LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh
nghiệp nào, nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất phải được ưu tiên hàng
đầu. Trong công nghiệp chế biến muốn tồn tại và phát triển phải gắn với vùng
nguyên liệu.
Qua 14 năm thu mua và chế biến kể từ năm 1986 đến nay Công ty cổ
phần mía đường Lam Sơn đã qua bao khó khăn có lúc tưởng chừng như không
thể vượt qua. Tình hình thực tế Công ty đứng bên bờ vực phá sản nhưng rồi lại
phát triển đi lên đem lại những thành quả tốt đẹp. Tất cả những thăng trầm ấy do
nhiều nguyên nhân đem lại, xong suy cho cùng một trong số những nguyên nhân
cơ bản quan trọng bậc nhất đó là vấn đề nguyên liệu cho nhà máy sản xuất.
Đủ nguyên liệu nhà máy chạy hết công suất, khai thác được tiềm năng sẵn
có của thiết bị, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, giá thành hạ, đem lại lợi nhuận
cao, nộp ngân sách Nhà nước tăng, công nhân có công ăn việc làm, đời sống ổn
định và ngày càng được nâng cao, công nhân gắn bó với nhà máy.
Thiếu nguyên liệu nhà máy hoạt động kém hiệu quả, lãng phí thiết bị máy
móc, khấu hao trên đầu sản phẩm tăng, sản xuất bị thua lỗ, công nhân không có
công ăn việc làm, đời sống ngày càng khó khăn.
Từ những vấn đề trên trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi có chủ
trương đường lối đổi mới của Đảng và các chính sách của Nhà nước về giao
quyền tự chủ cho sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Công ty cổ phần
mía đường Lam Sơn đã chủ động đầu tư giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu cung
cấp cho nhà máy sản xuất ổn định và phát triển.
Hiện nay trong xu thế phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh, Công ty cổ
phần mía đường Lam Sơn đã mở rộng nâng cao công suất nhà máy lên 6.500 tấn
mía cây/ngày. Do đó việc xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu đảm bảo đầy
đủ cho nhà máy sản xuất ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn.
1
Từ những vấn đề nêu trên, việc đặt ra những chương trình nghiên cứu
về vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn, thực trạng vùng nguyên liệu và quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn
- Các thuật ngữ khác nhau như quản trị nguyên vật liệu và cung ứng được
sử dụng như là mác chung cho quy mô toàn cục của tất cả các hoạt động được
yêu cầu để quản lý dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp thông qua hoạt
động của doanh nghiệp đến sử dụng vật liệu cuối cùng, hoặc đối với người tiêu
dùng. Ta có khái niệm sau:
- Quản trị nguyên vật liệu là các hoạt động liên quan tới việc quản lý dòng
vật liệu vào, ra của doanh nghiệp. Đó là quá trình phân nhóm theo chức năng và
quản lý theo chu kỳ hoàn thiện của dòng nguyên vật liệu, từ việc mua và kiểm
soát bên trong các nguyên vật liệu sản xuất đến kế hoạch và kiểm soát công việc
trong quá trình lưu chuyển của vật liệu đến công tác kho tàng vận chuyển và
phân phối thành phẩm
(1)
.
- Mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu là:
+ Quản trị nguyên vật liệu nhằm đáp ứng yêu cầu về nguyên vật liệu cho
sản xuất trên cơ sở có đúng chủng loại nơi nó cần và thời gian nó được yêu cầu.
+ Có tất cả chủng loại nguyên vật liệu khi doanh nghiệp cần tới.
+ Đảm bảo sự ăn khớp của dòng nguyên vật liệu để làm cho chúng có sẵn
khi cần đến.
+ Mục tiêu chung là để có dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp đến
tay người tiêu dùng mà không có sự chậm trễ hoặc chi phía không được điều
chỉnh.
1.2. Nhiệm vụ của quản trị nguyên vật liệu
1
PGS.PTS Nguyễn Kim Truy (Chủ biên), 1999, trang 120
3
- Tính toán số lượng mua sắm và dự trữ tối ưu (kế hoạch cần nguyên vật
liệu).
