Một số giải pháp cơ bản về phát triển vùng Nguyên liệu Công ty Cổ phần mía đường Lam Sơn - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
Lời mở đầu
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh
nghiệp nào, nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất phải đợc u tiên hàng đầu.
Trong công nghiệp chế biến muốn tồn tại và phát triển phải gắn với vùng nguyên
liệu.
Qua 14 năm thu mua và chế biến kể từ năm 1986 đến nay Công ty cổ phần
mía đờng Lam Sơn đã qua bao khó khăn có lúc tởng chừng nh không thể vợt qua.
Tình hình thực tế Công ty đứng bên bờ vực phá sản nhng rồi lại phát triển đi lên
đem lại những thành quả tốt đẹp. Tất cả những thăng trầm ấy do nhiều nguyên
nhân đem lại, xong suy cho cùng một trong số những nguyên nhân cơ bản quan
trọng bậc nhất đó là vấn đề nguyên liệu cho nhà máy sản xuất.
Đủ nguyên liệu nhà máy chạy hết công suất, khai thác đợc tiềm năng săn có
của thiết bị, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, giá thành hạ, đem lại lợi nhuận cao,
nộp ngân sách Nhà nớc tăng, công nhân có công ăn việc làm, đời sống ổn định và
ngày càng đợc nâng cao, công nhân gắn bó với nhà máy.
Thiếu nguyên liệu nhà máy hoạt động kém hiệu quả, lãng phí thiết bị máy
móc, khấu hao trên đầu sản phẩm tăng, sản xuất bị thua lỗ, công nhân không có
công ăn việc làm, đời sống ngày càng khó khăn.
Từ những vấn đề trên trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi có chủ tr-
ơng đờng lối đổi mới của Đảng và các chính sách của Nhà nớc về giao quyền tự
chủ cho sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Công ty cổ phần mía đờng
Lam Sơn đã chủ động đầu t giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu cung cấp cho nhà
máy sản xuất ổn định và phát triển.
Hiện nay trong xu thế phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh, Công ty cổ
phần mía đờng Lam Sơn đã mở rộng nâng cao công suất nhà máy lên 6.500 tấn
mía cây/ngày. Do đó việc xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu đảm bảo đầy
đủ cho nhà máy sản xuất ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn.
Từ những vấn đề nêu trên, việc đặt ra những chơng trình nghiên cứu về
vùng nguyên liệu mía đờng Lam Sơn, thực trạng vùng nguyên liệu và quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn trong

dụng nh là mác chung cho quy mô toàn cục của tất cả các hoạt động đợc yêu cầu
để quản lý dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp thông qua hoạt động của
doanh nghiệp đến sử dụng vật liệu cuối cùng, hoặc đối với ngời tiêu dùng. Ta có
khái niệm sau:
- Quản trị nguyên vật liệu là các hoạt động liên quan tới việc quản lý dòng
vật liệu vào, ra của doanh nghiệp. Đó là quá trình phân nhóm theo chức năng và
quản lý theo chu kỳ hoàn thiện của dòng nguyên vật liệu, từ việc mua và kiểm soát
bên trong các nguyên vật liệu sản xuất đến kế hoạch và kiểm soát công việc trong
quá trình lu chuyển của vật liệu đến công tác kho tàng vận chuyển và phân phối
thành phẩm
(1)
.
- Mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu là:
+ Quản trị nguyên vật liệu nhằm đáp ứng yêu cầu về nguyên vật liệu cho
sản xuất trên cơ sở có đúng chủng loại nơi nó cần và thời gian nó đợc yêu cầu.
+ Có tất cả chủng loại nguyên vật liệu khi doanh nghiệp cần tới.
+ Đảm bảo sự ăn khớp của dòng nguyên vật liệu để làm cho chúng có sẵn
khi cần đến.
+ Mục tiêu chung là để có dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp đến tay
ngời tiêu dùng mà không có sự chậm trễ hoặc chi phía không đợc điều chỉnh.
1.2. Nhiệm vụ của quản trị nguyên vật liệu.
- Tính toán số lợng mua sắm và dự trữ tối u (kế hoạch cần nguyên vật liệu).
- Đa ra các phơng án và quyết định phơng án mua sắm cũng nh kho tàng.
- Đờng vận chuyển và quyết định vận chuyển tối u.
