THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC TỪ BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI
CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM
Toàn cầu hóa là giai đoạn mới của quốc tế hóa sinh hoạt kinh tế và đời
sống xã hội hiện nay. Với ý nghĩa như trên, toàn cầu hóa kinh tế là sự phát triển
tất yếu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đây chính là quy luật mà
Mác đã phát hiện, nhưng toàn cầu hóa lại xuất hiện trong thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Tham gia vào toàn cầu hóa, ngoài các nước tư
bản chủ nghĩa phát triển chiếm tỷ trọng lớn nhất về kinh tế, còn một số nước xã
hội chủ nghĩa và những nước ngoại vi của chủ nghĩa tư bản, những nước đang
phát triển.
Mác luôn nói về sự vĩ đại và tính tất yếu nhất thời của chủ nghĩa tư bản.
Toàn cầu hóa ngày nay đang khảng định thế giới quan của Mác. Toàn cầu hóa
không phải là giai đoạn siêu đế quốc, song là giai đoạn mới của chủ nghĩa tư bản
độc quyền. Toàn cầu hóa với quy mô và hình thức như ngày nay chúng ta đang
chứng kiến có thể là chương mới, chương cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc.
Khi nói đến toàn cầu hóa kinh tế, chúng ta không thể tách lực lượng sản
xuất khỏi phương thức sản xuất. tuy nhiên, có thể ở khu vực này hay khu vực
khác của thế giới, mặt lực lượng sản xuất nổi bật lên trong diễn biến toàn cầu.
Toàn cầu hóa trước hết là xu thế khách quan của sự phát triển xã hội. Có
thể nói sự phát triển của chủ nghĩa tư bản biểu hiện trước hết ở chỗ nó tạo ra một
lực lượng sản xuất đồ sộ, hiện đại, xã hội hóa cao, tạo ra hình thức cao của tổ
chức lao động xã hội. Với toàn cầu hóa, chủ nghĩa tư bản đang tạo ra những tiền
đề đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội. Toàn cầu hóa không chỉ chứng tỏ chủ nghĩa
tư bản là tận cùng của lịch sử, ngược lại, với toàn cầu hóa, những mâu thuẫn nội
tại của chủ nghĩa tư bản không mất đi mà ngày càng sâu sắc hơn. Nhưng toàn
cầu hóa không thay thế cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Toàn cầu hóa hiện nay nổi lên một số đặc điểm lớn như sau:
1
Một là, thế kỷ XXI, nhất là nửa đầu thế kỷ XXI, vẫn nằm trong thời đại
quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là một luận điểm
lý luận mà còn là một thực tế lịch sử nhân loại, khi tồn tại hai con đường phát
xuất, sở hữu trí tuệ ngày càng tập trung vào tay tư bản độc quyền. Và như vậy,
toàn cầu hóa hiện nay mang tính chất tư bản chủ nghĩa.
Trên đây là mặt khách quan của toàn cầu hóa. Còn nói về mặt chủ quan,
toàn cầu hóa chính là các chính sách, thiết chế, cam kết, luật lệ, kế hoạch, thủ
đoạn… thì tính chất giai cấp, tính chất tư bản chủ nghĩa càng thể hiện rõ. Những
thể chế của toàn cầu hóa trên thực tế là do các nước tư bản soạn thảo. Kết quả
đấu tranh của giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân, của các nước xã hội chủ
nghĩa và các nước đang phát triển là đáng kể, nhưng chưa phải là căn bản. Các
lực lượng tiến bộ chưa thể đặt ra được mục tiêu đấu tranh là làm thay đổi căn bản
tính chất của toàn cầu hóa mà họ chỉ có thẻ đề ra mục tiêu “dân chủ hóa” toàn
cầu hóa.
Toàn cầu hóa hiện nay không chỉ đậm tính chất tư bản chủ nghĩa mà về
thực chất còn là toàn cầu hóa theo đường lối của chủ nghĩa tự do mới. Một câu
hỏi lớn đặt ra: toàn cầu hóa hiện nay về bản chất xã hội là tư bản chủ nghĩa, do
chủ nghĩa tư bản chi phối, vậy vì sao chúng ta hộ nhập vào quá trình ấy? Các
nước xã hội chủ nghĩa còn lại hội nhập có làm thay đổi tính chất cơ bản của toàn
cầu hóa hay không?
