LỜI NÓI ĐẦU
Xu hướng phát triển ngày nay là tăng cường hợp tác và hội nhập kinh tế
thế giới. Việt Nam đã và đang nỗ lực rất lớn trong các cuộc đàm phán song
phương và đa phương để được tham gia vào tổ chức thương mại thế giới
(WTO), một sân chơi với vô vàn các cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng
không ít những khó khăn thử thách đang chờ đợi. Trong tiến trình ấy Đảng và
Nhà nước ta đã đưa ra định hướng đúng đắn đó là “Tăng cường hội nhập kinh tế
quốc tế trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc”, “Hòa nhập nhưng không
hòa tan”. Chính vì thế Nhà nước đã tạo những cơ chế chính sách khuyến khích
ưu tiên phát triển những ngành nghề truyền thống như thủ công mỹ nghệ. Điều
này không những giúp Việt Nam giữ gìn được những ngành nghề truyền thống
từ ngàn xưa để lại mà còn giúp vun đắp hình ảnh dân tộc với những bản sắc
riêng có trong lòng bạn bè thế giới.
Tuy nhóm hàng thủ công mỹ nghệ được coi là có lợi thế so sánh của Việt
Nam trên thị trường thế giới. Nhưng để tận dụng tối đa lợi thế đó để phát triển
vẫn còn là bài toán hóc búa đối với Nhà nước, doanh nghiệp cũng như các làng
nghề truyền thống. Nhận thức được điều đó đã có nhiều công ty tìm được những
hướng đi phù hợp mở ra con đường để nâng tầm vóc và tạo dựng vị thế trên
trường quốc tế. Đây cũng là dấu hiệu đáng mừng cho triển vọng phát triển ngành
thủ công mỹ nghệ.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm Gỗ mỹ nghệ ở ngước
ngoài cũng như để đứng vững trên thị trường trong nước thì xây dựng và phát
triển thương hiệu hiện đang trở thành vấn đề thời sự không chỉ với các doanh
nghiệp Gỗ mỹ nghệ mà còn cả với các cơ quan quản lý và xúc tiến thương mại.
Tuy nhiên xây dựng thương hiệu hoàn toàn không phải là chuyện ngày một ngày
hai, không chỉ là việc tạo ra cho hàng hóa, dịch vụ một cái tên với một biểu
tượng hấp dẫn rồi tiến hành đăng kí bảo hộ những cái đó, lại càng không thể đi
tắt đón đầu được, mà phải bắt đầu từ gốc sản phẩm chất lượng tốt nhất với giá
thành thấp nhất. Xây dựng thành công thương hiệu cho một hoặc một nhóm sản
1
phẩm là cả một quá trinh gian nan, một quá trình tự khẳng định mình với sự đầu
hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ
của doanh nghiệp khác. Các dấu hiệu có thể là các nhữ cái, con số, hình vẽ, hình
tượng, sự thể hiện màu sắc, âm thanh.... hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố đó. Nói
đến thương hiệu không chỉ nhìn nhận và xem xét trên góc độ pháp lý của thuật
ngữ này mà quan trọng hơn, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng
của Việt Nam cần nhìn nhận nó dưới góc độ quản trị doanh nghiệp và
marketing. Như vậy, thương hiệu là một thuật ngữ với nội hàm rộng. Trước hết,
nó là hình tượng về hàng hóa (sản phẩm) hoặc doanh nghiệp. Tuy vậy, nếu chỉ
là hình tượng với cái tên, biểu trưng thôi thì chưa đủ; đằng sau nó cần phải là
chất lượng hàng hóa, dịch vụ, cách ứng xử của doanh nghiệp với khách hàng,
cộng đồng, những hiệu quả tiện ích đích thực cho người tiêu dùng do hàng hóa
3
và dịch vụ mà nó mang lại... thì thương hiệu đó mới đi sâu vào tâm trí khách
hàng.