1
PGS.PTS Nguyễn Kim Truy (Chủ biên), 1999, trang 120
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
- Tổ chức công tác mua sắm bao gồm công tác từ khâu xác định bạn hàng,
tổ chức nghiệp vụ đặt hàng, lựa chọn phơng thức giao nhận, kiểm kê, thanh toán.
- Tổ chức hoạt động vận chuyển nguyên vật liệu bao gồm từ khâu lựa chọn

2
PTS Nguyễn Văn Công (Chủ biên), 1998, trang 45,46
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
xuất kinh doanh nhất định và toàn bộ nguyên vật liệu đợc chuyển hết vào chi phí
kinh doanh.
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất (sức lao động,
t liệu lao động và đối tợng lao động) trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản phẩm.
Trong quá trình sản xuất không thể thiếu nhân tố nguyên vật liệu vì thiếu nó
quá trình sản xuất sẽ không thể thực hiện đợc hoặc sản xuất bị gián đoạn.
Chất lợng nguyên vật liệu ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng sản xuất, chúng
ta không thể có một sản phẩm tốt khi nguyên vật liệu làm ra sản phẩm đó lại kém
chất lợng. Do vậy cần có một kế hoạch đảm bảo nguồn nguyên vật liệu cho quá
trình sản xuất đợc diễn ra thờng xuyên liên tục, cung cấp đúng, đủ số lợng, quy
cách, chủng loại nguyên vật liệu... chỉ trên cơ sở đó mới nâng cao đợc các chỉ tiêu
kinh tế, kỹ thuật, sản xuất kinh doanh mới có lãi và doanh nghiệp mới có thể tồn
tại đợc trên thơng trờng.
- Xét cả về thực tiễn ta thấy rằng, nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ
bản của quá trình sản xuất kinh doanh, nếu thiếu nguyên vật liệu hoặc sản xuất
cung cấp không đầy đủ, đồng bộ theo quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ không
có hiệu quả cao.
- Xét về mặt vật chất thuần tuý thì nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp cấu tạo
nên sản phẩm, chất lợng nguyên vật liệu ảnh hởng trực tiếp tới chất lợng sản
phẩm. Do đó công tác quản trị nguyên vật liệu là một biện pháp cơ bản để nâng
cao chất lợng sản phẩm.
2.3. Vai trò quản trị nguyên vật liệu.
- Quản trị nguyên vật liệu tốt sẽ điều kiện tiền đề cho hoạt động sản xuất có
thể tiến hành và tiến hành có hiệu quả cao.
- Quản trị nguyên vật liệu tốt sẽ tạo cho điều kiện cho hoạt động sản xuất
diễn ra một cách liên tục, không bị gián đoạn góp phần đáp ứng tốt nhu cầu của
khách hàng.

đợc thực hiện trong một số bộ phận của doanh nghiệp.
Ta có một số hoạt động liên quan tới quản trị nguyên vật liệu:
- Mua.
- Vận chuyển nội bộ.
Bên bán Bên
Nhận hàng
Nhận hàng
Vận
chuyển
Đầu ra
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
- Kiểm soát tồn kho.
- Kiểm soát sản xuất.
- Tập kết tại phân xởng.
- Quản lý vật liệu.
- Đóng gói và vận chuyển.
- Kho tàng bên ngoài và phân phối.
Những ngời có trách nhiệm đối với các chức năng trên báo cáo cho nhà
quản lý vật liệu, nhà cung ứng hoặc nhà quản lý điều hành. Các chức năng đợc
thực hiện và cộng tác để đảm bảo điều hành một cách có hiệu quả.
Từ chỗ các doanh nghiệp tổ chức theo các cách thức rất đa dạng nó có thể
đặt tên các loại phòng cụ thể và có trách nhiệm chính xác nh tên của nó. Sau đây
ta cần phân tích một số hoạt động trên. Bốn chức năng đầu hầu nh chỉ diễn ra
trong hoạt động sản xuất vật chất. Hoạt động mua bán và kiểm tra hàng hoá trong
khi xảy ra trong sản xuất vật chất và phi vật chất.
4.1. Hoạt động kiểm soát sản xuất:
Nó thực hiện các chức năng sau:
- Xây dựng lịch điều hành sản xuất cho phù hợp với khả năng sẵn có của
nguyên vật liệu tho công việc và tiến độ tồn đọng trớc đó, xác định cho nhu cầu
sản phẩm và thời gian cho sản xuất.

