Những vấn đề cơ bản về môi trường vùng Đông Bắc VN - Pdf 23

Tạp chí Khoa học & Công nghệ
-
Số 4
(
44
) Tp 2
/
Năm 2007

62

Những vấn đề cơ bản về môi trờng vùng Đông Bắc Việt Nam
Nguyn Ngc Khánh (Viện Khoa học X hội Việt Nam)-
Nông Quc Chinh (Khoa Khoa học Tự nhiên & XH- ĐH Thái Nguyên
)
1. Đặt vấn đề
Vùng Đông Bắc bao gồm 11 tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái
Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang với diện tích 64.025,2 km
2

(chiếm khoảng 19,3% diện tích cả nớc), số dân gần 9,5 triệu ngời (2006), chiếm 38,7% dân số các
tỉnh miền núi trung du phía Bắc và 11,2% dân số cả nớc.
Tên gọi ca vùng đ nói lên vị trí chiến lợc về kinh tế, chính trị, an ninh quc phòng cũng
nh môi trờng và phát triển bền vững i vi Quc gia.
Vùng Đông Bắc là vành đai tiền tiêu phía Bắc, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong môi
trờng đầu t, thơng mại thông qua việc trao đổi hàng hoá, giao lu buôn bán với Đông Nam Trung
Quốc - ni đang đợc Trung Quốc quan tâm phát triển với chiến lợc Duyên biên khai phóng, Hỗ
trợ dân biên qua các cửa khẩu Đồng Đăng (Lạng Sơn), Hà Khẩu (Lào Cai), Thanh Thuỷ (Hà

(
44
) Tp 2
/
Năm 2007

63
vùng chè thơm ngon nổi tiếng cả nớc, những vùng trồng các cây thuốc quý, các cây mùa đông và
sản xuất hạt rau giống. Khả năng mở rộng diện tích và nâng cao năng suất cây trồng của vùng Đông
Bắc còn rất lớn. Ngoài ra, vùng này còn có thế mạnh về chăn nuôi gia súc nh trâu, bò, ngựa, dê, và
gia cầm, đặc biệt là phát triển đàn trâu.
Xa kia, Đông Bắc là một trong những vùng có nhiều rừng, nhng do khai thác không hợp
lý, cộng với sức ép gia tăng dân số và hoạt động sản xuất truyền thống (nơng ry), rừng gần nh bị
tàn phá triệt để. Độ che phủ của đất hiện tại chỉ còn 17%. Do đó, việc trồng và tu bổ lại rừng là một
vấn đề quan trọng hàng đầu đối với việc phát triển kinh tế - x hội của vùng Đông Bắc.
2.2. Tiềm năng nhân văn
Vùng Đông Bắc là "cái nôi" của dân tộc; nơi đ từng xuất hiện các nhà nớc Việt cổ là Văn
Lang và Âu Lạc. Các dân tộc sinh sống trên mảnh đất Đông Bắc với những sắc thái văn hoá độc đáo
đ tạo nên một tổng thể văn hoá đa dạng và phong phú.
Xét về lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vùng Đông Bắc đ để lại những di tích hiển hách
trong việc chinh phục tự nhiên và chống ngoại xâm nh Chi Lăng, Bạch Đằng căn cứ địa Việt Bắc,
Phay Khắt, hang Pắc Bó, Nà Ngần, suối Lênin, đờng số 4 Những đền chùa, miếu mạo trong vùng
thờ các vị tiền bối là biểu hiện cụ thể cho sự ghi ơn của nhân dân trong từng thời kỳ lịch sử dựng
nớc và giữ nớc nh đền Hùng, Cửa Ông, Côn Sơn, Kiếp Bạc Những giá trị lịch sử và văn hoá kết
hợp với phong cảnh tự nhiên nh vịnh Hạ Long, động Tam Thanh, Nhị Thanh, núi Tam Đảo, khu
Tân Trào, v.v. đ trở thành tiềm năng lớn đối với kinh tế và dịch vụ du lịch.
Nguồn nhân lực và sức lao động trong vùng rất phong phú, đến năm 2006 có gần 9,5 triệu