2. Các loại thương hiệu
Cũng giống như thuật ngữ thương hiệu, việc phân loại thương hiệu cũng
có nhiều quan điểm khác nhau. Người ta có thể chia thương hiệu thành thương
hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp... hoặc chia thành thương hiệu hàng
hóa, thương hiệu dịch vụ, thương hiệu tập thể... Mỗi loại thương hiệu khác nhau
sẽ có những đặc tính khác nhau và đặc trưng cho một tập thể hàng hóa, sản
phẩm hoặc một doanh nghiệp nhất định. Nhưng theo quan điểm chung, chúng ta
có thể đưa ra 2 khái niệm phân loại thương hiệu mà các doanh nghiệp Việt Nam
cần quan tâm: Thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm.
- Thương hiệu doanh nghiệp (còn có sách đề cập là thương hiệu gia đình):
Là thương hiệu dùng chung cho tất cả hàng hóa dịch vụ của một doanh nghiệp.
Mọi hàng hóa thuộc các chủng loại khác nhau của doanh nghiệp đều mang
thương hiệu như nhau. Ví dụ: Vinamilk (gán cho các sản phẩm khác nhau của
Vinamilk), Honđa (gán cho các sản phẩm hàng hóa khác nhau của công ty
Honđa – Bao gồm xe máy, ô tô, máy thủy, cưa máy...).
- Thương hiệu sản phẩm (còn có sách gọi là thương hiệu tập thể): Là
ngoài quan tâm rất sớm. Trong khi đó, ở Việt Nam, vấn đề thương hiệu mới chỉ
được quan tâm từ năm 1982 và đặc biệt trong những năm gần đây do tranh chấp
và mất thương hiệu trên thị trường quốc tế nên các doanh nghiệp Việt Nam ngày
quan tâm nhiều hơn tới thương hiệu. Chúng ta có thể xem xét sự phát triển của
nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam qua ba giai đoạn sau: giai đoạn trước đổi mới
(1982-1986), giai đoạn 13 năm sau đổi mới (1986-1999) và giai đoạn tăng tốc và
hội nhập (năm 2000 tới nay).
4. Vai trò của thương hiệu
4.1. Đối với doanh nghiệp
Thương hiệu là một tài sản vô giá của doanh nghiệp, nó là tài sản vô hình
mà doanh nghiệp đã xây dựng trong nhiều năm bằng uy tín của doanh nghiệp
đối với khách hàng. Tài sản đó có thể đưa lại nguồn lợi nhuận rất lớn nếu như
doanh nghiệp biết khai thác hết vai trò của nó.
5
Thương hiệu cũng là một sự khẳng định cấp sản phẩm của doanh nghiệp.
Hệ thống các thương hiệu sẽ cho phép các doanh nghiệp tấn công vào từng phân
khúc khách hàng khác nhau.
Thương hiệu tốt sẽ giúp doanh nghiệp bán sản phẩm với giá cao hơn làm
khách hàng tự hào hơn (khi sử dụng hàng có thương hiệu nổi tiếng tức hàng
hiệu).
Thương hiệu là chiến lược quan trọng trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Một chiến lược thương hiệu có thể chống lại các đối thủ cạnh tranh một cách dễ
dàng.
Thương hiệu xác lập được sự nhận diện, khuấy động cảm giác của người
tiêu dùng. Thương hiệu của doanh nghiệp luôn luôn tồn tại trong tâm tư khách
hàng.
Tóm lại, chúng ta thấy được tầm quan trọng của thương hiệu, xây dựng
được nhãn hiệu và làm thế nào để nhãn hiệu ấy trở thành một thương hiệu hấp
dẫn và lôi cuốn người tiêu dùng, thu lợi cho doanh nghiệp là một "bài toán" đối
với các doanh nghiệp Việt Nam. Phát triển nhãn hiệu, thương hiệu thành công
nghiên cứu thông tin thị trường, khẳng định giá trị bản thân, giảm rủi ro trong
tiêu thụ.