trong doanh nghiệp.
1. Số lợng nhà cung cấp trên thị trờng.
Một trong những nhân tố ảnh hởng rất thờng tới các quá trình quản trị
nguyên vật liệu đó là các nhà cung cấp. Số lợng đông đảo các nhà cung cấp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau là thể hiện sự phát triển của thị trờng các yếu tốt
đầu vào nguyên vật liệu. Thị trờng này càng phát triển bao nhiêu càng tạo ta khả
năng lớn hơn cho sự lựa chọn nguồn nguyên vật liệu tối u bấy nhiêu.
Mặt khác, sức ép của nhà cung cấp có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi
hoặc khó khăn cho quản trị nguyên vật liệu. Sức ép này gia tăng trong những trờng
hợp sau:
- Một số công ty độc quyền cung cấp.
- Không có sản phẩm thay thế.
- Nguồn cung ứng trở nên khó khăn.
- Các nhà cung cấp đảm bảo các nguồn nguyên vật liệu quan trọng nhất cho
doanh nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
2. Giá cả của nguồn nguyên vật liệu trên thị trờng.
Trong cơ chế thị trờng giá cả là thờng xuyên thay đổi. Vì vậy việc hội nhập
và thích nghi với sự biến đổi đó là rất khó khăn do việc cập nhật các thông tin là
hạn chế. Do vậy nó ảnh hởng tới việc định giá nguyên vật liệu, quản lý nguyên vật
liệu trong doanh nghiệp. Việc thay đổi giá cả thờng xuyên là do:
- Tỷ giá hối đoái thay đổi làm cho các nguyên vật liệu nhập khẩu với giá
cũng khác nhau.
- Do các chính sách của chính phủ (quata, hạn ngạch...)
- Do độc quyền cung cấp của một số hãng mạnh.
3. Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý trong doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp ở nớc ta hiện nay do việc xem nhẹ các hoạt động quản
lý liên quan tới nguồn đầu vào của doanh nghiệp cho nên ảnh hởng rất lớn tới kết
quả kinh doanh. Một trong những yếu tố của việc xem nhẹ này là việc đánh giá
không đúng tầm quan trọng của yếu tố đầu vào (đặc biệt là doanh nghiệp nhà nớc)

động, t liệu lao động, phải thực hiện tốt việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà nguyên
liệu của nó có những nét đặc trng riêng. Đối với doanh nghiệp công nghiệp
nguyên liệu gồm: nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ, phế liệu. Đối với công ty
xây lắp nguyên liệu gồm xi măng, sắt, thép, cát. Đối với doanh nghiệp nông
nghiệp nguyên liệu gồm: hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu... Đối với sản xuất nh
ngành đờng nguyên liệu là cây mía.
Trong điều kiện kinh tế thị trờng nguyên liệu nhập về doanh nghiệp từ
nhiều nguồn khác nhau nh: tự nhập khẩu, liên doanh liên kết, đối lu vật t... Mỗi
nguồn nhập lại có một giá mua, bán khác nhau. Vì vậy để đánh giá tình hình cung
cấp về tổng khối lợng nguyên liệu không thể dựa vào giá thực tế của chúng mà
phải biểu hiện khối lợng nguyên liệu thực tế cung cấp theo giá kế hoạch. Ngoài ra
cần dựa vào tỷ lệ hoàn thành kế hoạch cung cấp về tổng khối lợng nguyên liệu.
2. Đảm bảo tình hình cung cấp về các loại nguyên liệu chủ yếu.
Trong thực tế sản xuất, doanh nghiệp có thể sử dụng vật liệu thay thế để sản
xuất sản phẩm song điều đó không có nghĩa là đối với mọi nguyên liệu đều có thể
thay thế đợc nh: cây mía, cao su... Các loại nguyên liệu không thể thay thế đợc gọi
là nguyên liệu chủ yếu, tham gia cấu thành thực thể sản phẩm. Để đảm bảo sản
xuất không bị gián đoạn, trớc hết doanh nghiệp phải đảm bảo cung cấp đầy đủ các
nguyên liệu chủ yếu.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
Đảm bảo tình hình cung cấp về tổng khối lợng nguyên liệu mới chỉ biết đợc
nét chung về vấn đề này. Mọi nhân tố cá biệt đã đợc bù trừ lẫn nhau. Ngay cả
trong trờng hợp doanh nghiệp hoàn thành vợt mức kế hoạch cung cấp về tổng khối
lợng nguyên liệu, nhng tình trạng ngừng sản xuất vẫn xảy ra, nếu doanh nghiệp
không hoàn thành kế hoạch cung cấp về nguyên liệu chủ yếu cho quá trình sản
xuất.
