MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐIỆN NƯỚC HẢI HÀ - Pdf 66

MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH
DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐIỆN NƯỚC HẢI HÀ.
Qua những phân tích đã nêu trên, ta thấy trong những năm qua Công ty
cổ phần xây lắp điện nước Hải Hà đã vượt qua những khó khăn, thực hiện
kinh doanh một cách có hiệu quả, cụ thể: trong 2 năm 2001 - 2002 công ty đều
làm ăn có lãi, đóng góp vào ngân sách nhà nước một số lượng không nhỏ,
ngoài ra công ty đã bảo toàn được vốn. Tuy nhiên để có thể đứng vững, phát
triển và hoàn thành được kế hoạch đề ra đòi hỏi ban lãnh đạo công ty cùng
CBCNV trong công ty cần cố gắng và nỗ lực hơn nữa trong sản xuất kinh
doanh và trong quản lý sử dụng vốn kinh doanh của công ty.
Trên cơ sở phân tích tình hình sử dụng vốn kinh doanh ở trên, em xin
mạnh dạn dưa ra một số đánh giá và đề xuất một số ý kiến mang tính giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của Công ty
cổ phần xây lắp điện nước Hải Hà.
I. Những định hướng phát triển công ty trong những năm tới.
Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Điện Nước Hải Hà đã thành lặp trong một thời
gian tương đối lâu (1995 ) do đó công ty cũng đã đạt được những thành công
nhất định trong bước đường phát triển của mình. Những thành công mà công
ty gặt hái được là do sự cố gắng nỗ lực của ban giám đốc, cán bộ công nhân
viên trong công ty cùng sự quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước. Công
ty đã đề ra những biện pháp, chính sách phát triển hợp lý, từng bước tự khẳng
định mình.
Trong hội nghị tổng kết cuối năm 2002 công ty đã đề ra những định
hướng sau phát triển trong những năm tới là:
- Mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, chuyển dần từ xây dựng cơ bản
sang sản xuất kinh doanh, với những mặt hàng mới như: tấm tường cánh cửa
bằng tôn, tôn mạ mầu nhằm nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh
tranh của công ty trên thị trường.
-Từng bước nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty cả
về vật chất lẫn tinh thần. Để họ phát huy được tinh thần trách nhiệm, năng lực
công việc.

thi công xây lắp trong kỳ. Hai bên có thể thoả thuận về phương thức thanh toán đối với hạng mục, khối
lượng thi công xây lắp, tỷ lệ tạm ứng, thanh toán. Để giảm bớt nhu cầu vốn phải huy động từ bên ngoài. Như
ở Chương II ta đã phân tích cho thấy, khả năng thanh toán nhanh của công ty năm 2002 là thấp ( cuối năm
2002 là 0,4 < 1 ), như vậy sẽ làm cho tình hình tài chính của công ty không được lành mạnh, phụ thuộc tài
chính vào đơn vị khác . Do đó để có thể nâng cao và đảm bảo uy tín của mình trong việc trả lãi và vốn gốc
đúng hạn để tạo điều kiện cho công ty vay thêm vốn thì trước mắt công ty cần giảm thiểu hàng hoá tồn kho
chuyển nhanh tốc độ chu chuyển vốn vật tư hàng hoá sang vốn bằng tiền tăng khả năng thanh toán nhanh
cho công ty. Do đặc điểm ngành nghề kinh doanh nên chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tồn cao, nhưng
không phải là không có cách khắc phục:
+ Trước khi ký kết hợp đồng công ty cần xem xét khả năng tài chính của công ty đối tác có khả năng
thanh toán không.
+ Tham gia đấu thầu xây, lắp các công trình dân dụng vì với những công trình này chủ đàu tư có khả
năng thanh toán ngay sau khi công trình hoàn thành.
+ Thiết lập quan hệ chặt chẽ với nhà cung cấp, từ đó có thể thoả thuận với nhà cung cấp về thanh toán
khoản phải trả. Công ty có thể thoả thuận sau khi quyết toán công trình, bên A thanh toán thì sẽ trả cho nhà
cung cấp các khoản phải trả. Tuy nhiên phương pháp này phải dựa vào uy tín của công ty, cũng như quan hệ
đối với nhà cung cấp.
+ Công ty cần hoàn thành nhanh chóng khối lượng công việc, bàn giao sản phẩm cho khách hàng từ
đó thu tiền bán hàng tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng VKD.
- Đối với nguồn vốn tạm thời chiếm dụng: Đến thời điểm 31/12/02 công ty đã chiếm dụng 51% trong
tổng các khoản phải trả, công ty đã chiếm dụng vốn để sản xuất kinh doanh là điều cần thiết, nhưng bên
cạnh việc tận dụng nguồn vốn này trong thời gian được phép thì công ty cần phải đảm bảo trả được nợ để
tạo lòng tin với bạn hàng; và không để tình trạng nợ quá hạn hay công ty không có khả năng thanh toán.
2. Tăng cường quản lý VLĐ, phấn đấu tăng tốc độ chu chuyển VLĐ, cải
thiện tình hình tổ chức của công ty.
Vốn lưu động của công ty chiếm một tỷ trọng tương đối lớn so với tổng
VKD (71.2%) trong đó vốn trong thanh toán chiếm tỷ trọng không nhỏ so với
tổng VLĐ , đây là khoản vốn của công ty mà người khác đang sử dụng trong
khi công ty đang thiếu vốn do vậy mà công ty cần phải đẩy mạnh công tác thu
hồi công nợ góp phần tăng nhanh vòng quay của VLĐ nói riêng và vốn SXKD

