Câu 5 : Quá trình nhận thức con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Đ ảng ta từ 1975 đến nay potx - Pdf 20

Câu 5 : Quá trình nhận thức con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Đảng ta từ
1975 đến nay.
Bài làm
A. Đặc điểm tình hình của cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội :
1)- Hoàn cảnh lịch sử :
Đại thắng chiến dịch mùa xuân năm 1975 đã tạo ra bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa
trọng đại, mở ra kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc : Đất nước hoàn toàn độc lập, thống
nhất, đi lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong thời kì mới, đất nước chúng ta có nhiều
thuận lợi, song cũng có không ít khó khăn và thách thức mới.
* Thuận lợi :
- Tổ quốc thống nhất là điều kiện thuận lợi quan trọng để huy động các tiềm năng,
sức mạnh của thiên nhiên và con người (rừng và đất rừng, bờ biển, lực lượng lao động…)
trong công cuộc xây dựng đất nước.
- Cơ sở vật chất kiõ thuật của chính quyền chế độ cũ miền Nam hầu như còn
nguyên vẹn được chính quyền cách mạng tiếp thu đã tạo điều kiện thuận lợi cho công
cuộc xây dựng đất nước trong giai đoạn mới.
- Uy tín của Nhà nước Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng được
nâng cao trên trường quốc tế. Sự ra đời của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã
làm cho cục diện bán đảo Đông Dương có nhiều thay đổi, tạo những bước phát triển mới
của cách mạng Việt Nam - Lào.
- Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật (KHKT) của thế giới trong những năm qua như
vũ bão đã đạt nhiều thành tựu to lớn mở ra thời cơ cho các nước đang phát triển có thể
rút ngắn qúa trình tiến triển của mình từ hàng trăm năm xuống còn vài chục năm.
- Xu thế toàn cầu hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc mở
ra khả năng hợp tác toàn diện giữa các nước (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), là thời
cơ hội nhập cho các nước đang phát triển trong công cuộc xây dựng kinh tế đất nước.
- Bài học kinh nghiệm của nước ta rút ra được từ sự sụp đổ của các nước Đông Âu
và Liên Xô là những bài học kinh nghiệm xương máu, bổ ích cho việc xây dựng đất nước
và đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội.
* Những khó khăn :
- Việt Nam với 30 năm liên tục tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ

Quá trình đổi mới là cả qúa trình nhận thức bổ sung dần về lượng, biến đổi về chất,
biết cách tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi nhân tố, mọi lực lượng kinh tế -
xã hội tham gia vào tiến trình CMXHCN ở nước ta. Đây không chỉ là sự kế thừa và phát
triển bài học kinh nghiệm thành công của cách mạng nước ta trong thời kì trước, mà còn
là yêu cầu cấp thiết mang tính tất yếu, hợp quy luật trên bước đường đi lên của nước ta
trong thời kì mới. Trải qua nhiều năm, với thực tế : biết bao khó khăn, phức tạp, cùng với
những thành tựu bước đầu và những sai lầm, khuyết điểm về một số đường lối, chủ
trương và cơ chế, chính sách cụ thể… Đảng ta đã từng bước nhận thức rõ hơn về nội
dung và hình thức, các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng phù hợp lí luận nhận
thức, đi từ thấp đến cao từ việc chưa hoàn thiện đi đến hoàn thiện; phù hợp quan hệ về lí
luận và thực tiễn, tạo ra những (Nấc thang mới( cho bước đi của sự nghiệp xây dựng
CNXH ở nước ta. Đây là qúa trình phản ánh khách quan trong quy trình bổ sung, hoàn
chỉnh cách mạng XHCN của nước ta.