- Đưa ra các phương án và quyết định phương án mua sắm cũng như kho
tàng.
Vật liệu khác: Bao gồm các vật liệu còn lại ngoài các thứ chưa kể trên
như bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng
(2)
.
2.2. Vai trò nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một bộ phận của đối tượng lao động, là một bộ phận
trọng yếu của quá trình sản xuất kinh doanh, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất kinh doanh nhất định và toàn bộ nguyên vật liệu được chuyển hết vào chi
phí kinh doanh.
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất (sức lao
động, tư liệu lao động và đối tượng lao động) trực tiếp cấu tạo nên thực thể của
sản phẩm.
Trong quá trình sản xuất không thể thiếu nhân tố nguyên vật liệu vì thiếu
nó quá trình sản xuất sẽ không thể thực hiện được hoặc sản xuất bị gián đoạn.
Chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản xuất,
chúng ta không thể có một sản phẩm tốt khi nguyên vật liệu làm ra sản phẩm đó
lại kém chất lượng. Do vậy cần có một kế hoạch đảm bảo nguồn nguyên vật liệu
cho quá trình sản xuất được diễn ra thường xuyên liên tục, cung cấp đúng, đủ số
lượng, quy cách, chủng loại nguyên vật liệu... chỉ trên cơ sở đó mới nâng cao
được các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, sản xuất kinh doanh mới có lãi và doanh
nghiệp mới có thể tồn tại được trên thương trường.
- Xét cả về thực tiễn ta thấy rằng, nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố
cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, nếu thiếu nguyên vật liệu hoặc sản
xuất cung cấp không đầy đủ, đồng bộ theo quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ
không có hiệu quả cao.
2
PTS Nguyễn Văn Công (Chủ biên), 1998, trang 45,46
5
- Xét về mặt vật chất thuần tuý thì nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp cấu
tạo nên sản phẩm, chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng
bao gồm kiểm tra quá trình sản xuất, kiểm soát tồn kho và quản lý vật liệu. Các
hoạt động liên quan đến đầu ra có thể bao gồm đóng gói, vận chuyển và kho
tàng.
4. Các đơn vị cung ứng và một số hoạt động liên quan tới quản trị
nguyên vật liệu
Cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp và trách nhiệm được giao cho từng
đơn vị phụ thuộc vào khả năng của người lao động và nhu cầu của doanh nghiệp
khi các nhà ra quyết định của nó quan sát được điều đó. Tương ứng với mỗi
cách mà doanh nghiệp được tổ chức, một số chức năng liên quan tới quản trị
nguyên vật liệu có thể được thực hiện trong một số bộ phận của doanh nghiệp.
Ta có một số hoạt động liên quan tới quản trị nguyên vật liệu:
- Mua.
- Vận chuyển nội bộ.
- Kiểm soát tồn kho.
- Kiểm soát sản xuất.
7
Bên bán Bên Nhận hàng
Nhận hàng Vận
chuyển
Đầu ra
- Tập kết tại phân xưởng.
- Quản lý vật liệu.
- Đóng gói và vận chuyển.
- Kho tàng bên ngoài và phân phối.
Những người có trách nhiệm đối với các chức năng trên báo cáo cho nhà
quản lý vật liệu, nhà cung ứng hoặc nhà quản lý điều hành. Các chức năng được
thực hiện và cộng tác để đảm bảo điều hành một cách có hiệu quả.
Từ chỗ các doanh nghiệp tổ chức theo các cách thức rất đa dạng nó có thể
đặt tên các loại phòng cụ thể và có trách nhiệm chính xác như tên của nó. Sau
đây ta cần phân tích một số hoạt động trên. Bốn chức năng đầu hầu như chỉ diễn
và cung cấp. Bộ phận này có trách nhiệm:
- Chuẩn bị báo cáo tiếp nhận nguyên vật liệu.
- Giải quyết nhanh gọn các nguyên vật liệu nhằm chỉ ra ở đâu chúng sẽ
được kiểm tra, cất trữ hoặc sử dụng.
