LỜI NÓI ĐẦU
Đẩy mạnh xuất khẩu là một chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước ta
được khẳng định tại Đại hội Đảng VIII (1996), Đại hội IX (2001) và trong nghị
quyết 01/NQ- TW của Bộ Chính trị với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá (CNH, HĐH) hướng về xuất khẩu.
Với lợi thế về xuất khẩu hàng dệt may, vấn dề thâm nhập và phát triển các
thị trường mới, có dung lượng thị trường lớn đang đặt ra cho các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam những khó khăn và thách thức. Hàng dệt may Việt Nam đã có mặt
và dần củng cố vị trí của mình tại các thị trường lớn như EU, Nhật Bản… Tuy
nhiên, hàng dệt may Việt Nam đang gặp những khó khăn không nhỏ trong việc đẩy
mạnh lượng hàng xuất khẩu và để tìm được lối ra cho bài toán thị trường tiêu thụ
thì hướng cần thiết nhất là khai thác để thâm nhập và mở rộng thị phần ở những thị
trường mới trong đó có Mỹ là một thị trường đầy hứa hẹn và có tiềm năng nhất.
Tiềm năng hợp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam là rất to lớn: cùng với
việc ký kết hiệp định song phương, quan hệ thương mại Việt - Mỹ đã bước sang
trang mới. Vì vậy, việc xem xét khả năng thâm nhập và đẩy mạnh xuất khẩu hàng
dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ một thị trường có dung lượng tiêu thụ
lớn nhất thế giới là có cơ sở và đã trở nên rất cần thiết. Tuy nhiên bên cạnh những
thuận lợi còn có không ít những khó khăn và thách thức đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực
rất lớn của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mà cần có sự hỗ trợ tích cực từ
phía Nhà nước để có thể tiếp cận và đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
vào thị trường Mỹ.
Công ty Dệt may Hà Nội là một trong những con chim đầu đàn của Tổng
Công ty Dệt May Việt Nam, trong bước chuyển mình của toàn ngành dệt may Việt
Nam, Công ty cũng đang từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt
may của mình sang thị trường Mỹ và trong những bước tiến này Công ty sẽ gặp
không ít những khó khăn và thách thức. Trong quá trình thực tập tại Công ty, tôi
thấy cần thiết phải có những biện pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
sản phẩm dệt may của Công ty sang thị trường Mỹ nhất là trong bối cảnh hiện nay.
Xuất phát từ ý tưởng đó cùng với những kiến thức được trang bị ở trường và
những thông tin thực tế thu thập được trong thời gian thực tập, tôi đã quyết định lựa
này. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Chương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
I. KHÁI NIỆM XUẤT KHẨU, NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU VÀ CÁC HÌNH THỨC XUẤT KHẨU
1. Khái niệm xuất khẩu.
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về xuất khẩu
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Hoạt động xuất khẩu là một bộ phận của
thương mại quốc tế, trong đó hàng hoá và dịch vụ được bán cho người nước ngoài
nhằm thu ngoại tệ.
Theo quan điểm này thì xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ chỉ nhằm
mục đích thu ngoại tệ. Quan điểm này đúng một phần, bởi mục đích của xuất khẩu
không chỉ là để thu ngoại tệ mà là để đạt được những lợi ích nhất định trong đó lợi
nhận chỉ là một lợi ích.
Quan điểm thứ hai thì cho rằng: Xuất khẩu là một quá trình trao đổi hàng hoá
giữa các nước thông qua mua bán nhằm đạt được mức lợi nhuận cao nhất. Quan
điểm này lại rơi vào tình trạng như quan điểm thứ nhất, bởi lợi nhuận chỉ là một
trong những lợi ích mà xuất khẩu hướng tới.
Quan điểm thứ ba cho rằng: Xuất khẩu là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ
giữa các quốc gia thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, tuân theo nguyên tắc
ngang giá. Quan điểm này hoàn toàn đúng song nó cũng chưa khái quát hết được
những hình thức xuất khẩu đã xuất hiện trong thực tế. Theo như định nghĩa này thì
xuất khẩu bên cạnh dòng vận động của hàng hoá còn có dòng vận động của tiền với
chức năng môi giới, thế nhưng trong hình thức buôn bán đối lưu - một hình thức
xuất khẩu - thì chỉ có dòng vận động của hàng hoá mà không có dòng vận động của
tiền.