Đảm bảo tình hình cung cấp về các loại nguyên liệu chủ yếu, nhằm mục
đích thấy rõ ảnh hởng của việc cung cấp nguyên liêụ đối với việc đảm bảo tính
liên tục của chu trình sản xuất ở doanh nghiệp.

Khối lợng nguyên liệu cung cấp trong kỳ là có liên quan mật thiết với tình
hình sản xuất dự trữ và sử dụng nguyên liệu. Khi phân tích cần đặt nó trong mối
quan hệ với các nhân tố trên để kết luận đợc đầy đủ và sâu sắc. Trên thực tế, có
khi khối lợng nguyên liệu cung cấp tăng nhng phẩm chất quy cách không đảm bảo
sẽ dẫn đến tình trạng gây khó khăn cho sản xuất. Ngay cả trong trờng hợp chất l-
ợng và quy cách nguyên liệu đảm bảo, nếu khối lợng sản xuất không tăng mà tăng
khối lợng nhập sẽ dẫn đến ứ đọng vốn. Vì thế, vấn đề có tính nguyên tắc đặt ra cho
công tác cung cấp nguyên liệu ở mỗi doanh nghiệp cần phải quán triệt là: đảm bảo
cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách phẩm chất nhằm phục vụ
tốt cho quá trình sản xuất kinh doanh ở bất cứ doanh nghiệp nào.
4. Phát triển nguyên liệu trong công nghiệp chế biến nông sản
Chế biến nông sản là chế biến sản phẩm của ngành trồng trọt. Muốn có
nguyên liệu cho việc chế biến phải phát triển ngành trồng trọt.
Ngành trồng trọt cung cấp cho xã hội nhu cầu chủ yếu về lơng thực cho con
ngời và gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, hoa quả, rau xanh cho bữa
ăn hàng ngày của con ngời, sản phẩm hàng hóa cho xuất khẩu và cũng chính cây
trồng của ngành nông nghiệp cung cấp cây xanh tạo nên lá phổi của trái đất, góp
phần cân bằng sinh thái cho quả đất chúng ta. Nh vậy, sản phẩm của ngành trồng
trọt rất đa dạng và phong phú.
Ngành trồng trọt sản phẩm chủ yếu là sản phẩm cây trồng. Vì nó là sản
phẩm của ngành trồng trọt do đó sản lợng sản phẩm trớc hết tuỳ thuộc vào diện
tích gieo trồng, năng suất cây trồng. Diện tích gieo trồng phụ thuộc vào thiên tai,
chất đất, loại đất và thời vụ mà ngời ta gieo trồng, nhiều loại giống cây trồng khác
nhau mỗi loại giống cây trồng có năng suất thu hoạch khác nhau do đó khi thay
đổi giống cây trồng, tức là thay đổi cơ cấu diện tích gieo trồng, tuỳ năng suất từng
loại cây trồng có thể thay đổi năng suất thu hoạch bình quân. Nếu chúng ta thay
đổi sản lợng cây trồng cuối cùng phải tiến hành cải tạo đất, thứ hạng đất từ đó làm
tăng năng suất tăng sản lợng cây trồng.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
Vì vậy muốn tăng sản lợng cây trồng phục vụ cho công nghiệp chế biến

bình quân mỗi năm chỉ thu mua và chế biến đợc 62.516 tấn mía. Trong khi đó yêu
cầu nguyên liệu của nhà máy là 160.000 tấn/năm. Bớc sang thời kỳ đổi mới xoá bỏ
bao cấp, mỗi năm nhà máy chỉ thu mua đợc 30.000 tấn mía. Do không giải quyết
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
đợc nguyên liệu từ năm 1996 đến nay nhà máy đóng cửa không sản xuất và đang
có phơng án dỡ bỏ đi nơi khác.
Tiếp đó là nhà máy đờng Sông Lam - Nghệ An cũng đợc xây dựng năm
1961, công suất 500 tấn mía/ngày, hàng năm yêu cầu 70.000 tấn mía nguyên liệu
nhng trong suốt 20 năm hoạt động, bình quân mỗi năm nhà máy chỉ thu mua và
chế biến đợc 32.000 tấn, cha đạt 50% nguyên liệu, hiệu quả sản xuất thấp.