4.4. Hoạt động xếp dỡ
- Quản lý các phương tiện vận tải của doanh nghiệp.
- Chuyển hàng lên phương tiện vận tải.
II. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN TRỊ NGUYÊN VẬT
LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP
1. Số lượng nhà cung cấp trên thị trường
Một trong những nhân tố ảnh hưởng rất thường tới các quá trình quản trị
nguyên vật liệu đó là các nhà cung cấp. Số lượng đông đảo các nhà cung cấp
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau là thể hiện sự phát triển của thị trường
các yếu tốt đầu vào nguyên vật liệu. Thị trường này càng phát triển bao nhiêu
càng tạo ta khả năng lớn hơn cho sự lựa chọn nguồn nguyên vật liệu tối ưu bấy
nhiêu.
Mặt khác, sức ép của nhà cung cấp có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi
hoặc khó khăn cho quản trị nguyên vật liệu. Sức ép này gia tăng trong những
trường hợp sau:
9
- Một số công ty độc quyền cung cấp.
- Không có sản phẩm thay thế.
- Nguồn cung ứng trở nên khó khăn.
- Các nhà cung cấp đảm bảo các nguồn nguyên vật liệu quan trọng
nhất cho doanh nghiệp.
2. Giá cả của nguồn nguyên vật liệu trên thị trường
Trong cơ chế thị trường giá cả là thường xuyên thay đổi. Vì vậy việc hội
nhập và thích nghi với sự biến đổi đó là rất khó khăn do việc cập nhật các thông
tin là hạn chế. Do vậy nó ảnh hưởng tới việc định giá nguyên vật liệu, quản lý
nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Việc thay đổi giá cả thường xuyên là do:
nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ... Chúng tham gia một lần vào chu kỳ sản
xuất và cấu thành thực thể sản phẩm. Nó là một trong những yếu tố chính của
quá trình sản xuất. Vì vậy, nếu thiếu nguyên lỉệu không thể tiến hành được sản
xuất.
Đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất thực chất là nghiên cứu một trong các
yếu tố chủ yếu của sản xuất. Thông qua việc nghiên cứu này để giúp cho doanh
nghiệp thấy rõ được ưu nhược điểm trong công tác cung cấp nguyên liệu đồng
thời có biện pháp đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy
cách phẩm chất. Không để xảy ra tình trạng cung cấp thiếu nguyên liệu ngừng
sản xuất, thừa nguyên liệu gây ứ đọng vốn sản xuất.
1. Đảm bảo tình hình cung cấp về tổng khối lượng nguyên liệu
Để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất , đi đôi với việc đảm bảo các yếu tố lao
động, tư liệu lao động, phải thực hiện tốt việc cung cấp nguyên liệu cho sản
xuất. Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà
nguyên liệu của nó có những nét đặc trưng riêng. Đối với doanh nghiệp công
nghiệp nguyên liệu gồm: nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ, phế liệu. Đối với
công ty xây lắp nguyên liệu gồm xi măng, sắt, thép, cát. Đối với doanh nghiệp
11
nông nghiệp nguyên liệu gồm: hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu... Đối với sản
xuất như ngành đường nguyên liệu là cây mía.
Trong điều kiện kinh tế thị trường nguyên liệu nhập về doanh nghiệp từ
nhiều nguồn khác nhau như: tự nhập khẩu, liên doanh liên kết, đối lưu vật tư...
Mỗi nguồn nhập lại có một giá mua, bán khác nhau. Vì vậy để đánh giá tình
hình cung cấp về tổng khối lượng nguyên liệu không thể dựa vào giá thực tế của
chúng mà phải biểu hiện khối lượng nguyên liệu thực tế cung cấp theo giá kế
hoạch. Ngoài ra cần dựa vào tỷ lệ hoàn thành kế hoạch cung cấp về tổng khối
lượng nguyên liệu.