II. NỘI DUNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU Ở
CÁC DOANH NGHIỆP
1. Quy trình xây dựng và phát triển thương hiệu
Xây dựng thương hiệu là quá trình tạo dựng một hình ảnh về hàng hóa
hoặc dịch vụ trong tâm trí, trong nhận thức của người tiêu dùng. Đây là quá trình
lâu dài với sự quyết tâm và khả năng vận dụng hợp lý tối đa các nguồn lực và
các biện pháp để làm sao sản phẩm có được một vị trí trong tâm trí khách hàng.
Có thể hình dung quá trình xây dựng thương hiệu là một chuỗi các nghiệp
vụ liên hoàn và tác động qua lại lẫn nhau dựa trên nền tảng của các chiến lược
marketing và quản trị doanh nghiệp, thường bao gồm các nhóm tác nghiệp cơ
bản như: Tạo ra các yếu tố thương hiệu (thiết kế các yếu tố thương hiệu); quảng
bá hình ảnh thương hiệu và cố định hình ảnh đó đến với những nhóm khách
7
hàng mục tiêu; áp dụng các biện pháp để duy trì thương hiệu; làm mới và phát
triển hình ảnh thương hiệu…
Sơ đồ 1.1. Quy trình xây dựng và phát triển thương hiệu
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc xây dựng và phát triển thương hiệu
ở các doanh nghiệp
Một là, nhận thức của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Đây là nhân tố đầu
tiên ảnh hưởng đến việc xây dựng thương hiệu. Xây dựng thương hiệu có được
quyết định hay không phụ thuộc vào bản thân các nhà lãnh đạo.
Hai là, đội ngũ cán bộ chịu trách nhiệm xây dựng thương hiệu. Xây dựng
được một chiến lược sâu sát phù hợp đạt hiệu quả và có tính khả thi cho việc
thực hiện đòi hỏi các cán bộ thực thi phải có tinh thần trách nhiệm, có trình độ
kiến thức, hiểu biết sâu sắc về thương hiệu, nhiệt tình với công việc đồng thời
nắm vững mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Ba là, Nguồn lực của doanh nghiệp. Nguồn lực về tài chính là một yếu tố
tối quan trọng cho việc xây dựng và thực hiện thành công một chiến lược
Những năm gần đây sản phẩm gỗ mỹ nghệ trang trí nội thất ngày càng
được người tiêu dùng ưa chuộng. Nắm bắt được nhu cầu thị hiếu người tiêu
dùng, Công ty đã tìm hiểu và chuyên sâu vào lĩnh vực sản xuất mặt hàng gỗ xuất
khẩu và phục vụ xây dựng dân dụng, nội thất gia đình. Tốc độ tăng trưởng của
Công ty năm sau so với năm trước đạt 25-30%, có giai đoạn đạt 45% (năm
2003). Thông qua các sản phẩm gỗ mà Công ty đã cung cấp trên thị trường trong
nước và xuất khẩu trong thời gian qua, phần nào khẳng định được vị thế của
mình trên thị trường.
Công ty có nguồn nhân lực dồi dào với gần 20 kỹ sư, cử nhân giàu kinh
nghiệm đang làm việc trong các phòng ban và đội ngũ lao động lành nghề làm
việc trong các phân xưởng sản xuất. Qua những thành tựu đạt được cả về chỉ
tiêu tăng trưởng kinh tế và xã hội, Công ty đã khẳng định chỗ đứng vững chắc
trong nền kinh tế mở cửa hiện tại và lâu dài.
Do có sự chuyển đổi một phần địa giới các xã thuộc huyện Thanh Trì về
quận Hoàng Mai, đồng thời để phù hợp với quy mô hoạt động của Công ty trong
10
giai đoạn mới, các thành viên Công ty TNHH Khánh Trang đã quyết định
chuyển đổi thành:
- Tên Công ty : Công ty Cổ phần Thương mại Khánh Trang
- Địa chỉ giao dịch : C
35
Khu phố I - Phường Định Công
Quận Hoàng Mai -Thành phố Hà Nội
Công ty Cổ phần Thương mại Khánh Trang là một nhà sản xuất hàng Gỗ
mỹ nghệ trang trí xuất khẩu. Công ty có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế
độc lập, sử dụng con dấu riêng theo qui định của Nhà nước và có tài khoản tiền
Việt Nam và ngoại tệ tại Ngân hàng Ngoại Thương Hà Nội.