/
Năm 2007

64

Vấn đề x hội của vùng Đông Bắc đang đứng trớc những thách thức lớn cho phát triển
bền vững, đây là vùng có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, mật độ dân c tha thớt và là một
trong những vùng có tỷ lệ nghèo cao trong cả nớc. Một số tỉnh biên giới nh Cao Bằng, Lào
Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang có tỷ lệ hộ nghèo cao và tỷ lệ hộ nghèo chủ yếu là trong
các cộng đồng ngời Mông, ngời Dao, ngời Nùng. Cơ sở hạ tầng kinh tế, đặc biệt là giao
thông, điện và nớc đ đợc nhà nớc hết sức quan tâm, song, so với yêu cầu phát triển kinh tế,
văn hoá- x hội cần đợc nâng cao hơn nữa cả về lợng và chất.
2.3. Vấn đề khai thác nguồn lực cho phát triển kinh tế x hội
Vùng Đông Bắc có lịch sử khai thác lnh thổ khá sớm, từ trớc công nguyên, dân c các bộ lạc
ở đây đ là một trong 15 bộ của nớc Văn Lang, sau đó là nhà nớc Âu Lạc, nhng quá trình khai thác
đặc biệt mạnh mẽ vào thời kỳ Pháp thuộc đ làm suy giảm tài nguyên và suy thoái môi trờng.
Từ đổi mới và nhất là giai đoạn phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hoạt động kinh tế
trong vùng đợc đẩy lên mạnh mẽ từ năm 1990 trở lại đây và đ đạt đợc những kết quả nhất định.
Đến năm 2002 tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của toàn vùng theo giá hiện hành đạt 21,597 tỉ đồng,
chiếm 4,05% GDP toàn quốc. Cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển dịch theo hớng phát triển và đẩy
mạnh công nghiệp và dịch vụ. Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng trong GDP từ 20,6% năm 1990 tăng
lên 26,3% năm 2002, tỷ trọng nông - lâm - ng nghiệp giảm tơng đối từ 46,5% xuống 33,6% và
dịch vụ tăng từ 32,9% lên 33,8%. GDP bình quân đầu ngời năm 2002 đạt 2383 nghìn đồng, bằng
38% bình quân của cả nớc. Tăng trởng kinh tế của nhiều địa phơng trong vùng đạt mức khá
cao (trên 9%/ năm - nh Thái Nguyên, Lạng Sơn,), cao hơn so với mức tăng trởng bình quân
của cả nớc; Cơ cấu kinh tế của vùng và nhiều địa phơng trong vùng đ và đang có sự chuyển
biến tích cực, theo hớng CNH, với sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp và dịch vụ,

Năm 2007

65
Về nông nghiệp, Đông Bắc có khả năng phát triển tập đoàn giống cây trồng, vật nuôi khá
đa dạng và phong phú, vừa mang sắc thái của nền nông nghiệp nhiệt đới, vừa có những nét của nền
nông nghiệp cận nhiệt và ôn đới. Tuy nhiên, cho đến nay nông nghiệp của vùng vẫn cha khai thác
có hiệu quả tiềm năng đặc thù này để sản xuất nhiều loại nông sản hàng hoá có giá trị kinh tế cao
nhằm thoả mn nhu cầu trong nớc và xuất khẩu. Cơ cấu ngành nông nghiệp của Đông Bắc thời
gian qua vẫn chủ yếu là trồng trọt. Trong trồng trọt thì cây lơng thực vẫn giữ vị trí hàng đầu. Thời
gian qua, cơ cấu sản xuất nông nghiệp của vùng đ có những chuyển dịch theo hớng sản xuất
hàng hoá và đ hình thành một số vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hoá. Trong vùng đ quy
hoạch phát triển đợc một số nông trờng cung cấp nguyên liệu cho ngành giấy và gỗ trụ mỏ.
Vùng biển Đông Bắc với nhiều bi cá và hàng nghìn hòn đảo có nguồn tài nguyên biển
phong phú, đa dạng và là vùng có tiềm năng đánh bắt cá, nuôi trồng thuỷ hải sản, tập trung chủ yếu ở
vùng ven biển Quảng Ninh, nhng, ngành thuỷ sản Đông Bắc chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá trị
sản xuất thuỷ sản của cả nớc (5% GDP toàn ngành).
Đợc thiên nhiên u đi, vùng Đông Bắc có bi biển Trà Cổ, có vịnh Hạ Long, một di
sản thiên nhiên của thế giới với phong cảnh đẹp, nhiều hang động đầm hồ, những khu rừng đặc
dụng giá trị và nguồn tài nguyên nhân văn phong phú (các di tích lịch sử, đền chùa ), đó là
nguồn tài nguyên cho phát triển nhiều loại hình du lịch nh du lịch nghỉ dỡng, du lịch tham
quan thắng cảnh, du lịch văn hoá, du lịch sinh thái Ngành du lịch trong vùng đang có xu hớng
phát triển mạnh với tâm phát triển là Hạ Long.
Về kinh tế cửa khẩu, với lợi thế về vị trí địa lý và nguồn lực đa dạng, kinh tế - x hội
vùng Đông Bắc cũng đ và đang vận động theo xu thế mở cửa, hoà nhập với kinh tế đất nớc và
hội nhập kinh tế quốc tế. Thu hút vốn đầu t nớc ngoài và hoạt động xuất - nhập khẩu ngày
càng tăng. Một số địa phơng trong vùng (nh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai,) đ và đang
xúc tiến quy hoạch, đầu t phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp, thơng mại và
66