Tóm lại, những quan điểm trên đều đúng, song nó chỉ phản ánh hoạt động
xuất khẩu trong những trường hợp riêng biệt mà thôi. Hiện nay, có một khái niệm
được nhiều người công nhận và mang tính khái quát cao:
Xuất khẩu hàng hoá là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ với người nước
sắc, trang trí bao bì của hàng hoá, chất lượng dịch vụ…có thích ứng với thị trường
hay không. Chúng ta cần phải làm rõ tình hình tiêu thụ của thị trường, của các loại
hàng hoá khác nhau này đặc biệt là nghiên cứu các đặc điểm của các loại hàng hoá
bán chạy trên thị trường, nhằm chủ động thích ứng với nhu cầu thị trường, mở rộng
xuất khẩu. Một yếu tố xần xem xét là tìm hiểu giá trị thương phẩm của hàng hoá,
chu kỳ sống mà sản phẩm đang trải qua: Chu kỳ sống của sản phẩm là tiến trình
phát triển của việc tiêu thụ một mặt hàng bao gồm bốn giai đoạn: (1) thâm nhập -
(2) phát triển - (3) bão hoà - (4) thoái trào. Việc xuất khẩu những mặt hàng đang ở
giai đoạn (1) và (2) gặp nhiều thuận lợi nhất. Tuy vậy có khi mặt hàng ở giai đoạn
(4) nhưng nhờ các biện pháp xúc tiến tiêu thụ như quảng cáo, cải tiến hệ thống tiêu
thụ, giảm giá…người ta vẫn có thể đẩy mạnh được xuất khẩu.
2.1.2. Nghiên cứu dung lượng thị trường.
Nghiên cứu dung lượng thị trường là việc nghiên cứu về khối lượng hàng
hoá mà thị trường có thể tiêu thụ hoặc giao dịch để có thể nhập khẩu trong một thời
gian nhất định. Nghiên cứu dung lượng thị trường cần xác định nhu cầu thị trường,
khả năng sản xuất tại chỗ, triển vọng thay đổi dung lượng, khả năng và các nguồn
cung cấp chủ yếu của các đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở phân tích, người ta làm
thành bảng cân đối nhu cầu về từng mặt hàng. Bảng đó có các số liệu về sản xuất,
nhập khẩu, xuất khẩu, dự trữ, diễn biến nhu cầu của khả năng cung cấp. Từ đó rút
ra nhu cầu xuất khẩu của công ty vào thị trường đó.
Các nhân tố làm dung lượng thị trường thay đổi có thể chia thành ba nhóm
căn cư vào thời gian ảnh hưởng của nó tới thị trường.
Nhóm I. Các nhân tố làm cho dung lượng thị trường có tính chu kỳ như sự
vận động của tình hình kinh tế các nước trên thế giới, nhất là các nước có nhu cầu
nhập khẩu hàng hoá mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng; tính thời vụ trong quá
trình sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Nhóm II. Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến đổi của dung lượng thị
trường như tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, các biện pháp chế độ chính
sách của Nhà nước, thị hiếu tập quán của người tiêu dùng.
Nhóm III. Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đến thị trường như hiện tượng đầu
chọn, vì vậy phải làm rõ:
- Thái độ chính trị của đối tác.
- Triết lý kinh doanh.
- Khả năng vốn và cơ sở vật chất, tiềm lực tài chính.
- Uy tín, mối quan hệ của họ trên thương trường.
- Những người chịu trách nhiệm thay mặt để kinh doanh và phạm vi của họ
đối với nghĩa vụ của công ty.
Việc nghiên cứu tình hình thị trường giúp cho đơn vị kinh doanh lựa chọn
được thị trường, thời cơ thuận lợi, lụa chọn được phương thức mua bán và những
điều kiện giao dịch thích hợp. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, kết qủa của hoạt
động xuất khẩu còn phụ thuộc vào khách hàng. Trong cùng điều kiện như nhau,
việc giao dịch với khách hàng này thì thành công, nhưng với khách hàng khác lại
bất lợi. Vì vậy, một nhiệm vụ quan trọng của doah nghiệp trong giai đoạn chuẩn bị
là lựa chọn được những khách hàng có triển vọng nhất.
* Các bước tiến hành nghiên cứu thị trường.
