng vốn.

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
Nguồn vốn lưu động
thường xuyên
Tài sản lưu động Nợ ngắn hạn
Nguồn vốn lưu động
thường xuyên
Tổng nguồn vốn
thường xuyên
Giá trị còn lại của
TSCĐ và TSDH khác
Nguồn vốn thường
xuyên của DN
Nợ dài hạn
Giá trị còn lại của
TSCĐ
Tổng nguyên giá
TSCĐ
Khấu hao lũy kế của
TSCĐ
Nguồn vốn chủ
sở hữu
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Nguồn vốn tạm thời phụ thuộc vào những nhu cầu có tính chất tạm thời
phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Cần thêm vật tư dự trữ, cần
vốn để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ hàng hoá bị ứ đọng chưa tiêu thụ được
Như vậy:
Để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành được liên tục thì

thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được tài trợ bằng nguồn vốn tạm thời.
Mô hình này giúp cho doanh nghiệp xác lập được sự cân bằng về thời
gian sử dụng tài sản với thời gian huy động nguồn tài trợ. Đồng thời giúp
doanh nghiệp hạn chế được những rủi ro trong thanh toán, mức độ an toàn cao
hơn, giảm bớt được chi phí sử dụng vốn nhưng lại có hạn chế là chưa tạo ra sự
linh hoạt trong tổ chức sử dụng vốn, thường vốn nào nguồn ấy, tính chắc chắn
được đảm bảo hơn song kém linh hoạt hơn.
b, Mô hình tài trợ thứ hai:
Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên và một phần tài sản lưu động
tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, một phần TSLĐ tam
thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn lưu động tạm thời.

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
Tiền
Thời gian
TSLĐ TX
TSCĐ
TSLĐ
Tạm thời
Nguồn vốn
tạm thời
Nguồn vốn
thường
xuyên
10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Sử dụng mô hình này đảm bảo khả năng thanh toán và độ an toàn ở
mức cao, tuy nhiên doanh nghiệp phải sử dụng nhiều khoản vay trung và dài
hạn nên chi phí sử dụng vốn cao hơn.
c, Mô hình tài trợ thứ ba:

có, thông qua các biện pháp tổ chức quản lý và sử dụng số vốn đó mang lại
nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là vấn đề cần thiết, xuất
phát từ những lý do chủ yếu sau:
• Xuất phát từ vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất
kinh doanh
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình tái
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong cùng một thời điểm, vốn lưu

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
Tiền
Thời gian
TSCĐ
TSLĐ
Tạm thời
Nguồn vốn
tạm thời
Nguồn vốn
thường
xuyên
TSLĐ TX
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
động tồn tại ở nhiều hình thái khác nhau từ vật tư hàng hoá đến tiền mặt, tiền
gửi. Vốn lưu động có mặt ở các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, nó
luôn vận động, luôn biến đổi. Nếu doanh nghiệp không đủ vốn lưu động đầu
tư sẽ ảnh hưởng tới quy mô sản xuất dự kiến, gây đình trệ trong kinh doanh,
mất đi cơ hội kinh doanh, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Mặt khác nếu
doanh nghiệp có vốn lưu động ứ đọng ở một khâu bất kỳ sẽ gây ra lãng phí,
làm tăng chi phí sử dụng vốn, giảm hiệu quả sinh lời. Ngoài ra, việc phân bổ

vốn cho doanh nghiệp.
• Xuất phát từ thực tế hiệu quả sử dụng vốn lưu động với các doanh
nghiệp hiện nay:
Thực tế các doanh nghiệp hiện nay tình trạng thiếu vốn lưu động vẫn
còn phổ biến. Lượng vốn phân bổ ở các khâu chưa hợp lý ảnh hưởng đến hiệu
quả sử dụng vốn. Lượng vốn lưu động thực chất động còn hạn chế trong mỗi
doanh nghiệp do tồn đọng ở khâu thành phẩm kém chất lượng không tiêu thụ
được,nợ phải thu khó đòi. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động là cần thiết trong các doanh nghiệp hiện nay.
Mặt khác, vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều
nguồn khác nhau như nguồn vốn vay, nguồn vốn tự bổ sung… Trong đó
nguồn vốn vay chiếm tỷ trọng không nhỏ, các doanh nghiệp sẽ phải mất một
khoản chi phí lãi vay. Do vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ góp phần
giảm lượng vốn lưu động cần thiết phải huy động, giảm được một khoản lãi
vay phải trả.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại
doanh nghiệp
1.2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn
• Tốc độ luân chuyển vốn lưu động (L).
Được thể hiện qua hai chỉ tiêu: số lần luân chuyển vốn lưu động và kì
luân chuyển vốn lưu động.
Số lần luân chuyển vốn lưu động là tỷ lệ giữa tổng mức luân chuyển
vốn lưu động trong kỳ và số vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ của
doanh nghiệp.
 Số lần luân chuyển vốn lưu động được xác định theo công thức:

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
14
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH


360
×
=

Trong đó:
• K: là kỳ luân chuyển vốn lưu động
• N: là Số ngày trong kỳ (thống nhất N = 360 ngày)
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực
hiện một lần luân chuyển vốn (phản ánh độ dài thời gian một vòng quay của
vốn lưu động trong kỳ của doanh nghiệp). Kỳ luân chuyển càng ngắn, chứng

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
tỏ tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng nhanh, hiệu suất sử dụng vốn lưu
động càng cao.
• Mức tiết kiệm vốn lưu động ( VTK ):
Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh
nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm
hoặc tăng không đáng kể quy mô vốn lưu động.
Mức tiết kiệm vốn lưu động được xác định theo công thức:

360
)(*
011
KKM
V
tk

=

doanh thu. Đây là chỉ tiêu nghịch đảo với chỉ tiêu số vòng quay VLĐ.
Công thức tính như sau:

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Mức dùng vốn lưu động càng thấp thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động
càng cao và ngược lại.
• Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
Là chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết một đồng VLĐ sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
• Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là tỷ lệ giữa tài sản lưu động và
đầu tư ngắn hạn với tổng nợ ngắn hạn (bao hàm cả nợ dài hạn đến hạn trả).
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn được xác định như sau:
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ đảm bảo của TSLĐ với
nợ ngắn hạn. Nếu trị số của chỉ tiêu này lớn hơn bằng 1 thì doanh nghiệp có
đủ và thừa khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính
là bình thường khả quan. Ngược lại nếu trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1,
khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp, doanh nghiệp
không đảm bảo đáp ứng được các khoản nợ ngắn hạn. Tính hợp lí của hệ số
này phụ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh. Ngành nghề mà chiếm tỉ

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
Hàm lượng vốn lưu
động
Vốn lưu động bình quân
Doanh thu thuần

Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán ngay
các khoản nợ bằng tiền và chứng khoán ngắn hạn có thể chuyển đổi thành

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
Hệ số khả năng
thanh toán nhanh
Tổng TSNH – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng
thanh toán tức thời
Tiền + Tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
18
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
tiền. Thông thường hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất. Hệ số này vẫn có thể <1
mà doanh nghiệp vẫn đảm bảo khả năng thanh toán tức thời vì mẫu số là toàn
bộ các khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng 1
năm còn tử số là các khoản có thể sử dụng để thanh toán trongn thời hạn 3
tháng. Nếu hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc
thanh toán công nợ, vì vào lúc cần doanh nghiệp có thể buộc phải sử dụng các
biện pháp bất lợi như bán các tài sản với giá thấp để trả nợ. Tuy nhiên, độ lớn
của hệ số này cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kì hạn thanh
toán của món nợ phải thu, phải trả trong kì.
• Hệ số khả năng thanh toán lãi vay:
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp
và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ.
Hệ số này được xác định theo công thức:
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng thanh toán các khoản lãi vay trong kỳ
bằng lợi nhuận do sử dụng tiền vay. Chỉ tiêu này cao hay thấp phụ thuộc vào
mức độ sinh lời của hoạt dộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và lãi

1.3. Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại
doanh nghiệp
1.3.1. Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả tổ chức và
sử dụng vốn lưu động
Trong quá trình tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh
nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, ta có thể chia ra thành hai nhóm
nhân tố sau:
1.3.1.1. Các nhân tố khách quan