- Thời hạn thanh toán quy định trong một số hợp đồng chưa rõ ràng làm cho việc quyết toán công
trình gặp nhiều khó khăn.
- Do công ty có các công trình thi công kéo dài dẫn đến chi phí SXKD tồn nhiều trong kho.
Do đó, để đảm sự ổn định, lành mạnh, tự chủ về mặt tài chính, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn
từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh công ty cần có các biện pháp hữu hiệu hơn nữa:
+ Quản lý chặt chẽ các khoản nợ phải thu. Trước khi ký kết các hợp đồng và chấp nhận tín dụng
công ty cần thẩm định và xem xét khả năng thanh toán của khách hàng cũng như uy tín của khách hàng trên
thương trường. Trong hợp đồng ký kết công ty cần quy định rõ ràng, chặt chẽ về thời gian và phương thức
thanh toán đối với hạng mục, khối lượng thi công xây lắp, tỷ lệ tạm ứng…yêu cầu các bên phải chịu trách
nhiệm đầy đủ nghiêm túc các quy định trong hợp đồng, đề ra các hình thức phạt do vi phạm hợp đồng, phạt
nợ quá hạn và phải chịu lãi suất theo lãi suất nợ quá hạn của ngân hàng. Mặt khác công ty phải có phương
pháp quản lý các khoản phải thu như quản lý các khoản phải thu theo thời gian, đây là phương pháp mà các
nhà quản lý sắp xếp các khoản phải thu của khách hàng để tiện theo dõi và có biện pháp đôn đốc, xử lý. Công
ty cần sắp xếp thành các khoản phải thu chưa đến hạn, đã đến hạn và quá hạn. Trong số nợ quá hạn cần theo
dõi thành các khoản nợ trên một năm; nợ quá hạn trên hai năm; nợ quá hạn từ ba năm trở lên và nợ khó
đòi. Đồng thời tiến hành lập quỹ dự phòng phải thu khó đòi nhằm xử lý các khoản nợ quá hạn quá lâu và các
khoản nợ khó đòi. Quỹ dự phòng phải thu khó đòi được dùng để bù đắp cho các khoản phải thu khó đòi mà
khả năng không jthu hồi được nợ là 100% nhằm hạn chế những biến động có ảnh hưởng xấu đến tình hình
tài chính của công ty. Việc dùng quỹ này để bù đắp các khoản phải thu khó đòi không có nghĩa là xoá nợ,
chấm dứt nghĩa vụ trả nợ cho doanh nghiệp mắc nợ mà công ty cần tiếp tục theo dõi và có biện pháp tích cực
để thu hồi nợ.
+ Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hàng tồn kho. Trong năm 2002 lương hàng tồn kho nhìn
chung giảm xuống so với năm 2001 nhưng vẫn ở mức cao. Trong dó chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
chiếm đa số, điều đó dẫn đến lượng vốn bằng tiền của công ty chiếm một tỷ lệ rất nhỏ chỉ có 0,92%( tính đến
thời điểm 31/12/02 ). Do đó trong thời gian tới công ty cần có biện pháp khắc phục nhằm đấy nhanh vòng
quay vốn lưu động thông qua việc quản lý tốt hàng tồn kho. Cụ thể:
• Công ty cần thực hiện cơ chế khoán hợp lý xuống các xí nghiệp, đội thi công, phấn đấu hoàn
thành nhanh nhất, đúng tiến độ nhất, đảm bảo, chất lượng công trình hoàn thành bàn giao.
• Xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ kthi công, xây lắp trong
kỳ, để tránh gây thiếu vốn hoặc ứ đọng vốn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status