Bước 1: Tổ chức hợp lý việc nghiên cứu thu thập các nguồn thông tin về nhu
cầu thị trường. Hông tin là cơ sở để ra các quyết đinh. Yêu cầu trước tiên là phải
nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng, bởi vì mọi biến động của thị trường diễn
ra rất nhanh và phức tạp, nếu không nắm bắt được thì công ty sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội
trong kinh doanh. Những thông tin mà công ty có được đòi hỏi phải chính xác vì nó
là căn cứ đề ra quyết định đúng đắn.
Bước 2: Phân tích và xử lý đúng đắn số liệu thông tin thu thập được.
Bước 3: Xác định thị trường có khả năng nhất đối với công ty, đó là việc trả
lời những câu hỏi sau:
- Thị trường nào là có triển vọng nhất đối với côgn ty?
- Thị trường cần mặt hàng gì? Những mặt hàng nào có khả năng tiêu thụ lớn
nhất? Mặt hàng đó ở thời kỳ nào của chu kỳ sống?
- Tình hình sản xuất mặt hàng đó ra sao?
- Dung lượng thị trường là bao nhiêu?
- Những yêu cầu của thị trường đối với hàng hoá?
trường ở những thị trường nào, tăng thị phần…
Đề ra biện pháp thực hiện: Những biện pháp thực hiện này là công cụ để đạt
tới mục tiêu đề ra. Những biện pháp có thể là: đầu tư sản xuất, nâng cao chất lượng
sản phẩm, cải tiến bao bì, đẩy mạnh quảng cáo, lập chi nhánh ở nước ngoài, mở
rộng mạng lưới đại lý…
Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc xuất khẩu. Các chỉ tiêu đánh giá chủ
yếu là: tỷ suất ngoại tệ, chỉ tiêu thời gian hoà vốn, chỉ tiêu điểm hoà vốn.
2.3. Quảng cáo đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu.
Sau giai đoạn nghiên cứu tiếp cận thị trường, để chuẩn bị cho những giao
dịch xuất khẩu, các doanh nghiệp bắt đầu tiến hành tiếp xúc với kháck hàng bằng
biện pháp quảng cáo.
2.3.1. Quảng cáo.
Quảng cáo là sự tuyên truyền, giới thiệu về hàng hoá và dịch vụ nhằm thu
hút sự chú ý của những đối tượng có thể đang và sẽ trở thành khách hàng tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp, gây sự thích thú đối với hàng hoá và dịch vụ đó và
cuối cùng làm cho họ trở thành khách hàng thực tế của doanh nghiệp.
Tác dụng của quảng cáo đối với người mua có thể tóm tắt qua 4 pha sau:
• A (gây sự chú ý: attention).
• I (gây thích thú: interest).
• D (gây ham muốn: desire).
• A (thúc đẩy hành động).
Những nội dung chủ yếu của quảng cáo là: phẩm chất của hàng hoá, công
dụng của hàng hoá, phương pháp sử dụng và bảo quản hàng hoá, đặc điểm của
hàng hoá đó, điều kiện mua bán và giá cả, địa điểm bán hoặc nơi trưng bày, địa chỉ
của đơn vị nhập khẩu hoặc cơ quan đại diện cho đơn vị đó, cách thức gửi đơn đặt
hàng.
Các phương thức quảng cáo chủ yếu là thông qua báo chí, tập san, các loại
ấn phẩm, phát thanh, truyền hình, mạng internet, điện ảnh, quảng cáo ngoài trời,
tham gia các hội chợ triển lãm, gửi tặng phẩm…
Công tác quảng cáo tuyên truyền càng tốt thì càng thúc đẩy xuất khẩu, làm
có các điều kiện phải giải thích cặn kẽ, thuyết phục nhau hoặc là đàm phán những
hợp đồng lớn, phức tạp.
2.3.2.2. Nội dung của đàm phán.
Nội dung của một cuộc đàm phán trong thương mại quốcc tế bao gồm những
vấn đề sau: Tên hàng, phẩm chất, số lượng, bao bì đóng gói, điều kiện giao hàng,
giá cả,thanh toán, bảo hiểm, bảo hành, khiếu nại, phạt vầ bồi thường thiệt hại, trọng
tài, trường hợp bất khả kháng.
* Các bước tiến hành đàm phán.