- Hai là sự tơng đồng trong chế độ chính trị của hai nớc, trong việc xây dựng một nền
kinh tế thị trờng theo định hớng x hội chủ nghĩa có tốc độ cao và ổn định, đặc biệt là sự lu
tâm ở mức độ cao về quan hệ kinh tế văn hoá, biểu hiện qua sự tăng cờng giao lu hợp tác
kinh tế văn hoá trên nền tảng tin cậy lẫn nhau về chính trị, hớng tới mục tiêu phát triển bền
vững. Vì vậy, mặc dù địa phơng biên giới hai nớc còn nghèo, cơ cấu kinh tế tơng tự nhau,
nhng cùng hớng tới một mục tiêu phát triển thì sự hợp tác sẽ bền chặt và hiệu quả. Trên cơ sở
đó, có thể tiến tới sự tăng cờng phối hợp đảm bảo an ninh cho toàn bộ vành đai biên giới, điều
đó lại càng làm cho quan hệ thân hữu giữa hai bên càng bền chặt hơn.
- Ba là tính bổ sung cho nhau về hàng hoá, trong đó, nhiều mặt hàng chủ lực của Việt
Nam đợc nhập khẩu từ Trung Quốc nh phân bón, hoá chất, sắt thép, sản phẩm hoá dầu,
nguyên phụ liệu dệt may - da, thiết bị máy móc, một số mặt hàng tiêu dùng Ngợc lại, một số
chủng loại hàng hoá của Việt Nam đợc xuất sang Trung Quốc với số lợng khá lớn nh dầu
thô, than đá, cao su thiên nhiên, rau quả nhiệt đới, thuỷ sản tơi - đông lạnh, hàng nông sản, v.v.
Nhìn vào cơ cấu hàng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc có thể thấy rõ ràng
sự bổ sung cho nhau khá cao. Điều này đợc chứng minh bởi quan hệ thơng mại giữa Việt Nam
và Trung Quốc luôn duy trì tốc độ tăng trởng cao, từ chỉ có vài chục triệu USD ban đầu, thì nay
Trung Quốc đ trở thành bạn hàng số một của Việt Nam, mục tiêu kim ngạch hai chiều đặt ra
cho năm 2005 là 5 tỷ USD thì đ đạt đợc 8,73 tỷ USD, do vậy mục tiêu đạt 10 tỷ USD cho năm
2010 sẽ có khả năng về đích sớm trớc 3 năm. Tuy kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên
giới giữa hai nớc còn chiếm một tỷ lệ nhỏ (khoảng 1%), nhng lại có vị trí quan trọng đối với
kinh tế của 7 tỉnh biên giới phía Bắc nói riêng và cả nớc nói chung, trong đó hàng đầu là tỉnh
Quảng Ninh, thứ hai là Lạng Sơn, rồi đến Hà Giang, Cao Bằng, Lao Cai, Điện Biên và Lai Châu.
- Thứ t, giữa hai hành lang biên giới có nhiều đặc điểm chung trên các mặt tự nhiên,
kinh tế, x hội và nhân văn, phát huy cao độ lợi thế về sự hoà đồng địa lý, tâm lý và tính đồng
nhất về phong tục tập quán. Đây là yếu tố cơ bản để xây dựng nên một vành đai phát triển kinh
tế biên giới cửa khẩu giữa hai nớc nói chung và giữa biên giới phía Bắc nói riêng.