Toàn cầu hóa hiện nay, không phải xã hội chủ nghĩa, mà là tư bản chủ
nghĩa, song chúng ta không vì thế mà đồng nhất toàn cầu hóa với chủ nghĩa tư
bản hơn nữa cần phân biệt bản chất của chủ nghĩa tư bản với những thành tựu
mà nhân loại tạo ra dưới chủ nghĩa tư bản, nhất là những thành tựu về khoa học
công nghệ.
3
Toàn cầu hóa là quá trình chất chứa đầy mâu thuẫn. Toàn cầu hóa chứa
đựng hai mặt tương phản: mặt tích cực và mặt tiêu cực. Như trên đã trình bày,
toàn cầu hóa một mặt tăng cường quyền lực của tư bản, mặt khác nó làm sâu sắc
thêm những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản và chuẩn bị những tiền đề
cho chủ nghĩa xã hội. Trên phạm vi thế giới, mấy chục năm qua, toàn cầu hóa
vừa là hệ quả của việc phát triển lực lượng sản xuất, vừa là động lực thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. toàn cầu hóa dẫn đến sự phân công lao động xã hội
mạng của nhân dân ta.
Chúng ta thấy rõ rằng, toàn cầu hóa không xóa bỏ mâu thuẫn xã hội mà
còn làm cho những mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản phát triển nhanh hơn,
ngày càng sâu sắc hơn, trong đó có mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc.
Toàn cầu hóa hiện nay không những không san lấp mà còn đào sâu thêm
hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giàu và bộ phận dân cư nghèo. Trong các
nước được coi là giàu, và đặc biệt là những nước được coi là đi tiên phong về tự
do thương mại như Mỹ, Anh, sự phân cực lớn các thu nhập và của cải đều không
còn chối cãi. Hầu hết các nước đang phát triển chẳng được lợi lộc gì bởi chính
sách toàn cầu hóa. Tại các nước này, đói nghèo ngày càng gia tăng, nền kinh tế
suy thoái, có nguy cơ mất ổn định. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do
các nước công nghiệp phát triển ngày càng có ảnh hưởng lớn đối vớ nền kinh tế
thế giới thông qua chính sách toàn cầu hóa.
Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội và các dân tộc tiếp tục tồn tại trong
điều kiện toàn cầu hóa. Áp bức dân tộc đã tăng lên sau khi Liên Xô và Đông Âu
sụp đổ. Chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại nếu không có hậu phương là hàng
trăm các quốc gia, vùng lãnh thổ đang phát triển và kém phát triển. Trong quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia thì các nước đang phát triển và chậm
phát triển là những nước thật sự bị lệ thuộc.
Nói đến thời cơ là nói đến sự xuất hiên những điều kiện trong nước và
quốc tế thuận lợi tạo khả năng cho việc giải quyết các nhiệm vụ cách mạng trong
đại, chẳng hạn như công nghiêp hóa, hiện đại hóa như hiện nay. Thời cơ trước
5
hết được tạo ra từ thắng lợi của cách mạng, từ sự lớn mạnh của nội lực (thời cơ
bên trong). Thời cơ còn được tạo ra từ bên ngoài từ chuyển biến cảu tình hình
quốc tế (thời cơ bên ngoài).
Thách thức là những vấn đề khó khăn, trở lực lớn phải vượt qua; những kẻ
địch nguy hiểm phải chiến thắng, những mâu thuẫn phức tạo cần giải quyết để
cách mạng tự bảo vệ và tiến lên. Khó khăn, trở lực to lớn có thể phát triển thành
những nguy cơ đe dọa thành quả cách mạng. Có những thách thức từ bên trong
Trong khi thế giới có những đảo lộn về chính trị, chế độ xã hội, chế độ
kinh tế thì lực lượng sản xuất của loài người vẫn không ngừng phát triển, cách
mạng khoa học công nghệ vẫn diễn ra mạnh mẽ, liên tục. Trong thế kỷ XX, lực
lượng sản xuất ở các nước tư bản phát triển đã chuyển từ giai đoạn công nghiệp
cơ khí là chủ đạo sang giai đoạn công nghệ tin học, kinh tế tri thức là chủ đạo.