2. Đảm bảo tình hình cung cấp về các loại nguyên liệu chủ yếu
Trong thực tế sản xuất, doanh nghiệp có thể sử dụng vật liệu thay thế để
sản xuất sản phẩm song điều đó không có nghĩa là đối với mọi nguyên liệu đều
việc khai thác các nguồn nguyên liệu để đảm bảo sản xuất. Bên cạnh khối lượng
nguyên liệu nhập từ các đơn vị cung ứng vật tư của Nhà nước, doanh nghiệp có
thể tự nhập khẩu, liên doanh liên kết và nhập từ các nguồn khác. Mở ra cơ chế
mới trong việc cung cấp nguyên liệu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thoát
khỏi sự bế tắc, kéo dài trong một thời kỳ bao cấp chờ đợi Nhà nước cung ứng,
trong khi bản thân Nhà nước không đáp ứng nổi.
Để thấy rõ thành tích của doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch
cung cấp nguyên liệu, một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng là phải
chỉ ra cho được tình hình khai thác của nguồn khả năng về nguyên liệu để đảm
bảo nhu cầu sản xuất.
Khi nghiên cứu vấn đề này, có thể so sánh trị giá nguyên liệu thực tế từng
nguồn cung cấp với tổng trị giá nguyên liệu kế hoạch, cũng như với tổng giá trị
nguyên liệu thực tế cung cấp. Qua đó sẽ thấy được tỷ trọng của từng nguồn
trong tổng giá nguyên liệu được cung cấp trong kỳ.
Khối lượng nguyên liệu cung cấp trong kỳ là có liên quan mật thiết với
tình hình sản xuất dự trữ và sử dụng nguyên liệu. Khi phân tích cần đặt nó trong
13
mối quan hệ với các nhân tố trên để kết luận được đầy đủ và sâu sắc. Trên thực
tế, có khi khối lượng nguyên liệu cung cấp tăng nhưng phẩm chất quy cách
không đảm bảo sẽ dẫn đến tình trạng gây khó khăn cho sản xuất. Ngay cả trong
trường hợp chất lượng và quy cách nguyên liệu đảm bảo, nếu khối lượng sản
xuất không tăng mà tăng khối lượng nhập sẽ dẫn đến ứ đọng vốn. Vì thế, vấn đề
có tính nguyên tắc đặt ra cho công tác cung cấp nguyên liệu ở mỗi doanh nghiệp
cần phải quán triệt là: đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và
quy cách phẩm chất nhằm phục vụ tốt cho quá trình sản xuất kinh doanh ở bất
cứ doanh nghiệp nào.
4. Phát triển nguyên liệu trong công nghiệp chế biến nông sản
Chế biến nông sản là chế biến sản phẩm của ngành trồng trọt. Muốn có
nguyên liệu cho việc chế biến phải phát triển ngành trồng trọt.
Ngành trồng trọt cung cấp cho xã hội nhu cầu chủ yếu về lương thực cho
nếu để lâu chất lượng sẽ giảm. Mía sau khi thu hoạch cứ một ngày để lâu lại trên
bãi chất lượng mía giảm 0,03 trữ đường, nếu để quá thời hạn cho phép thì đường
sẽ biến chất không ra được sản phẩm đường, mà ra một sản phẩm khác, thậm chí
còn làm hỏng một lô mía khác.
Mặt khác trong sản xuất nông nghiệp các loại cây trồng thường tranh chấp
lẫn nhau, không ổn định. Trồng mía sau mỗi năm mới cho thu hoạch nếu không
có chính sách hợp lý nông dân sẽ bỏ trồng mía mà chuyển trồng cây hoa màu
khác như cây ngô, khoai, sắn, cao su.... Thực tế ở nước ta trong nhiều năm qua
một số nhà máy do không giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu nên sản xuất bị đình
đốn, kém hiệu quả thậm chí còn bị đóng cửa, dỡ bỏ nhà máy đi nơi khác.
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 thực dân Pháp đã xây dựng ở miền
Đông Nam Bộ hai nhà máy đường nhưng do không giải quyết tốt vấn đề nguyên
liệu hai nhà máy bị thải, bỏ.