67
Những hạn chế
- Tốc độ phát triển các chợ mậu dịch trao đổi còn cha đồng bộ giữa hai bên, do đó, các
khu chức năng nh thơng mại quốc tế, kho bi và các tuyến lu thông hàng hoá còn cha đáp
ứng yêu cầu đề ra.
- Khả năng thông quan còn hạn chế bởi những rào cản bất hợp lý, cần đợc tháo gỡ. Hoạt
động kiểm tra hàng hoá hai bên cha đợc thống nhất, do vậy, thời gian thông quan còn kéo dài,
cần tiến tới thông quan kiểu một trạm, thừa nhận chứng chỉ hàng hoá của hai bên để thuận tiện
cho công tác kiểm hoá.
- Cần gỡ bỏ những rào cản chính sách của hai nớc đối với các sản phẩm xuất khẩu nh
chính sách xuất khẩu sản phẩm quặng, chính sách đói với việc gia công hàng xuất nhập khẩu, v.v
- Cơ sở hạ tầng dịch vụ cho các hoạt động biên mậu cần đợc sớm đợc hoàn chỉnh và
đồng bộ hoá và cần cân bằng mặt bằng kinh tế cửa khẩu giữa hai bên.
- Năng lực cán bộ, chất lợng lao động của hai bên còn có những chênh lệch đáng kể,
cần đợc đào tạo, chuyển giao kỹ thuật để tiến tới cùng một mặt bằng trình độ, đáp ứng các tiêu
chuẩn chung của vành đai phát triển KT-XH.
Trong những năm qua lợng khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam qua các khu kinh tế của
khẩu tăng nhanh, năm 2005 đạt khoảng 800-900 nghìn lơt khách Trung Quốc đến Việt Nam và
khoảng 300-400 nghìn lợt khách Việt Nam đến Trung Quốc qua các khu kinh tế cửa khẩu của vùng.
Ngoài các hoạt động giao lu kinh tế, văn hóa và du lịch là một số hoạt động đầu t.
Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu t Việt Nam, năm 2005, tổng vốn đầu t của
Trung Quốc vào Việt Nam vợt 100 triệu USD, đạt 106 triệu USD, tăng 32.21% so với cùng kỳ
năm 2004. 8 tháng đầu năm 2007, Trung Quốc đ đầu t vào Việt Nam 28 dự án, với số vốn
đăng ký là 49 triệu USD, tăng 18% so cùng kỳ năm ngoái. Tính đến ngày 31/8/2006, đầu t của
Trung Quốc vào Việt Nam có 382 dự án còn hiệu lực, với số vốn đăng ký 805 triệu USD, số vốn
thực hiện đạt 207 triệu USD trong số đó các dự án đầu t vào vùng Đông Bắc chiếm khoảng 30%
tổng số vốn đầu t của Trung Quốc vào Việt Nam.
3. Tổng quan những vấn đề môi trờng lãnh thổ Đông Bắc
3.1. Những vấn đề môi trờng nền
Vùng Đông Bắc có nhiều sông suối, ao hồ và có một vùng biển rộng phía Tây Bắc vịnh