2)- Nội dung của đường lối trong qúa trình nhận thức của Đảng ta :
Từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, thứ IV và thứ V đến đại hội lần thứ VI và thứ
VIII của Đảng với chủ trương đổi mới và thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kì qúa độ đi lên CNXH ở nước ta, những vấn đề cơ bản trên đây ngày được nhận
thức rõ hơn và những nội dung, nhiệm vụ kinh tế - xã hội (KTXH) mới dần dần được cụ
thể hóa sát đúng với thực tiễn cách mạng nước ta trong chặng đường đầu của thời kì qúa
độ.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng lao động Việt Nam (9/1960) :
Đã nêu lên đường lối chung của cách mạng cả nước là tiến hành đồng thời hai chiến
lược cách mạng (CM) : cách mạng XHCN ở miền Bắc, CMDTDCND ở miền Nam. Về
đường lối cách mạng XHCN ở miền Bắc : sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm
nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để : thực hiện cải tạo XHCN đối với nông
nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh. Xây dựng lực lượng
sản xuất (LLSX), cơ sở vật chất, kĩ thuật cho CNXH, phát triển thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh, thực hiện công nghiệp hóa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng
một cách hợp lí, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Đẩy mạnh
cách mạng XHCN về quan hệ sản xuất (QHSX), tư tưởng văn hóa và khoa học kĩ thuật,

XHCN, xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật của CNXH, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn XHCN. ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí trên cơ
sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ…(. Ý nghĩa lịch sử của đại hội đại biểu toàn
quốc của Đảng là đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đại hội thống nhất
nước nhà và cả nước cùng tiến lên CNXH.
Để triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội IV, Ban chấp hành TW (khóa IV) đã có
nhiều hội nghị chuyên đề như hội nghị TW2, TW3, TW5 về kinh tế , xã hội và ổn định đời
sống nhân dân. Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm 1976-1980, đại hội đã đề ra chỉ tiêu
phấn đấu đến năm 1980 hoàn thành cơ bản cải tạo XHCN đối với các tỉnh phía Nam. Ở
miền Bắc, Nghị quyết nêu rõ :(Trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN, tiếp tục củng
cố và hoàn thiện QHSX mới, xây dựng và cải tiến chế độ quản lí, chế độ phân phối. Mở
rộng thành phần quốc doanh, củng cố các cơ sở quốc doanh về mọi mặt(.
Song, thực tiễn đã chứng tỏ công tác cải tạo nông nghiệp (nhiều nới đã làm thí điểm
đưa mô hình hợp tác xã ở miền Bắc vào miền Nam) với cải tạo công thương nghiệp ở
miền Nam là nóng vội, chủ quan, đi ngược lại chủ trương của Đảng. Ở miền Bắc, các hợp
tác xã mở rộng quy mô, tổ chức theo hướng tập trung, chuyên môn hóa, cơ giới hóa. Kết
qủa là hợp tác xã ngày càng có quy mô lớn, tính chất tập trung ngày càng cao thì năng
suất lao động càng giảm, sản xuất không phát triển mà ruộng đất bị bỏ hoang rất lớn,
ngày công xã viên giảm, đời sống xã viên ngày càng khó khăn. Từ cuối năm 1970, ở một
số địa phương xé rào bằng hình thức (khoán chui(. Nhìn chung, qúa trình thí điểm hợp tác
xã ở miền Trung và Tây Nguyên diễn ra thuận lợi, nhưng thiếu vững chắc, ở Nam Bộ diễn
ra phức tạp và lúng túng.
Trên phạm vi cả nước từ 1976-1980 đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp không
ngừng tăng, nhưng năng suất và sản lượng lương thực lại giảm đến mức thấp nhất (274,4
kg/ người năm 1976 xuống 268,2 kg/ người năm 1980). Về phát triển công nghiệp, thời kì
1976 tốc độ tăng bình quân là 0,6%. Các chỉ tiêu đại hội IV đề ra đều không đạt (điện
78%, than 52%, vải 39%, giấy 37%…), tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng 1,4% năm, thu nhập
quốc dân chỉ tăng 0,4% trong khi đó dân số tăng 2,24%. Lưu thông phân phối rối ren, cán
cân thương mại chênh lệch lớn, gía cả tăng vọt : 1976 tăng 126%; 1980 tăng 189,5%;
1981 tăng 313,7%. Đời sống nhân dân và CB.CNVC, lực lượng vũ trang rất khó khăn.