15
Năm 1961 Nhà nước ta đầu tư xây dựng nhà máy đường Vạn Điểm công
suất 1.000 tấn mía/ngày. Qua bao nhiêu năm vẫn không đủ nguyên liệu cho nhà
máy sản xuất, từ năm 1962 đến 1983 trong 21 năm chỉ thu mua được 1.312.486
tấn mía, bình quân mỗi năm chỉ thu mua và chế biến được 62.516 tấn mía.
Trong khi đó yêu cầu nguyên liệu của nhà máy là 160.000 tấn/năm. Bước sang
thời kỳ đổi mới xoá bỏ bao cấp, mỗi năm nhà máy chỉ thu mua được 30.000 tấn
mía. Do không giải quyết được nguyên liệu từ năm 1996 đến nay nhà máy đóng
cửa không sản xuất và đang có phương án dỡ bỏ đi nơi khác.
Tiếp đó là nhà máy đường Sông Lam - Nghệ An cũng được xây dựng năm
1961, công suất 500 tấn mía/ngày, hàng năm yêu cầu 70.000 tấn mía nguyên
liệu nhưng trong suốt 20 năm hoạt động, bình quân mỗi năm nhà máy chỉ thu
mua và chế biến được 32.000 tấn, chưa đạt 50% nguyên liệu, hiệu quả sản xuất
thấp.
Cũng trong bối cảnh đó nhà máy đường Việt Trì - Vĩnh Phú trong nhiều
năm sản xuất bị thua lỗ, nợ Nhà nước ngày một tăng, nguyên liệu vận chuyển về
nhà máy 2 - 3 ngày mới đủ ép một ngày, cũng do thiếu nguyên liệu.
không thay đổi được bộ mặt kinh tế vùng. Thậm chí bản thân các đơn vị này
Nhà nước phải bù lỗ, đồng thời cũng không làm được vai trò chủ đạo của các
doanh nghiệp Nhà nước đóng trên địa bàn lãnh thổ. Năm 1986 khi nhà máy
đường Lam Sơn ra đời (nay là Công ty đường Lam Sơn). Sau những bước khó
khăn ban đầu nhà máy đã tìm ra những giải pháp đúng đắn, có hiệu quả, chỉ
trong vòng mấy năm từ 1990 đến nay Công ty Cổ phần mía đường Lam Sơn đã
góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của cả một vùng trung
du đồi núi của tỉnh Thanh Hoá. Từ một động thái kinh tế - xã hội kém phát triển
sang một giai đoạn mới - giai đoạn tạo những tiền đề ban đầu để chuyển sang
kinh tế phát triển mà nội dung của nó là chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp
chế biến gắn với nông nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước gắn với thị trường mà tài
chính tín dụng là sợi dây chuyền xuyên suốt trong qúa trình đó - sự chuyển dịch
này đã làm thay đổi nội dung sinh hoạt toàn vùng. Từ thực tiễn vùng Lam Sơn
17
có thể nói rằng sự ra đời của cơ sở công nghiệp chế biến cùng những bước tìm
tòi đổi mới cơ chế quản lý ở đây cũng chính là nội dung của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đối với nông thôn - nông nghiệp - nông dân theo tinh thần đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VII đã đề ra. Bước đi của Lam Sơn cũng chính là
bước đi thử nghiệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong một vùng nông
nghiệp lạc hậu tự cung, tự cấp, tự túc, không lệ thuộc vào thiên nhiên. Qua đánh
giá khái quát trên ta có thể xét vai trò của Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn
đối với quá trình phát triển nông thôn, nông nghiệp, nông dân trong vùng như
sau:
1. Giải quyết tốt mối quan hệ Công Nghiệp – Nông Nghiệp – Dịch Vụ
của vùng theo hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cơ sở công nghiệp chế biến ra đời từ một vùng nông nghiệp để tìm ra cơ
chế, hình thức kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa kinh tế Nhà nước
với kinh tế hộ nông dân là một khâu đột phá là cuộc cách mạng sâu sắc trong kỹ
thuật sản xuất, được đặc trưng bởi công nghiệp chuyển hoá từ thủ công là phổ biến
sang kỹ thuật công nghiệp trở thành một nhân tố chủ đạo chi phối quá trình sản
bước đầu tạo ra thế phân công lao
động trong nội bộ Xí nghiệp, tạo thêm đối tượng lao động, tạo thêm công ăn
việc làm cho con em trồng mía trong vùng, thêm sản phẩm cho xã hội.