lửng, độ đục, nitrit, đôi nơi còn có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ Hg và Cd do các hoạt động xây dựng, do
nguồn nớc thải từ các khu công nghiệp, các đô thị trên lu vực không đợc xử lý thải trực tiếp vào
nguồn nớc. Chính vì vậy, mà ngay tại Lao Cai, trong nớc sông Hồng có mặt hầu hết các nguyên tố
kim loại nặng và vi lợng, tuy hàm lợng còn thấp
- Hệ thống sông Cầu là một trong những hệ thống sông đang đợc báo động ở nớc ta về tình
trạng ô nhiễm. Theo báo cáo hiện trạng MT Việt Nam (2006) thì nớc mặt tại trung lu và hạ lu
của lu vực sông Cầu đang bị ô nhiễm cục bộ bởi một số chất gây ô nhiễm hữu cơ, chất rắn lơ lửng
và dầu mỡ, trong đó có nơi đang bị ô nhiễm ở mức độ nghiêm trọng. Không chỉ dòng chính mà các
phụ lu nh suối Phợng Hoàng, sông Công, sông Cà Lồ, hoặc có dấu hiệu ô nhiễm, hoặc đ bị
ô nhiễm tơng đối nghiêm trọng do các hoạt động khai thác khoáng sản, (vàng, than, thiếc,
v.v.), do hoạt động giao thông thuỷ và do các nguồn thải công nghiệp và sinh hoạt.
Trên lu vực này, lợng nớc thải của các cơ sở khai khoáng, luyện kim, sản xuất giấy, chế
biến thực phẩm là những nguồn thải chính gây nên sự suy thoái môi trờng nớc lu vực sông Cầu.
Nớc thải từ một số khu công nghiệp của Bắc Giang tuy mới đợc thành lập, nhng nớc thải cũng
chỉ xử lí sơ bộ rồi đa thẳng vào nguồn nớc. Đặc biệt, nớc thải của một số làng nghề nh 25 làng
nghề ở Bắc Giang, 12 cơ sở mây tre đan và 30 bàn tuyển quặng ở Thái Nguyên cùng với 16 làng
nghề ở Vĩnh Phúc có chứa các chất độc hại (kim loại nặng, hoá chất độc, chất hữu cơ, v.v.) cũng
đợc đổ thải thẳng vào nguồn nớc.
Tốc độ dân số gia tăng và sự phát triển của các đô thị trên lu vực sông Cầu, trong khi cơ
sở hạ tầng cha theo kịp tốc độ phát triển đ dẫn đến hậu quả là nớc thải sinh hoạt đều không
qua xử lí mà đa thẳng vào nguồn nớc. Ngoài ra hơn 1.200 cơ sở y tế trên lu vực với khoảng
15.400 giờng bệnh đ thải ra khoảng 5.400m
3
nớc thải mỗi ngày, mang theo nhiều hoá chất
độc hại, chất hữu co và vi khuẩn gây bệnh.
Hoạt động nông nghiệp trên cơ sở phát triển cây lúa chủ lực, trên lu vực sông Cầu còn phát
triển nhiều diện tích cây dài ngày (chủ yếu là cây ăn quả) đ sử dụng hàng năm khoảng 500.000 tấn
hân hoá học và 4.000 tấn thuốc BVTV. Hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm đều tăng nhng không
xử lí chất thải rắn cũng nh nớc thải, mà phần lớn đều đa vào nguồn nớc mặt.
- Chất lợng nớc sông của các sông chính trong hệ thống sông ngòi duyên hải Quảng Ninh