tục đổi mới.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V củûa Đảng (tháng 3/1982) :
Đại hội đã kiểm điểm các hoạt động của Đảng từ đại hội lần thứ IV, đánh gía những
thành tựu và khuyết điểm, rút ra những bài học kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh chống
xâm lược, bảo vệ tổ quốc và xây dựng CNXH trong thời gian qua. khẳng định sự tiếp tục
phương hướng, mục tiêu do đại hội IV đề ra, bổ sung và cụ thể hóa một số nội dung quan
trọng trong đường lối cơ bản :
Một là : khẳng định cách mạng XHCN ở nước ta phải trải qua chặng đường đầu tiên
của thời kì qúa độ với một số mục tiêu kinh tế, xã hội cụ thể hơn.
Hai là : trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng CNXH, phải đồng thời thực
hiện nhiệm vụ chiến lược thứ hai là bảo vệ tổ quốc XHCN. Hai nhiệm vụ chiến lược có
quan hệ mật thiết và bảo đảm cho nhau trong quá trình ổn định và phát triển đất nước.
Đồng thời, đại hội cũng chỉ ra những khó khăn yếu kém của nền kinh tế - xã hội
nước ta là : do nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ, lại bị chiến tranh tàn phá
nặng nề, phải đối phó 2 cuộc chiến tranh biên giới, thiên tai liên tiếp xảy ra; sự sai lầm yếu
kém của các cơ quan Đảng và Nhà nước về lãnh đạo và quản lí kinh tế làm cho tình hình
kinh tế xã hội khó khăn trầm trọng thêm. Sai lầm lớn là đã chủ quan, nóng vội đề ra một
số chủ trương qúa lớn về chỉ tiêu và qúa cao về tốc độ XDCB, phát triển sản xuất, đưa
quy mô hợp tác xã lên qúa lớn.
Những nội dung phê bình trong đại hội tuy chưa đầy đủ nhưng với việc đại hội nhìn
thẳng vào những sai lầm chủ quan để phân tích nguyên nhân, đã phản ánh những đổi mới
tư duy nhất định của Đảng ta trong việc tìm tòi con đường qúa độ lên CNXH ở Việt Nam.
So đại hội IV, đại hội V đã đặt đúng và rõ hơn mối quan hệ giữa công nghiệp hóa và
đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp, xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, hướng
các ngành công nghiệp và KHKT phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, đưa nông nghiệp
một bước lên sản xuất lớn XHCN, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, tiếp tục xây dựng
một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, bảo đảm sự phù hợp giữa QHSX và LLSX,
và trong một thời gian nhất định ở miền Nam vẫn còn tồn tại 5 thành phần kinh tế. Như
vậy đại hội V đã nhận thức được nội dung công nghiệp hóa (CNH) trong chặng đường
đầu tiên của thời kì qúa độ là xây dựng và phát triền nền nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ

chương trình kinh tế lớn, 3 mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu (cụ thể hóa Nghị quyết đại hội V); đây chính là nội dung công nghiệp hóa trong
chặng đường đầu tiên của thời kì qúa độ. Bảo đảm lương thực đủ ăn cho toàn xã hội và
có dự trữ, ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm bảo đảm tái sản xuất sức lao động.
Đáp ứng nhu cầu thiết yếu về hàng tiêu dùng cho nhân dân. Tạo một số mặt hàng xuất
khẩu đáp ứng nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc và hàng hóa.
- Nêu mục tiêu tổng quát cho chặng đường trước mắt và tiếp theo là ổn định tình
hình kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề để đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện
đại hóa cho chặng đường tiếp theo.
- Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN, sử dụng và cải tạo đúng đắn các
thành phần kinh tế, coi nền kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng của thời kì qúa độ. Đó là
một giải pháp có ý nghĩa chiến lược, góp phần giải phóng và khai thác mọi khả năng để
phát triển LLSX xã hội, từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí.
- Xóa bỏ cơ chế quản lí tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế kế
hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, đúng nguyên tắc tập trung dân
chủ. Xác định hai đặc trưng cơ chế quản lí mới, trong đó tính kế hoạch là đặc trưng số
một và sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa tiền tệ là đặc trưng số hai.
* Về đổi mới tư duy chính trị : Đại hội khẳng định : (ổn định và phát triển gắn liền với
nhau trong qúa trình vận động tiến lên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn định
được(. Đây có thể xem là quan điểm xuất phát cho việc đổi mới chính trị. Từ quan điểm
này, đại hội đã có những chủ trương : ổn định đổi mới về chính trị để tạo môi trường phát
triển kinh tế; đổi mới hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể), trước hết
là đổi mới bản thân các nhân tố chính trị. Đổi mới Đảng (trên hết) để nâng cao năng lực
và sức chiến đấu của Đảng. Đồng thời đổi mới về quan hệ là nhằm thực hiện tốt chức
năng Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lí, nhân dân làm chủ. Phân rõ chức năng lãnh đạo
của từng cấp tránh chồng chéo trong tác lãnh đạo và quản lí, đẩy mạnh hoạt động dân
chủ trong đời sống xã hội.
Sau Nghị quyết đại hội VI, Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 10 (1988) về việc : hoàn
thiện chính sách khoán, coi hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ. Nghị quyết lần thứ 6
BCHTW (khoá VI) năm 1989 khẳng định chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành

pháp mới đã tạo hành lang pháp lí cho các thành phần kinh tế phát triển. Tổng kết 5 năm
đổi mới của đại hội VI. Phát họa mô hình CNXH, xây dựng trên nền tảng tư duy đổi mới
trong điều kiện mô hình CNXH của nền kinh tế thị trường.
Sự kiện nổi bật đại hội VII là lần đầu tiên Đảng vạch ra một cương lĩnh nêu rõ quan
điểm của mình về CNXH và con đường đi lên trong thời kì qúa độ để thực hiện mục tiêu
và phương hướng chiến lược thực hiện mô hình CNXH. Từ những quan điểm đúng đắn,
năm 1991, sản xuất nông nghiệp đạt 21,5 triệu tấn, sản xuất công nghiệp tăng 6%, kim
ngạch xuất khẩu đạt 1,8 tỉ USD, GDP tăng 6%. Năm 1992 là năm đầu tiên thực hiện vượt
mức chỉ tiêu do Quốc hội đề ra, GDP tăng 8%, sản lượng nông nghiệp tăng 34,5%, công
nghiệp tăng 22,6%, dịch vụ tăng 42,9%, lạm phát giảm còn 17,5%. Mô hình mới về xây
dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước hình thành ngày càng rõ nét.
Thắng lợi về KTXH trong 2 năm 1991-1992 đã tạo đà cho sự phát triển của đất nước
những năm tiếp theo.