2. Chức năng, nhiệm vụ và phạm vi kinh doanh của công ty
Chức năng, nhiệm vụ và phạm vi kinh doanh của Công ty cổ phần
Thương mại Khánh Trang được qui định trong Điều lệ tổ chức và hoạt động
kim loại.
- Công ty cần thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với người lao
động theo chế độ hiện hành của Nhà nước.
- Chấp hành các qui định về trật tự an toàn xã hội, vệ sinh môi trường do
Nhà nước và Thành phố qui định.
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty, chức năng nhiệm vụ của các phòng
ban
Công ty cổ phần Thương mại Khánh Trang đã tiến hành phân công công
tác và sắp xếp tổ chức các phòng ban nghiệp vụ cho phù hợp với tình hình
nhiệm vụ của Công ty.
Theo quy định về tổ chức bộ máy hoạt động của Công ty cổ phần Thương
mại Khánh Trang, bộ máy quản lý bao gồm:
12
Phó giám
đốc kinh
doanh
Phó giám
đốc Tạo
mẫu
GIÁM ĐỐC CÔNG TY
Phòng
hành
chính,
kế toán
Phòng
Kinh
doanh
Phòng
tạo mẫu
Phân
Phó giám đốc kinh doanh: Trực tiếp tổ chức điều hành công tác kinh
doanh của công ty, bảo đảm hóan thành các chỉ tiêu kế hoạch đặt ra về doanh
thu, nộp ngân sách và đúng chế độ chính sách pháp luật, bảo đảm an toàn vốn
kinh doanh của công ty, trực tiếp ký duyệt phương án kinh doanh đảm bảo hiệu
quả, an toàn, đúng chế độ chính sách.
Phó giám đốc phụ trách về kỹ thuật và phát triển công nghệ sản xuất:
Trực tiếp điều hành tại xưởng khuôn mẫu, sản xuất mẫu và phân xưởng nghiệm
thu, đóng gói sản phẩm theo các kế hoạch sản xuất hàng quí, năm đã được thống
nhất trong Ban giám đốc.
Phó giám đốc phụ trách sáng tạo mẫu sản phẩm: Trực tiếp điều hành tại
phòng tạo mẫu, nghiên cứu và sáng tạo mẫu mới, chất liệu mới.
Phó giám đốc phụ trách hành chính (kiêm kế toán trưởng): Trực tiếp điều
hành tại phòng kế toán hành chính
- CÁC PHÒNG NGHIỆP VỤ
Phòng kế toán, hành chính: 5 người
13
- Thực hiện công tác kế toán, tài chính, tín dụng, kiểm soát và phân tích
tình hình hoạt động kinh doanh của công ty.
- Tổ chức hệ thống sổ sách kế toán, tài khoản kế toán, lưu giữ chứng từ,
hồ sơ tài sản của công ty, phản ánh đầy đủ kịp thời mọi mặt hoạt động, kết quả
kinh doanh của công ty theo tháng, năm, quý.
- Xác định mức vốn lưu động, nguồn vốn cần thiết phục vụ cho công tác
kinh doanh.
- Theo dõi, thanh toán tiền lương.
- Giúp giám đốc trong việc tuyển dụng lao động, tổ chức học tập, nâng
cao trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật, đào tạo mới công nhân.
Phòng kinh doanh - xuất khẩu: 3 người
- Thực hiện công tác xuất khẩu của công ty và làm mọi thủ tục xuất khẩu
cho các bộ phận kinh doanh khác của công ty.