Cách mạng khoa học công nghệ đã và sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đưa đến những
biến đổi khó lường về kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng, lối sống và cả kiến trúc
thượng tầng chính trị. Thực tiễn nửa cuối thế kỷ XX cho thấy, lực lượng sản xuất
không ngừng phát triển đã đòi hỏi tháo dỡ mọi trở lực, rào cản. Đó là xu thế
mạnh mẽ không thể đảo ngược. Những sai lầm, chủ quan chính trị, quản lý kinh
tế, nhất là sai lầm trong xác định mô hình đã làm cho chủ nghĩa xã hội hiện thực
trong một thời gian dài khong phát huy được tiềm lực của khoa học công nghệ
hiện đại. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội ở các
nước xã hội chủ nghĩa.
Thời đại chúng ta mang hai nội dung chính yếu. Nội dung thứ nhất là sự
quá độ của loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cái nhìn
từ góc độ hình thái kinh tế - xã hội, cái nhìn tổng quát nhất. Nội dung thứ hai là
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Đây là góc độ từ cái nhìn kinh tế -
kỹ thuật, tức là góc độ sức sản xuất. Dưới góc độ này có thể sử dụng các thuật
2
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Lần thứ XI, NxbCTQG, HN 2011, tr. 67
7
ngữ “thời đại hậu công nghiệp” , “thời đại xã hội thông tin”, “thời đại kinh tế tri
thức”,
Chủ sở hữu đối với khoa học và công nghệ là các tập đoàn tư bản lớn.
Trực tiếp, trước mắt cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tăng cường thế lực
cho chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhưng mặt khác, trong sâu xa, về lâu dài, cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ làm cho những mâu thuẫn nội tại của chủ
nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng đặc biệt là mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất xã hội hóa cao và chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.
hỏi một lượng vốn rất lớn. Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta cần phải
có nguồn vốn lớn. Chúng ta cần ra sức tranh thủ cơ hội các nguồn vốn huy động
nước ngoài và vốn đầu tư trong nước để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Cơ hội tiếp nhận và đỏi mới trang thiết bị. Là nước đi sau, Việt Nam có
điều kiện thuận lợi để tiếp nhận cộng nghệ tiên tiến, hiện đại của các nước phát
triển để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ
sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, nước ta có
cơ hội được hưởng những thành quả của tiến bộ khoa học và công nghệ mới.
Ngày nay, tốc độ phổ cập tri thức mới, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến diễn ra
nhanh chóng thông qua nhiều hình thức và kênh thông tin khác nhau, phổ biến
nhất là chuyển giao công nghệ, nhờ đó các nước đang phát triển có thể thực hiện
và rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Mở cửa giao lưu, tạo điều kiện phát huy nội lực. Với dân số như hiện nay
hơn 80 triệu người, chúng ta có nguồn lực khá dồi dào. Người lao động nước ta
thông minh, sáng tạo. Nhưng nếu đứng ngoài toàn cầu hóa thì việc sử dụng
9
nguồn nhân lực đó sẽ rất lãng phí và không hiệu quả. Hội nhập quốc tế là cơ hội
để khai thác, sử dụng tốt nguồn nhân lực của mình.
Thông qua hội nhập kinh tế, quá trình phân công lao động mới và xã họi
hóa lao động sẽ diễn ra nhanh chóng, chất lượng nguồn nhân lực sẽ được nâng
cao. Quá trình chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển tạo cơ hội cho việc
chuyển đổi từ lao động giản đơn sang lao động co kỹ thuật ở nước ta diễn ra
nhanh chóng.