Sau đại hội VII, BCHTW đã có nhiều hội nghị, thông qua nhiều Nghị quyết quan
trọng nhằm xác định quan điểm, chủ trương thực hiện Nghị quyết đại hội trên các lĩnh vực
kinh tế xã hội, văn hóa, văn nghệ, giáo dục, đối ngoại, quốc phòng an ninh, đổi mới và
chỉnh đốn Đảng. Các Nghị quyết của đại hội và của BCHTW đã đi sâu vào cuộc sống,
đem lại những thành tựu to mới rất quan trọng (năm 1995 : GDP đạt 9,5%, nông nghiệp
tăng : 4,7%, công nghiệp tăng : 14%, chỉ số gía cả hàng hóa tăng : 12,7%). Song song với
những thành tựu, những thách thức lớn của nền kinh tế nước ta là : nền kinh tế còn rất
yếu kém, lại phải đương đầu môi trường cạnh tranh gay gắt, do đó nguy cơ tụt hậu xa hơn
so với các nước xung quanh; các thế lực thù địch vẫn đang ra sức (diễn biến hòa
bình( chống phá sự nghiệp cách mạng; có nguy cơ đi chệch hướng XHCN nếu không chú
ý khắc phục những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện cương lĩnh và đường lối; nạn tham
nhũng quan liêu và các tệ nạn khác rất nặng nề.
Tháng 12/1993, hội nghị giữa nhiệm kì đã tổ chức kiểm điểm vệc thực hiện Nghị
quyết đại hội VII và tổng kết một bước thực tiễn đổi mới từ đại hội VI đến nay, nhằm làm
sáng tỏ thêm một số vấn đề trong qúa trình xây dựng CNXH ở nước ta, xác định những
chủ trương và giải pháp lớn để thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội VII, đưa sự nghiệp
cách mạng nước ta tiếp tục tiến lên.

- Lấy hiệu qủa KTXH làm tiêu chuẩn cơ bản để lựa chọn phương hướng phát triển
(lựa chọn dự án đầu tư & công nghệ; đầu tư chiều sâu, khai thác tối đa năng lực sản xuất
hiện có; trong phát triển mới, ưu tiên dự án quy mô vừa và nhỏ công nghệ tiên tiến, tạo ra
nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số công trình quy mô lớn thật
cần thiết và có hiệu qủa; tạo những mũi nhọn trong từng bước phát triển…).
Đại hội VIII đã có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc và tương lai đất nước
vào lúc chúng ta sắp bước vào thế kỉ XXI. Đại hội đã đi vào lịch sử dân tộc nước ta (bước
ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kì mới - thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa(.
* Tóm lại :
Từ ngày thành lập Đảng cho đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam luôn lấy chủ nghĩa
Mac-Lenin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình. Đảng nắm
vững chủ nghĩa Mac-Lenin và luôn có ý thức vận dụng một cách độc lập và sáng tạo vào
hoàn cảnh cụ thể của CMVN, có ý thức kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, sản phẩm
trí tuệ vào việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mac-Lenin với thực tiễn đất nước
và tinh hoa truyền thống dân tộc, chú trọng kết hợp hài hòa lợi ích cách mạng nước ta với
lợi ích cách mạng thế giới, học tập có phê phán kinh nghiệm của phong trào cộng sản
quốc tế. Nhờ đó mà Đảng ta đề ra được nhiều đường lối chủ trương và chính sách sát
hợp, cho phép giải quyết đúng đắn các vấn đề do thực tiễn cách mạng nước ta đề ra.
Bên cạnh những đúng đắn, Đảng ta không tránh khỏi những lúc phạm sai lầm,
khuyết điểm trong lãnh đạo và chỉ đạo. Đi vào cuộc cách mạng XHCN phạm nhiều sai lầm
nghiêm trọng và kéo dài, nhất là trong lĩnh vực lãnh đạo và chỉ đạo kinh tế, mà nguyên
nhân là do chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, vừa nôn nóng, lại vừa bảo
thủ trì trệ.
Ý thức được tính chất khó khăn phức tạp của qúa trình đi lên CNXH ở nước ta, rút ra
bài học kinh nghiệm lịch sử thất bại của Đảng cộng sản các nước Đông Âu và Liên Xô,
cũng như tự kiểm điểm những sai lầm của chính bản thân mình. Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI và các đại hội tiếp theo Đảng ta luôn luôn tự nhận thấy rằng sự cần thiết của
CMVN là phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động phù hợp quy luật khách quan.
Nhận thức quy luật khách quan là điều kiện bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status