- Xây dựng các chiến lược ngắn hạn và dài hạn về cơ cấu sản phẩm, thị
Đơn vị tính: nghìn đồng
NĂ
M
CHỈ TIÊU
2002 2003 2004
Vốn cố định 41.175 300.254 645.524
Vốn lưu động 2.660.606 3.464.596 3.600.992
Tổng VKD 2.701.781 3.764.850 4.246.516
Nguồn: Phòng kế toán
Qua bảng 2.1, ta có thể thấy nguồn vốn của công ty luôn tăng theo thời
gian. Điều này chứng tỏ hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian qua
có hiệu quả. Công ty đã biết huy động và sử dụng hợp lý các nguồn vốn, các sản
phẩm do công ty kinh doanh đem lại lợi nhuận cao, do đó công ty đã đem một
phần lợi nhuận bổ sung vào vốn kinh doanh. Vốn cố định cũng tăng do ban lãnh
đạo công ty đã mạnh dạn đầu tư thêm máy móc thiết bị mới nhằm nâng cao năng
suất cũng như chất lượng sản phẩm.
4.2. Tình hình lao động, tiền lương tại công ty
Đặc điểm phương thức kinh doanh của công ty là hợp tác sản xuất với các
doanh nghiệp ở những địa phương cách không xa Hà Nội quá 150km để tận
dụng nguồn nhân lực nhàn rỗi ở các địa phương đó nên số lao đông của công ty
là ít so với các công ty có cùng quy mô.
Bảng 2.2. Trình độ lao động trong công ty (tính đến 31/12/2004)
Đơn vị tính: người
PHÂN CẤP TRÌNH
ĐỘ
Các cấp
lãnh đạo
Nhân viên các
phòng ban
Công nhân Tổng
Khối tạo mẫu 2.500 2.900 4.000
Khối hành chính, kinh
doanh.
1.200 1.500 2.000
Nguồn: Phòng hành chính, kế toán
Như vậy, người lao động trong công ty có thu nhập khá ổn định đảm bảo
cuộc sống và tạo động lực làm việc. Nhìn chung chính sách tiền lương hợp lý,
tiên tiến và theo hiệu quả công việc. Đặc biệt công ty có quan tâm đãi ngộ xứng
đáng đối với lao động chất xám. Ta thấy khối tạo mẫu có thu nhập trung bình
cao hơn hẳn các khối khác đã chứng minh công tác tạo mẫu cho sản phẩm được
công ty chú trọng đặc biệt. Điều này là hóan toàn hợp lý khi mà việc sáng tạo
17
mẫu sản phẩm là một trong những bí quyết tạo sự khác biệt để phát triển thương
hiệu cho sản phẩm của công ty.
4.3. Thực trạng khả năng đáp ứng đơn hàng của công ty
Công ty đã và đang trong giai đoạn hợp tác phát triển các cơ sở sản xuất
bao gồm việc xây dựng nhà máy, đào tạo công nhân, hóan thiện và cải tiến công
nghệ, tích lũy kinh nghiệm quản lý sản xuất (của các doanh nghiệp sản xuất),
nên khả năng đáp ứng đơn hàng hiện còn hạn chế. Công ty mới chỉ có khả năng
đáp ứng những đơn hàng nhỏ và vừa, chưa có khả năng đáp ứng những đơn
hàng của các đại công ty với số lượng đặt hàng lớn. Hiện này công ty đang
không ngừng nỗ lực mở rộng quy mô sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
nhằm đáp ứng tốt hơn các đơn hàng lớn trong tương lai.
4.4. Kết quả kinh doanh
Sản phẩm của công ty được sản xuất theo công nghệ mới không phải là
công nghệ phổ biến hay được chuyển giao từ tổ chức khác. Đó là công nghệ sản
xuất cốt sản phẩm bằng bột gỗ đã đăng ký Bằng độc quyền sáng chế. Chính vì
thế mà giai đoạn đầu tiên triển khai sản xuất là giai đoạn thử nghiệm gặp rất
nhiều khó khăn. Song với sự nỗ lực hết mình của toàn công ty cũng như sự hợp
tác của các đối tác nên công nghệ đã triển khai thành công, sản phẩm đã có chỗ
đối (%)
Tuyệt đối
(nghìn đồng)
Tương đối
(%)
Doanh thu 1.199.982 303,18 1.420.133 88,99
Chi phí 1.118.458 284,24 1.288.096 85,19
Lợi nhuận trước thuế 81.524 3523,07 132.037 157,49
Nguồn: Phòng kế toán, hành chính
Qua bảng 2.5, ta thấy doanh thu của công ty đã có sự tăng trưởng đáng kể.