Bước 1: Chào hàng (Offer): Để có thể tiến tới ký kết một hợp đồng xuất
khẩu, người xuất khẩu phảI đưa ra một bảng chào hàng với bên mua mà trong đó có
ghi rõ những điều kiện giao dịch cụ thể. Đây là việc nhà xuất khẩu thể hiện rõ ý
định của mình là bán hàng, là lời đề nghị ký kết hợp đồng, nếu việc mua bán xuất
phát từ phía người mua thì có thể hỏi giá hoặc dặt hàng. Trong chào hàng, người ta
ghi rõ: tên hàng, quy cách phẩm chất, số lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, điều
kiện thanh toán…
Chào hàng có hai loại:
Chào hàng cố định: là việc chào bán một lô hàng cho người mua nào đó
trong đó có nêu rõ thời gian mà người choà hàng chịu trách nhiệm về lời đề nghị
của mình.
Chào hàng tự do: là loại chào hàng không ràng buộc trách nhiệm. Người
chào hàng tự do cần phảI làm rõ tất cả những yếu tố cần thiết liên quan đến thương
vụ xuất khẩu.
Trước khi chào hàng, nhà xuất khẩu cần nắm được quan hệ cung cầu về hàng
hoá trên thế giới, mức giá hiện hành trên thị trường, nhu cầu của người mua và khả
năng của anh ta. Trên cơ sở đó ta xác định nên đưa loại đơn chào hàng nào: đơn
chào hàng cố định hay đơn chào hàng tự do.
Dù chào hàng theo cách nào, đơn chào hàng cũng cần rõ ràng và có sức hấp
dẫn. Sự hấp dẫn không chỉ thể hiện ở giá thấp, ở sự giảm giá mà còn có thể ở dịch
vụ cung cấp cho người mua, điều kiện thanh toán có lợi cho người mua.
Bước 2. Hoàn giá (Counter): Khi người nhận được đơn chào hàng nhưng
- Bao bì đóng gói, ký mã hiệu hàng hoá.
- Thời gian, phương tiện và địa điểm giao hàng, quyền sở hữu hàng hoá.
- Giám định hàng hoá.
- Sát trùng hàng hoá (nếu bên mua yêu cầu).
- Điều kiện xếp dỡ hàng hoá và thưởng phạt.
- Những chứng từ cần thiết cho lô hàng xuất khẩu.
- Đồng tiền thanh toán, phương thức và thời hạn thanh toán
- Các trường hợp bất khả kháng.
- Trách nhiệm của các bên do vi phạm hợp đồng
- Các diều kiện khác.
- Hiệu lực của hợp đồng.
Khi ký kết hợp đồng cần chú ý các điều kiện sau:
- Hợp đồng phải được trình bày rõ ràng, sáng sủa, phản ánh đứng nội dung
dã thoả thuận, không để tình trạng mập mờ tránh suy luận.
- Hợp đồng cần đề cập đầy đủ mọi vấn đề, tránh việc áp dụng tập quán để
giải quyết những vấn đề mà bên kia không đề cập đến. Trong hợp đồng không được
có những điều khoản trái ngược với luật lệ hiện hành ở nước bán hoặc nước mua.
2.4. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi hợp đồng được ký kết thì doanh nghiệp phải thực hiện theo các quy
định trong hợp đồng. Tiến hành sắp xếp những công việc phải làm ghi thành bảng
biểu theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng, kịp thời ghi những diễn biến, những văn
bản phát đi và nhận được để xử lý và giải quyết cụ thể.
Sau khi ký kết hợp đồng, cần xác định rõ trách nhiệm, nội dung và trình tự
công việc cần làm, cố gắng không để xảy ra sai sót, tránh gây thiệt hại. Điều đặc
biệt cần lưu ý là tất cả những sai sót đều là cơ sở phát sinh khiếu nại và làm giảm
uy tín của nhà xuất khẩu.
Sau đây là trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu:
Hình 1.1. Quy trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
2.4.1. Xin giấy phép xuất khẩu (nếu có).
Giấy phép xuất khẩu là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để tiến
Giai quyết khiếu
nại nếu có
Thực tế nước ta, trước ngày 15/12/1995 giấy phép xuất khẩu được sử dụng
rất rộng rãi nhằm kiểm soát hoạt động xuất khẩu. Mỗi doanh nghiệp sau khi ký kết
được hợp đồng xuất khẩu thì đều phải xin giấy phép chuyến để thực hiện hợp đồng
xuất khẩu đó. Trước tình hình hoat động xuất khẩu mỗi ngày càng tăng lên mạnh
mẽ thì giấy phép xuất khẩu đã trở thành thủ tục gây khó khăn, cản trở và hạn chế
hoạt động xuất khẩu. Để tháo gỡ những thủ tục rườm rà và đẩy mạnh xuất khẩu,
ngày 15/12/1995 Chính phủ đã ra quyết định doanh gnhiệp nào có giấy phép kinh
doanh xuất nhập khẩu thì khi tiến hành xuất khẩu không cần phải xin giấy phép
xuất khẩu trừ những trường hợp sau cần phải xin giấy phép xuất khẩu chuyến:
Hàng xuất khẩu thuộc diện cần thiết điều hành để bảo đảm cân đối cung cầu trong
nước, hàng tạm nhập tái xuất, hàng dự hội chợ triển lãm.