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
Số ngày một vòng
quay hàng tồn kho
Số ngày trong kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay các
khoản phải thu
Doanh thu thuần
Số dư BQ các khoản phải thu
Kì thu tiền trung
bình
Số ngày trong kỳ
Số vòng quay các khoản phải thu
20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
• Sự ổn định của nền kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái,
lạm phát cao hay thấp đều ảnh hưởng đến nhu cầu cũng như hiệu quả sử dụng
vốn. Đặc biệt là lạm phát làm cho giá cả các mặt hàng tăng lên từ đó làm giảm
sức mua của đồng tiền. Với một lượng vốn lưu động như trước đây không còn
đủ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động trog điều kiện lạm phát.
• Rủi ro: Trong kinh doanh không thể tránh khỏi những rủi ro như

quan tâm đầu tư thời gian và công sức một cách thích đáng với yêu cầu của
nó. Phải có kế hoạch và bước đi cụ thể; lựa chọn phương pháp xác định nhu
cầu vốn lưu động một cách hợp lý, phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của
doanh nghiệp mình. Trên thực tế phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu được
nhiều doanh nghiệp áp dụng để xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp mình, bởi nó đơn giản, tương đối chính xác, thích hợp cho việc lập kế
hoạch nhu cầu vốn lưu động thường xuyên đối với nhiều loại hình doanh
nghiệp.
Việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất
kinh doanh giúp doanh nghiệp đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn nhằm
hạn chế tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh từ
đó gây ảnh hưởng bất lợi đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như làm
tăng chi phí, tăng rủi ro, giảm uy tín cho doanh nghiệp, đồng thời cũng tránh
được tình trạng ứ đọng vốn không phát huy được hiệu quả kinh tế cho doanh
nghiệp.
• Thứ hai, tổ chức huy động vốn lưu động một cách hợp lý và đầu tư
đúng đắn
Trong việc huy động vốn, doanh nghiệp cần tích cực khai thác triệt để
nguồn vốn bên trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu VLĐ
của doanh nghiệp đồng thời tính toán lựa chọn các nguồn vốn bên ngoài cho
hợp lý (hợp lý cả về thời gian và mục đích sử dụng) để giảm tới mức thấp nhất
chi phí sử dụng vốn.

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
22
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Khi quyết định đầu tư, doanh nghiệp cần phải cân nhắc kĩ thị trường
tiêu thụ, tình hình cung ứng nguyên vật liệu, quy trình công nghệ, áp dụng
tổng hợp nhiều biện pháp để rút ngắn chu kỳ sản xuất.
• Thứ ba, phân bổ nguồn vốn lưu động một cách hợp lý

• Thứ năm, tăng cường phát huy chức năng giám đốc tài chính trong
quản lý vốn lưu động
Doanh nghiệp cần phải tăng cường phát huy chức năng giám đốc tài
chính trong quản lý sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng. Thực
hiện biện pháp này, đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra việc sử
dụng vốn lưu động ở tất cả các khâu: dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Việc kiểm tra phải được áp dụng kỹ lưỡng và có hệ thống. Đồng thời phải kịp
thời có sự điều chỉnh phù hợp, tạo điều kiện cho sự luân chuyển của vốn lưu
động, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
• Thứ sáu, tổ chức tốt quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Doanh nghiệp cần phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận sản xuất,
không ngừng nâng cao năng suất lao động từ đó giảm thiểu chi phí, hạ giá
thành sản phẩm, tích cực nghiên cứu tìm hiểu thị trường, đồng thời tăng
cường công tác tiếp thị marketing, quảng cáo và có những chính sách tín
dụng thương mại phù hợp nhằm tăng khối lượng tiêu thụ sản phẩm, hạn chế
tối đa sản phẩm tồn kho, tănh nhanh vòng quay của vốn.
• Thứ bảy, quan tâm đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Trước tiên cần nâng cao bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản
lý nhất là cán bộ tài chính, để họ - những nhà lãnh đạo nhà quản lý trong
doanh nghiệp thật sự có trình độ và nhạy bén với những diễn biến phức tạp
của thị trường, đúng đắn trong việc ra các quyết định. Đồng thời có kế hoạch
tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực ngay từ đầu để chuẩn bị thay thế cho
những cán bộ công nhân viên không đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công
việc. Bên cạnh đó cần có những chính sách kỷ luật và đãi ngộ hợp lý nhằm
khuyến khích và phát huy sức sáng tạo, lòng nhiệt tình, cống hiến trong công
việc của từng cá nhân.

Vũ Đức Hùng CQ45/11.02
24
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status