Nguồn nớc ngầm khá phong phú và đều đảm bảo chất lợng, cục bộ tại các khu vực đô thị,
xung quanh các khu công nghiệp, nguồn nớc có dấu hiệu ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, chủ yếu là
do ảnh hởng của nớc thải sinh hoạt ngấm xuống.
Mặt nớc biển vùng ven biển Quảng Ninh, đ và đang chịu sức ép về ô nhiễm môi trờng do
tác động của các nguồn thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, hoạt động lấn biển, các hoạt động vận
tải thuỷ, cảng biển và sự phát triển mạnh của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ven biển gây ra.
Kết quả quan trắc chất lợng nớc biển ven bờ và diễn biến hàng năm cho thấy hoạt động
nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là hình thức nuôi quảng canh đ và đang tiềm ẩn những nguy cơ
gây ô nhiễm môi trờng do cha có hệ thống nớc thải tập trung trên lục địa đổ xuống vực nớc
biển, do thức ăn thừa trong nuôi trồng thuỷ, hải sản, dịch bệnh lan truyền. ảnh hởng của các khu
vực dân c và các cảng than ven bờ mà môi trờng nớc biển ven bờ Bi Cháy vẫn có những biểu
hiện ô nhiễm cục bộ (hàm lợng TSS cao, DO giảm, BOD và COD tăng và khuẩn gây bệnh
Coliform ). Tại bến tàu Hạ Long xuất hiện váng dầu trên mặt nớc vợt giới hạn cho phép.
Tại vùng lõi của khu Di sản Thiên nhiên Thế giới vịnh Hạ Long, hàm lợng váng dầu mỡ
trong nớc, chất dinh dỡng (Nitơ, Phốt pho) ở mức cao do ảnh hởng của tàu thuyền đi lại, do tiếp
nhận các nguồn thải do sinh hoạt và nuôi hải sản trên vịnh.
Môi trờng không khí toàn vùng đợc xem là còn trong lành, tuy nhiên các dấu hiệu ô
nhiễm cục bộ về môi trờng không khí đ quan sát thấy ở các khu công nghiệp, các đô thị, các
trục đờng giao thông, chủ yếu là từ các nguồn thải công nghiệp, giao thông, hoạt động xây
dựng và nguồn thải sinh hoạt.
Quỹ đất có khả năng sử dụng cho nông, lâm nghiệp cho toàn vùng vào khoảng 5 triệu ha
(trong đó, quỹ đất nông nghiệp khoảng 1 triệu ha, quỹ đất lâm nghiệp khoảng 4 triệu ha), hiện nay đ
sử dụng 2,4 triệu ha. Diện tích có thể tăng thêm khoảng 2,6 triệu ha (trong đó 10% dành cho cây lâu
năm, 75% dành cho lâm nghiệp). Khả năng mở rộng diện tích và nâng cao năng suất cây công
nghiệp, cây đặc sản và cây ăn quả của vùng Đông Bắc còn rất lớn. Không những thế, Đông Bắc còn
có thể dành ra một số diện tích tơng đối lớn để phát triển các khu, cụm công nghiệp và hình thành
các đô thị mới. Việc lạm dụng các chế phẩm hoá học và thuốc BVTV đ và đang gây nên những tác
động đáng kể đến chất lợng đất, làm suy giảm độ phì nhiêu và suy thoái môi trờng đất trong vùng.
Hoạt động khai thác khoáng sản trong vùng có những ảnh hởng nhất định đến môi trờng
đất, nhất là các hoạt động khai thác tự do khoáng sản (khai thác than thổ phỉ, khai thác tự do vàng,