Ý nghĩa của công nghiệp chế biến đường Lam Sơn không chỉ hạn chế
trong phạm vi bao trùm là sự tác động của nó đến một vùng nông nghiệp, nông
thôn đã qua nhiều thập kỷ chìm đắm trong kinh tế tự cấp, tự túc lệ thuộc vào
thiên nhiên. Công nghiệp đã tìm ra phương thức kết hợp để giải phóng hoạt
động kinh tế của vùng khỏi lĩnh vực nông nghiệp, thuần nông lấy đất đai làm
nền tảng duy nhất của sản xuất đồng thời giải phóng sinh hoạt kinh tế khỏi
phương thức sinh hoạt có tính tự nhiên. Với vai trò của công nghiệp trong sự
hợp tác liên kết mới nông dân trong vùng đã coi nhà máy đường Lam Sơn là của
người trồng mía, lợi ích của họ đã gắn bó với lợi ích của nhà máy và ngược lại.
Công nghiệp đã giải phóng hoạt động kinh tế của con người khỏi quan hệ trực
tiếp với đất đai, tạo ra không gian mới cho hoạt động kinh tế của vùng.
19
Như vậy công nghiệp xuất hiện tạo ra thế phân công lao động mới, kèm
theo sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá đa dạng từ các khâu sản xuất, dịch vụ,
chế biến, tiêu thụ. Ở đây hoạt động kinh tế chuyển hẳn trạng thái, chấm dứt tình
trạng sinh tồn bằng cách mỗi người tự tạo ra mọi sản phẩm để thoả mãn nhu cầu
của mình. Trạng thái kinh tế tự túc, tự cấp khép kín bị phá vỡ, biến sản phẩm
mía đường thành một cơ cấu chung, một nền sản xuất mang tính xã hội và đang
trong xu thế mở rộng phát triển đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao trong một
vùng nông thôn rộng lớn.
3. Thay đổi tư duy kinh tế của cư dân trong vùng
Công nghiệp chế biến đường hình thành trên vùng Lam Sơn, không chỉ có
ý nghĩa là phát triển công nghiệp trong vùng nông thôn, tạo ra sự khác biệt về
phương thức kinh doanh mới đó là sự thay đổi từ cách tư duy tiểu nông sang tư
duy kinh tế hàng hoá và thị trường đó là kiểu kinh doanh theo đuổi mục tiêu gia
tăng sản phẩm xã hội, tăng thêm lợi nhuận, đồng thời cũng từng bước giúp cho con
người tiếp cận dần với các quy luật của thị trường, như quy luật cạnh tranh, giá trị,
Thực tế xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng Lam Sơn được thể hiện
qua bảng số liệu sau:
Cơ cấu kinh tế vùng Lam Sơn so với cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa
ĐVT: %
Tỉnh Thanh Hóa Vùng mía
Lam Sơn
Huyện Thọ
Xuân
Năm 1990: 100 100 100
- Nông, Lâm, Thủy Sản 51,63 59,95 52,17
- Công nghiệp, Xây dựng 17,74 11,73 17,39
- Dịch vụ, Thương mại 30,63 28,32 30,43
Năm 1995: 100 100 100
- Nông, Lâm, Thủy Sản 45,99 54,60 43,11
- Công nghiệp, Xây dựng 20,09 14,53 24,80
- Dịch vụ, Thương mại 33,92 30,87 32,09
21
Với mô hình hợp tác đa thành phần, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế
Nhà nước chủ yếu là doanh nghiệp công nghiệp chế biến và ngân hàng đã làm
thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng GDP của vùng. Tình hình ở
Lam Sơn đã chứng minh rằng nếu có cơ chế đúng phù hợp với thực tiễn thì quan
điểm công nghiệp hóa nông nghiệp của Đảng sẽ được đưa vào cuộc sống. Năm
1995, giá trị tăng thêm của công nghiệp trong vùng chiếm 9,1% tăng 2,6% so
với năm 1990 . Trong đó, quốc doanh chiếm 2,3% giảm 1% về tỷ lệ cơ cấu so
với năm 1990. Như vậy công nghiệp quốc doanh có vai trò rất quan trọng đến sự
phát triển của vùng. Sản xuất của Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn liên tục
tăng và có hiệu quả. Tính theo giá cố định năm 1989 giá trị sản lượng năm 1995
đạt 40,3 tỷ đồng chiếm 65,6% giá trị sản lượng công nghiệp quốc doanh toàn
vùng và 52,5% giá trị toàn vùng kể cả quốc doanh và ngoài quốc doanh. Giá trị
sản lượng công nghiệp năm 1995 tăng 7,3 lần so với năm 1990.