Ở Việt Nam hiện nay, theo QĐ 46/2001/QĐ - TTG ngày 4/4/2001 về quản lý
hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá giai đoạn 2001 - 2005 nêu rõ Danh mục mặt
hàng cấm xuất nhập khẩu, Danh mục mặt hàng phải xin phép của 7 chuyên ngành
là Bộ NNPT NT, Bộ Thuỷ sản, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Bưu điện, Bộ
VHTT, Bộ Y tế, Bộ Công nghiệp. Bộ Thương mại cũng có thông tư 11/2001/TT-
BTM hướng dẫn thi hành quyết định này.
2.4.2.Chuẩn bị hàng xuất khẩu.
Hiện nay ở nước ta không chỉ có những doanh nghiệp thương mại làm công
tác xuất khẩu mà còn có rất nhiều các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp làm công
tác xuất khẩu trực tiếp với khách hàng nước ngoài. Các công việc mà doan nghiệp
sản xuất phải làm trong khâu chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu gồm có:
- Tổ chức sản xuất, thu gom hàng xuất khẩu trên cơ sở đàm phán ký kết hợp
đồng. Các loại hàng đó phải theo đúng hợp đồng đã ký về chủng loại, màu sắc, kích
thước và số lượng.
- Thực hiện đóng gói hàng hoá xuất khẩu, trong khâu này phải lưu ý tới bao
bì đóng gói bởi vì trong buôn bán hàng hoá nói chung và hàng hoá xuất khẩu nói
riêng, vấn đề bao bì có ý nghĩa rất quan trọng, nó được thể hiện ở những khía cạnh
buôn bán.
Kiểm nghiệm hàng hoá phải được thực hiện ở hai cấp: cấp cơ sở và cửa
khẩu, trong đó kiểm tra cơ sở do phòng KCS tiến hành có vai trò quyết định và có
tác dụng triệt để nhất. Kiểm tra ở cửa khẩu có tác dụng kiểm tra lại kết quả ở cơ sở.
2.4.5. Làm thủ tục hải quan.
Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để xuất khẩu hoặc nhập khẩu
đều phải làm thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là một công cụ để quản lý hành vi
buôn bán theo pháp luật của Nhà nước để ngăn chặn xuất khẩu lậu qua biên giới, để
kiểm tra giấy tở nhằm tránh sai sót giả tạo, để thống kê hàng hoá xuất nhập khẩu.
Việc làm thủ tục hải quan gồm ba bước:
- Khai báo hải quan.
- Xuất trình hàng hoá.
- Thực hiện các quyết định của hải quan.
2.4.6. Giao hàng lên tàu.
Phần lớn số hàng xuất khẩu được vận chuyển bằng đường biển, đường sắt,
bằmg container. Tuỳ thuộc vào phương tiện chuyên chở hàng hoá mà chủ hàng
phải làm những công việc khác nhau.
Nếu vận chuyển bằng đường biển, chủ hàng phải căn cứ vào chi tiết hàng
xuất khẩu để lập bảng đăng ký hàng chuyên chở cho người vận tải để lấy hồ sơ xếp
hàng, bố trí phương tiện đưa hàng vào cảng, xếp lên tàu, lấy biên lai thuyền phó và
đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường biển.
2.4.7. Mua bảo hiểm.
Chuyên chở hàng hoá trong thương mại quốc tế gặp rất nhiều rủi ro, tổn thất,
nhất là khi có trên 80% lượng hàng hoá được vận chuyển bằng đường biển, buộc
các nhà xuất khẩu phải thận trọng đề phòng rủi ro bằng cách mua bảo hiểm cho
hàng hoá (trong trường hợp mua bán theo điều kiện CIF), còn trong những trường
hợp khác người mua phải mau bảo hiểm cho hàng hoá.