tuyến đê - kè, cây cối, hoa màu ao đầm nuôi trồng thuỷ sản v.v ở Quảng Ninh. Ngoài ra còn
những thiên tai nh sạt lở bờ sông ở Phú Thọ, Vĩnh Phúc, sâu bệnh gây hại ở Bắc Giang; sụt lún
đất, trợt lở, nứt đất xảy ra tại Đại Từ, Thái Nguyên và ở Bắc Kạn, sét đánh gây chết ngời và h
hại hệ thống truyền thông ở Lạng Sơn, v.v.
Những sự cố môi trờng đ xảy ra liên quan đến các hoạt động sản xuất, phát triển kinh
tế tại Đông Bắc nh là các sự cố xảy ra trong quá trình khai thác than ở Quảng Ninh (cháy nổ
khí, bục nớc, sập hầm lò), cháy nổ hoá chất và cháy rừng ở Yên Bái, rò rỉ khí amoniac của công
ty rợu bia Viger ở Phú Thọ, cháy rừng tại Vĩnh Phúc, Yên Bái và cháy nổ ở các hộ gia đình tại
Vĩnh Phúc. Cháy nổ ở nhà máy Z115, ô nhiễm môi trờng do thuốc BVTV, chặt phá rừng đầu
nguồn tại Thái Nguyên, v.v.
3.2. Những vấn đề về môi trờng công nghiệp và đô thị
Một trong những vấn đề môi trờng công nghiệp và đô thị hiện nay là nớc thải của hoạt
động công nghiệp và nớc thải sinh hoạt của các đô thị không qua xử lý đ làm ô nhiễm đáng kể các
nguồn nớc, đó là nguyên nhân gây nên sự suy giảm chất lợng nguồn nớc sông Cầu (các cơ sở sản
xuất và các đô thị ở Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang) và các sông nhánh của nó nh sông Thơng
(các cơ sở sản xuất tại Bắc Giang); sông Hồng và hệ thống sông suối nhánh của nó tiếp nhận nớc
thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề, cũng nh từ các đô
thị của Lao Cai, Yên Bái, Phú Thọ.
Nguồn thải của hoạt động khai thác than, xây dựng đô thị tại Quảng Ninh đ làm suy giảm
chất lợng sông suối duyên hải Quảng Ninh. Sông Kỳ Cùng cũng do tiếp nhận nguồn thải của hoạt
động khai thác khoáng sản, hoạt động du lịch, thơng mại và nớc thải sinh hoạt nên cũng không
đáp ứng đợc chất lợng nguồn nớc mặt loại A.
Việc sử dụng nguồn nớc dới đất thiếu quy hoạch của các hộ gia đình thông qua hệ
thống các giếng đào, giếng khoan, giếng đóng tại các đô thị đ và đang làm nhiễm bẩn nguồn
nớc dới đất ở các vùng đô thị và khu công nghiệp. Váng dầu và chất thải sinh hoạt và nguồn
nớc lục địa chảy ra đang là nguy cơ gây suy thoái môi trờng biển và các hệ sinh thái ven bờ
vùng biển Quảng Ninh.
Chất lợng không khí tại các đô thị và các khu công nghiệp liên quan đến các hoạt động dân
sinh, kinh tế, nhất là các hoạt động khai khoáng và sản xuất đ gây nên bụi, khói, tiếng ồn tại các
khu công nghiệp tập trung ở Cẩm Phả - Quảng Ninh, Cam Đờng, Lao Cai, Gang thép Thái Nguyên,

lý riêng mà vẫn theo hệ thống thu gom, vận chuyển và chôn lấp chung với rác thải sinh hoạt.
3.3. Những vấn đề về môi trờng nông nghiệp và nông thôn
Nông thôn trên vùng Đông Bắc chiếm một tỷ lệ rất lớn về diện tích và dân số, hoạt động sản
xuất nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GDP của toàn vùng.
Vấn đề nổi cộm trong môi trờng nông nghiệp trong những năm qua là sâu bệnh đối với cây
trồng, nhất là cây lơng thực - nguồn sống chủ yếu của dân c làm nông nghiệp ở Đông Bắc. Sâu
bệnh vẫn có những diễn biến phức tạp trên cây lúa, cây ngô, cây chè, vì vậy, đ làm gia tăng lợng sử
dụng thuốc trừ sâu trên địa bàn và vấn đề sản phẩm nông nghiệp sạch và an toàn đối với Đông Bắc
vẫn là nan giải. Trong nhiều trờng hợp nh ở Phú Thọ, lợng thuốc BVTV những năm sau này có
giảm về khối lợng, nhng lại gia tăng về hàm lợng, nồng độ và tính năng, điều này đ gây nên
những vụ ngộ độc thực phẩm trên địa bàn. Thực tế cho thấy, ngời nông dân cha có sự hiểu biết
nhiều về tác hại của thuốn BVTV, do vậy ý thức BVMT trong sử dụng thuốc BVTV còn rất thấp.
Mặt khác, các địa phơng cha có biện pháp quản lý, thu gom và xử lí chất thải từ thuốc BVTV,
cũng nh tuyên truyền, giáo dục, mặc dù đó là loại chất thải nguy hại, là nguồn gây ô nhiễm môi
trờng nghiêm trọng, ảnh hởng đến sức khoẻ và an toàn cuộc sống của ngời dân nông thôn.
Tình hình dịch bệnh cho các đàn gia súc và gia cầm trên địa bàn tuy không xảy ra những ổ
dịch lớn, nhng diễn biến cũng khá phức tạp, đòi hỏi những nỗ lực theo dõi và kiểm soát.
Việc phủ xanh đất trống, đồi trọc và trồng rừng trên địa bàn có nhiều chiều hớng tốt, đ làm
cho độ che phủ rừng đợc nâng lên, nhiều giống, loài mới đ đợc phát hiện và nhiều khu rừng đặc
dụng đ đợc nâng cấp từ các khu BTTN lên thành những vờn quốc gia có giá trị cả về môi trờng
sinh thái và giá trị du lịch, nghỉ dỡng. Toàn vùng hiện có 4 VQG, 13 khu BTTN, 1 khu bảo tồn
loài/sinh cảnh, 9 khu bảo vệ cảnh quan. Tuy vậy, hiện tợng cháy rừng và hoạt động phát nơng, làm
ry của đồng bào miền núi, nhất là đồng bào vùng cao đ làm suy giảm chất lợng tài nguyên và suy
thoái môi trờng sinh học. Cháy rừng liên quan đến đốt nơng đang là nguyên nhân gây suy giảm
diện tích rừng trên vùng Đông Bắc và hiện tợng này hầu nh xảy ra trên tất cả các tỉnh trong vùng.
Việc phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản ở vùng biển ven bờ Quảng Ninh cũng có những vấn
đề đặt ra, việc nuôi trồng thuỷ hải sản thờng dẫn đến ô nhiễm nguồn nớc bởi thức ăn cho tôm, cá,
làm giảm diện tích các rừng ngập mặn, việc khai thác nguồn lợi ven bờ bằng công nghệ lạc hậu đang
gây nên sự suy kiệt tài nguyên sinh vật biển. Các vực nớc nội địa cũng đợc sử dụng cho nhiều
mục đích, trong đó có khai thác du lịch, nuôi trồng thuỷ sản và giao thông trên các hồ lớn nh