thoát khỏi trạng thái kinh tế chậm phát triển, tự cung, tự cấp.
- Ở khu vực kinh tế hợp tác xã, gần 100 hợp tác xã trong vùng chỉ là sự
cộng hợp các yếu tố đồng chất của kinh tế hộ nông dân còn lệ thuộc vào kinh tế
tự nhiên.
- Ở khu vực quốc doanh nông nghiệp, 3 nông trường quốc doanh vẫn chưa tạo
ra được điều kiện để phát triển sản xuất tự nuôi sống mình mà vẫn phải trông chờ
vào ngân sách nhà nước, do đó không phát huy được vai trò chủ đạo đối với vùng.
- Quốc doanh công nghiệp ra đời, nhưng do chưa tạo đủ điều kiện để tác
động đến kinh tế hộ nông dân, lại chưa tạo ra quan hệ kinh tế gắn bó lợi ích
nông dân với lợi ích nhà máy, nên đã kéo dài tình trạng thiếu nguyên liệu và
đứng trước nguy cơ thua lỗ.
Nhìn lại thực trạng vùng Lam Sơn trước năm 1990 có thể rút ra nhận xét
sau đây: Nếu không tạo lập được hình thức tổ chức và cơ chế quản lý phù hợp
23
thì dẫu đầu tư lớn vẫn không tạo ra được động lực làm thay đổi cục diện kinh tế
- xã hội trên vùng. Từ đó có thể kết luận rằng tăng cường đầu tư phải đi liền với
đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động các doanh nghiệp nhà nước trên
địa bàn, gắn kinh tế nhà nước với kinh tế hộ nông dân, tạo ra động lực thúc đẩy
kinh tế - xã hội vùng phát triển toàn diện.
2. Qúa trình chuyển đổi Công ty
Năm 1993 nhà nước cho phép nhà máy đường Lam Sơn chuyển đổi thành
Công ty đường Lam Sơn. (Công ty đường Lam Sơn là một doanh nghiệp Nhà
nước được thành lập theo thông báo số 01 TB ngày 04/01/1993 của Thủ tướng
Chính phủ và quyết định số 11 NN-TCCB ngày 08/01/1994 của Bộ trưởng Bộ
NN&PTNT).
- Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
+ Công nghệ đường mật bánh kẹo.
+ Công nghệ nước uống giải khát có cồn và không có cồn.
+ Chế biến các sản phẩm từ đường và hoa quả.
Dịch vụ sản xuất đời sống.
- Công nghiệp chế biến các sản phẩm sau đường.
- Công nghiệp chế biến nông, lâm sản.
- Công nghiệp chế bến thức ăn gia súc.
- Các dịch vụ: Vận tải, cơ khí, cung ứng vật tư, nguyên liệu và tiêu thụ
sản phẩm, sản xuất và cung ứng giống cây, giống con.
- Các ngành nghề khác phù hợp với pháp luật quy định.
1- Vốn điều lệ: 150 tỷ đồng.
Trong đó:
- Tỷ lệ phần Nhà nước 46% vốn điều lệ.
- Tỷ lệ phần bán cho người lao động trong doanh nghiệp 24% vố điều lệ.
- Tỷ lệ phần bán cho người lao động trồng và bán mía cho doanh nghiệp
là 26% vốn điều lệ.
25