Tham gia vào nền kinh tế thế giới, các nhà quản lý, các doanh nghiệp Việt
Nam có điều kiện tiếp cận thị trường một cách bình đẳng. Mặt khác, các nhà
quản lý và các nhà doanh nghiệp Việt Nam cũng phải bước vào môi trường cạnh
tranh khắc nghiệt ở cả thị trường quốc nội và thị trường bên ngoài. Điều này bắt
buộc các nhà quản lý và các doanh nghiệp Việt Nam phải đổi mới cách tổ chức
sản xuất, đổi mới công nghệ và trang thiết bị, tiếp thu những phương pháp quản
như cạnh tranh trên thương trường quốc tế là thách thức của tất cả các nước đang
phát triển. Nhưng có những thách thức kinh tế gắn rất chặt với chính trị. Ví dụ,
việc các thế lực thù địch sử dụng kinh tế làm phương tiện để gây sức ép về chính
trị đối với ta hoặc phân biệt đối xử đối với ta về kinh tế để gây khó khăn cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của ta.
Cách mạng khoa học và công nghệ cùng với sự phát triển kinh tế tri thức
tạo thời cơ và vận hội cho chúng ta đi tắt, đón đầu để công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước . Nhưng những vấn đề đăt ra của việc đi tắt, đón đầu không hề đơn
giản. Trước hết là vấn đề yêu cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân. Lao động
giản đơn, kỹ thuật thấp, lương thấp và nguyên liệu thô dồi dào là lợi thế so sánh
của nước ta trước đây, ngày nay càng chịu một giá trị thấp đi, chúng ta không thể
11
khắc phục ngay được nhược điểm này. Hơn nữa, việc thu hút vốn đầu tư ngày
càng trở nên gay gắt hơn và khó khăn hơn.
Trong hội nhập toàn cầu, một thách thức, một nguy cơ từ bên ngoài chúng
ta không thể dự đoán trước được sự xuất hiện của nó, đó là nguy cơ khủng hoảng
kinh tế trên phạm vi toàn thế giới và khu vực. Toàn cầu hóa về kinh tế, nhất là
toàn cầu hóa trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ thúc đẩy các nguồn vốn đầu tư
mạnh, vô kế hoạch, không ai kiểm soát nổi dẫn đến hình thành “bong bóng” tài
chính, “đầu cơ" tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính; chịu tổn
thất nặng nề nhất là các nước đang phát triển.
Do tác động của toàn cầu hóa, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp
dân cư, giữa các vùng ngày càng tăng. Mặc dù bản chất chế độ ta khác với các
nước tư bản, mặc dù Đảng ta có chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn, thực hiện
xóa đói, giảm nghèo đạt hiệu quả cao, song chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn
được mặt trái của cơ chế thị trường, của toàn cầu hóa, trong đó có vấn đề thất
nghiệp gia tăng, phân hóa giàu nghèo gia tăng, kéo theo những vấn xã hội phức
tạp. Khắc phục ảnh hưởng của toàn cầu hóa đối với các vấn đề xã hội, bảo vệ
môi trường để bảo đảm tăng trưởng GDP nhanh, ổn định và bền vững là một
thách thức không nhỏ đối với nước ta.
tài nguyên, lao động. Nhân dân ta có phẩm chất tốt đẹp; tình hình chính trị xã hội
cơ bản ổn định. Đảng ta có đường lối đúng đắn. Với nhân tố chủ quan như vậy,
chúng ta hoàn toàn có khả năng tranh thủ mọi cơ hội vượt qua mọi thử thách từ
bối cảnh thế giới đương đại để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
13
Trong điều kiện toàn cầu hóa, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi thách
thức là điều kiện để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước, hoàn thành
mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ
bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư
tưởng, văn hóa, phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ
nghĩa ngày càng phồn vinh và hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, ra sức
phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Để đạt được mục tiêu trên đây, cần quán triệt và thực
hiện tốt các phương hướng cơ bản: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập
quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân
tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng
Đảng trong sạch vững mạnh”
3
.
Quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt trú trọng
nắm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và
phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và