Cũng trong bối cảnh đó nhà máy đờng Việt Trì - Vĩnh Phú trong nhiều năm
sản xuất bị thua lỗ, nợ Nhà nớc ngày một tăng, nguyên liệu vận chuyển về nhà
máy 2 - 3 ngày mới đủ ép một ngày, cũng do thiếu nguyên liệu.
Nhà máy đờng Lam Sơn công suất 1.500 tấn mía/ngày hàng năm yêu cầu từ
225.000 đến 250.000 tấn mía để sản xuất ra 22.500 đến 25.000 tấn đờng. Đợc Nhà
nớc đầu t xây dựng từ đầu năm 1980 đến cuối năm 1986 nhà máy căn bản hoàn
thành và đi vào hoạt động. Là nhà máy có quy mô hiện đại, thiết bị toàn bộ của
pháp, công nghệ sản xuất tiên tiến nhng trong giai đoạn đầu từ 1986 - 1990 khó
khăn nhất là thiếu nguyên liệu, liên tục trong suốt 4 năm liền nhà máy chỉ sử dụng
đợc 10% công suất thiết bị (vụ mía 1986 - 1987 thu mua và chế biến 9.600 tấn
mía, vụ bằng 4% công suất, vụ mía 1987 - 1988 thu mua đợc 24.000 tấn mía, vụ
mía 1988 - 1989 thu mua đợc 36.000 tấn mía bằng 12% công suất), nhà máy đứng
trớc nguy cơ phải đóng cửa, thậm chí có phơng án tháo dỡ nhà máy đa vào miền
Nam.
Từ những dẫn liệu trên đây chúng ta có thể khẳng định rằng xây dựng và
phát triển vùng nguyên liệu là vấn đề then chốt có tính chất quyết định đối với sự
tồn tại và phát triển của nhà máy nhất là trong giai đoạn đến năm 2000 Nhà nớc ta
đang có chủ trơng thực hiện chơng trình mía đờng trong cả nớc đạt 1 triệu tấn đ-
ờng và đang xúc tiến xây dựng một loạt nhà máy, do đó việc xây dựng và phát
triển vùng nguyên liệu là bài học cho tất cả các nhà máy đờng đã và sẽ xây dựng,

giá khái quát trên ta có thể xét vai trò của Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn đối
với quá trình phát triển nông thôn, nông nghiệp, nông dân trong vùng nh sau:
1. Giải quyết tốt mối quan hệ CN-NN-DV của vùng theo hớng Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Cơ sở công nghiệp chế biến ra đời từ một vùng nông nghiệp để tìm ra cơ chế,
hình thức kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa kinh tế Nhà nớc với kinh tế
hộ nông dân là một khâu đột phá là cuộc cách mạng sâu sắc trong kỹ thuật sản xuất,
đợc đặc trng bởi công nghiệp chuyển hoá từ thủ công là phổ biến sang kỹ thuật công
nghiệp trở thành một nhân tố chủ đạo chi phối quá trình sản xuất ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật công nghệ sản xuất mới tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng
suất lao động, sự thay đổi kỹ thuật dẫn đến những thay đổi trong phơng thức sản xuất
rõ nét nhất là quan hệ giữa con ngời với tự nhiên không còn là quan hệ trực tiếp mà
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
công nghiệp chế biến đã xuyên suốt mối quan hệ ấy, đa con ngời lên một trình độ
mới, đóng vai trò công nghiệp và kỹ thuật mới để tạo ra sản phẩm. Về phơng diện
quan hệ sản xuất công nghiệp chế biến bằng sự đầu t của Nhà nớc, kênh tín dụng th-
ơng mại, chuyển giao kỹ thuật đến hộ nông dân, hộ nông trờng viên do các doanh
nghiệp (doanh nghiệp chế biến tín dụng) đổi mới và tạo ra, đã đa các hộ sản xuất lên
trình độ mới và liên kết hợp tác lại trong nền kinh tế nhiều thành phần. Doanh nghiệp
Nhà nớc - hộ nông dân - tài chính tín dụng ngân hàng với công nghiệp tạo điều kiện
đa nông nghiệp lên sản xuất hàng hoá, hoạt động theo cơ chế thị trờng.