Năm 2003 doanh thu tăng so với năm 2002 là 303,18% tương ứng với 1.199.982
nghìn đồng, năm 2004 doanh thu tăng so với năm 2003 là 88,99% tương ứng với
1.420.133 nghìn đồng. Cho dù chi phí của công ty tăng cùng với sự mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh của công ty thì công ty vẫn duy trì được mức lợi nhuận
trước thuế. Năm 2003 lợi nhuận trước thuế tăng so với năm 2002 là 3523,07%
tương ứng với 81.524 nghìn đồng, năm 2004 lợi nhuận trước thuế tăng so với
năm 2003 là 157,49% tương ứng với 132.037 nghìn đồng. Nếu so sánh ở con số
tương đối thì tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận trước thuế qua 3 năm là
giảm dần nhưng xét ở con số tuyệt đối thì mới thấy được sự tăng trưởng đáng
19
kể. Nguyên nhân chính ở đây là năm 2002 doanh thu quá nhỏ (395.800 nghìn
đồng) do sản phẩm đang trong quá trình sản xuất thử nghiệm và đưa vào thị
trường với số lượng chưa nhiều cả về mẫu mã và chất liệu. Như vậy chỉ sau 3
năm kể từ khi chính thức đưa sản phẩm ra thị trường kết quả mà công ty đạt
đựoc như trên là một bước thành công ban đầu rất khả quan.
II. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI KHÁNH TRANG
1. Đặc điểm mặt hàng kinh doanh của Công ty cổ phần Thương mại
Khánh Trang
Công ty chuyên sâu sản xuất mặt hàng Gỗ mỹ nghệ trang trí xuất khẩu với
(NG.
ĐỒNG)
TỶ
LỆ
(%)
GIÁ TRỊ
(NG.
ĐỒNG)
TỶ
LỆ
(%)
GIÁ TRỊ
(NG.
ĐỒNG)
TỶ
LỆ
(%)
Ôxtrâylia 315.848 79,8 459.404 28,7 521.500 17,3
EU
(Anh, Pháp…)
79.952 20,2 512.246 32,1 699.692 23,2
Mỹ - - 624132 39,2 1.794.723 59,5
Tổng
395.800 100
1.595.782 100 3.015.915 100
Nguồn: Bảng tổng kết kinh doanh 2002-2004
Ôxtrâylia là thị trường truyền thống mà công ty đã có mối quan hệ ngay
từ những năm đầu mới thành lập. Năm 2002, doanh thu ở thị trường này chiếm
tới 79,8% trong tổng doanh thu của công ty tương ứng với 315.848 nghìn đồng.
Hai năm tiếp theo tuy cơ cấu này có giảm dần do có thêm thị trưòng Mỹ nhưng
Thương mại, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản... Tổ chức nước ngoài như Tổ chức nâng
cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) của Mỹ...
Bảng 2.8. Tỷ lệ chi phí quảng bá thương hiệu trong tổng doanh thu
(2002-2004)
NĂM
CHỈ TIÊU
2002 2003 2004
Doanh thu (nghìn đồng) 395.800 1.595.782 3.015.915
Chi phí xây dựng và quảng bá
thương hiệu (nghìn đồng)
19.394 84.576 183.970
Tỉ lệ (%) 4,9 5,3 6,1
22
Nguồn: Phòng Kinh doanh
Từ bảng 2.8, chúng ta thấy ý thức đầu tư cho xây dựng và quảng bá
thương hiệu có những bước chuyển biến rõ nét. Chi phí dành cho quảng bá
thương hiệu của công ty đã tăng đều qua các năm. Nhưng vẫn ở mức thấp so với
yêu cầu thực tế. Việc tăng chi phí đầu tư cho thương hiệu là một trong những
nguyên nhân góp phần tăng doanh thu hàng năm.