Những vấn đề môi trờng vùng Đông Bắc
Vùng Đông Bắc là một vùng đất giàu tiềm năng cả về tài nguyên thiên nhiên cũng nh tài
nguyên nhân văn, đây cũng là một vùng đất đ đợc khai thác từ lâu đời, đang phát triểm mạnh mẽ
trong công cuộc CNH, HĐH. Tuy vậy, mặt trái của phát triển KT-XH hiện nay đang để lại những
hậu quả về môi trờng cần đợc cảnh bảo để không xảy ra những sự cố sinh thái. Đây là nội dung
mà bài báo đề cập đến và cho thấy cần thiết phải có những nghiên cứu cả bề sâu và bề rộng về các
vấn đề môi trờng quy mô cấp vùng.
Summary
The Envvironmental problems of Dongbac region
Dongbac terra is the rich region of natural and human resources, and this terra has
exploited in many generations. In now, this region is developmenting strengthly in
industrialzation and modernization works of Vietnam. However, from Social-economic
development, there are many environmental conserquences. Its a content of this report and this
is a necassery study of environmental problems in future for sustainable development
Tài liệu tham khảo
[1]. Bộ Tài nguyên & Môi trờng - Hiện trạng môi trờng Việt Nam 2001; 2004; 2005; 2006.
[2]. Kỷ yếu hội thảo quốc giaNhững vấn đề môi trờng và phát triển bền vững vùng Đông Bắc
dới tác động của quá trình phát triển kinh tế x hội thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thái
Nguyên 20-21/10/2007.
[3]. Hiện trạng môi trờng tỉnh Bắc Giang 2005.
[4]. Hiện trạng môi trờng tỉnh Bắc Kạn 2005.
[5]. Hiện trạng môi trờng tỉnh Lào Cai 2006.
[6]. Hiện trạng môi trờng tỉnh Lạng Sơn 2006.
[7]. Hiện trạng môi trờng tỉnh Phú Thọ 2005.
[8]. Hiện trạng môi trờng tỉnh Quảng Ninh 2006.
[9]. Hiện trạng môi trờng tỉnh Thái Nguyên 2004-2005.
[11]. Hiện trạng môi trờng tỉnh Vĩnh Phúc 2005.
[12]. Hiện trạng môi trờng tỉnh Yên Bái 2004.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status