2.4.8. Làm thủ thục thanh toán.
Tuỳ theo phương thức thanh toán hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng mà
bước này được tiến hành theo những cách khách nhau. Đối với trường hợp sư dụng
thị trường quốc tế bị hạn chế hoặc mục tiêu của Công ty chỉ là thử nghiệm thị
trường trước khi quyết định đầu tư các nguồn lực vào thị trường đó.
Với hình thức xuất khẩu gián tiếp, Công ty chỉ xác lập ở mức thấp hoặc
không xác lập được mối liên hệ trực tiếp với thị trường nước ngoài. Vì vậy việc
nắm bắt các thông tin về thị trường nước ngoài bị hạn chế và Công ty không thể
thích ứng nhanh được với những biến động của thị trường.
3.3. Xuất khẩu tại chỗ.
Xuất khẩu tại chỗ là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng nước ngoài
ngay tại nước xuất khẩu. Nó được hiểu là việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho
các ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc tế.
Đặc điểm của phương thức này là hàng hóa không qua biên giới quốc gia,
doanh nghiệp không cần thuê phương tiện vận tải, không cần mua bảo hiểm hàng
hoá, không cần ra nước ngoài đàm phán…và do đó giảm chi phí và tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của phương thức này là tính thụ
động của nó. Doanh nghiệp xuất khẩu hoàn toàn bị phụ thuộc vào khách hàng,
lượng hàng hoá và dịch vụ tiêu thụ không lớn, do vậy khả năng kinh doanh trên thị
trường quốc tế của doanh nghiệp bị hạn chế.
3.4. Gia công quốc tế.
Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên
(gọi là bên gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác
(gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia
công và nhận thù lao (gọi là phí gia công). Như vậy, trong gia công quốc tế hoạt
động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.
Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của
nhiều nước. Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp cho họ lợi dụng được
giá rẻ về nguyên phụ liệu và nhân công của nước nhận gia công. Đối với bên nhận
gia công, phương thức này giúp cho họ giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình.
3.5. Tái xuất.
Tái xuất là việc xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoá mà trước đây đã
- Nhóm các nhân tố thuộc về sản phẩm.
- Nhóm các nhân tố của hoạt động xúc tiến xuất khẩu.
Tuy nhiên nếu suy xét đến cùng thì sản phẩm lại là kết quả của nhiều quá
trình hoạt động như: thiết kế, tìm nguồn cung ứng, sản xuất… Do vậy nếu theo một
các tiếp cận khác ta có thể nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất
khẩu theo các nhóm yếu tố như sau:
- Nhóm các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
- Nhóm các yếu tố thuộc môi trường tác nghiệp.
- Nhóm các nhân tố thuộc về các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.
Trong đề tài này, người viết nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
xuất khẩu theo các tiếp cận thứ hai.
1. Nhóm các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
Là môi trường bao gồm những nhân tố có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp nhưng lại nằm ngoài sự kiểm soát, khống chế của
doanh nghiệp buộc các doanh nghệp phải tự thay đổi mình cho phù hợp với môi
trường. Kinh doanh trong môi trường quốc tế buộc các doanh nghiệo phải đối mặt
với ít nhất hai cấp độ các yếu tố không thể kiểm soát đựoc, trong phạm vi quốc gia
và các nước trên thế gới. Do vậy, nhóm các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô có ảnh
hưởng đến hoạt động xuất khẩu lại được xem xét ở hai góc độ, đó là: môi trường vĩ
mô trong nước và môI trường kinh doanh quốc tế.
2. Môi trường vĩ mô trong nước.
Những nhân tố thuộc môi thường vĩ mô trong nước bao gồm những nhân tố:
2.1. Chính trị và pháp luật.
Các yếu tố chính trị có thể ảnh hưởng tới việc mở rộng phạm vi thị trường
cũng như dung lượng của thị trường, ngoài ra còn mở rộng ra nhiều cơ hội kinh
doanh hấp dẫn trên thị trường quốc tế. Song mặt khác nó cũng có thể trở thành một
hàng rào cản trở quyết liệt, hạn chế khả năng hoạt động của các doanh nghiệp, làm
tác nghẽn hoạt động xuất khẩu. Các yếu tố chính trị có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt
động xuất khẩu: sự bất ổn về chính trị sẽ làm chậm lại sự tăng trưởng, kìm hãm sự
phát triển của khoa học công nghệ gây khó khăn cho việc cải tiến công nghệ tăng