Thông tin là một điều không thể thiếu trong quá trình hoạt động của công
ty. Thông tin đó là các định hướng phát triển, các phản ánh của thị trường. Đó là
cơ sở cho việc ra quyết định trong công ty. Khi công ty có được thông tin càng
chính xác thì thành công đến với công ty là rất lớn. Chính vì thế công ty đã thiết
lập hệ thống thu nhập thông tin riêng cho mình.
Một số kênh thu thập thông tin chính của công ty gồm:
- Thu thập thông tin qua việc cử cán bộ chuyên trách tham quan nghiên
cứu các hội chợ triển lãm về dồ gỗ và thủ công mỹ nghệ lớn trên thế giớ.
- Tham gia các hội thảo, các khóa đào tạo do các tổ chức, hiệp hội trong
nước cũng như nước ngoài tổ chức.
- Qua mạng internet, đăng kí trở thành thành viên của các trang Web
tên của người sáng lập công ty, là nhà thiết kế, người có tâm huyết lớn trong
việc tạo nên sức sống mới cho hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Theo tiếng
Hán Liên Phương có nghĩa là “sen thơm”. Với người Việt Nam hình ảnh hoa
Sen luôn được nhắc đến như biểu tượng của dân tộc bằng tấm lòng trân trọng
lớn lao, một sự tinh tế thuần khiết nhưng cũng rất mãnh liệt. Ngoài ra theo tiếng
Anh LP là hai chữ cái đầu của từ “Lotus Perfume”, “Lotus” là hoa sen, còn
“Perfume” là hương thơm. Như vậy với tên gọi LPDesign, hình ảnh sản phẩm
của công ty mang một ý nghĩa sâu xa hơn rất nhiều. Đó là sản phẩm kết hợp
giữa cổ điển và hiện đại, là sự hóa quyện giữa bản sắc văn hóa dân tộc đậm nét
Á Đông với phong cách hiện đại, mới mẻ, đầy quyến rũ của Phương Tây. Với ý
24
nghĩa đó, công ty muốn phấn đấu vươn lên mạnh mẽ bằng chính khả năng của
mình ‘toả hương thơm ngát’.
Hơn nữa, cấu tạo từ một từ tiếng Anh (design) - một ngôn ngữ phổ biến,
một từ sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực sáng tạo mẫu tạo cho tên gọi mang tính
quốc tế cao. Điều này góp phần giúp công ty dễ dàng mở rộng thị trường của
mình tới nhiều quốc gia trên thế giới.
4.1.2. Thiết kế logo
Logo được thể hiện qua hình hoa sen cách điệu và chữ LPDesign. Logo
đã được thiết kế khá đơn giản, bố cục hình chắc, vừa mang nét hiện đại vừa
mang nét truyền thống đặc trưng, dễ tái tạo chính xác trên các hình thức in ấn,
bảng biểu băng rôn, biểu tượng khác nhau cũng như trong tâm trí khách hàng.
Logo cũng đã thể hiện sự khác biệt, dễ nhận biết và phân biệt với các logo khác,
có khả năng làm cho người xem nhớ đến nó và liên tưởng đến sản phẩm của
công ty. Đã có rất nhiều logo lấy ý tưởng từ bông hoa sen nhưng qua bàn tay
sáng tạo của các hoạ sỹ thiết kế hình hoa sen đã đựơc cách điệu để mang một ý
nghĩa sâu xa hơn, một ngọn lửa bập bùng cháy thể hiện khát vọng vươn lên
mãnh liệt thắp sáng niềm tin, và hy vọng vào tương lai tươi đẹp hơn của công ty
nói riêng và của ngành hàng Gỗ mỹ nghệ của Việt Nam nói chung.