Về khía cạnh kinh tế - xã hội các thành phần kinh tế liên kết thành bộ máy
sản xuất đó là lực lợng kinh tế xã hội kết tinh ở trình độ phát triển. Công nghiệp
chế biến ra đời đã phá vỡ vòng tuần hoàn khép kín giữa con ngời với tự nhiên, đặt
giữa chúng là công nghiệp chế biến. Tuy là bớc khởi đầu, trớc mắt còn nhiều vấn
đề đặt ra, song với vai trò của công nghiệp trên vùng Lam Sơn, sức sản xuất của
từng hộ nông dân đã đợc giải phóng khỏi những giới hạn của tự nhiên mà với khả
năng của con ngời trong vòng luẩn quẩn lệ thuộc tự nhiên khó mà vợt qua đợc.
Nều sản xuất trên toàn vùng đã hình thành những yếu tố mới. Một cơ sở kỹ thuật
đã từng bớc nâng cao năng suất lao động, tất cả những nhân tố mới xuất hiện trên

rộng lớn.
3. Thay đổi t duy kinh tế của c dân trong vùng.
Công nghiệp chế biến đờng hình thành trên vùng Lam Sơn, không chỉ có ý
nghĩa là phát triển công nghiệp trong vùng nông thôn, tạo ra sự khác biệt về phơng
thức kinh doanh mới đó là sự thay đổi từ cách t duy tiểu nông sang t duy kinh tế
hàng hoá và thị trờng đó là kiểu kinh doanh theo đuổi mục tiêu gia tăng sản phẩm
xã hội, tăng thêm lợi nhuận, đồng thời cũng từng bớc giúp cho con ngời tiếp cận dần
với các quy luật của thị trờng, nh quy luật cạnh tranh, giá trị, lợi nhuận để trên cơ sở
đó hạch toán kinh tế theo kiểu phơng án tối u. Do đó khi công nghiệp đã gắn với
nông nghiệp thành một cơ cấu thì công nghiệp hay nông nghiệp đều là lĩnh vực đầu t
để đạt mục tiêu tăng thêm của cải vật chất.
Với ý nghĩa kinh doanh mía đờng một lĩnh vực đầu t nhằm tăng thêm thu
nhập cho con ngời thì công nghiệp cũng là một kiểu công nghiệp hoá. Nh vậy
quan điểm của Nghị quyết TW5 khóa VII nêu lên: "Đặt sự phát triển nông nghiệp
theo hớng sản xuất hàng hoá". Trong quá trình công nghiệp hoá thì kinh nghiệm
của Lam Sơn là sự kiểm nghiệm của thực tế, công nghiệp ở đây là một mô hình
kinh tế nói lên phơng thức kinh doanh, nhằm mục đích gia tăng của cải để thoả
mãn nhu cầu của con ngời.
4. Góp phần hình thành mô hình hợp tác mới trên địa bàn nông thôn nớc ta.
Với việc lựa chọn giải pháp đúng, tìm ra yếu tố then chốt để gắn công
nghiệp chế biến với nông nghiệp, dịch vụ, kinh tế Nhà nớc gắn với kinh tế hộ nông
dân. Công ty Cổ phần mía đờng Lam Sơn đã góp phần quan trọng tìm ra lời giải
đáp cho việc hình thành mô hình hợp tác kinh tế mới. Với những tiền đề hợp tác đ-
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
ợc hình thành dựa trên những yếu tố kinh tế mới đã chứng minh rằng khi công
nghiệp gắn với nông nghiệp - dịch vụ thành một cơ cấu hợp lý thì nền sản xuất xã
hội của vùng vận động theo quy luật vận động không ngừng. Qua mỗi thời kỳ lại
biến của cải vật chất thành một lực lợng sản xuất mới, dấu hiệu tăng đầu t cả công
nghiệp và nông nghiệp trên vùng Lam Sơn là dấu hiệu chuyển dần lên giai đoạn
phát triển, nếu tiếp tục tổng kết, tìm tòi hớng đổi mới thúc đẩy tăng trởng kinh tế

1990 . Trong đó, quốc doanh chiếm 2,3% giảm 1% về tỷ lệ cơ cấu so với năm
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
1990. Nh vậy công nghiệp quốc doanh có vai trò rất quan trọng đến sự phát triển
của vùng. Sản xuất của Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn liên tục tăng và có
hiệu quả. Tính theo giá cố định năm 1989 giá trị sản lợng năm 1995 đạt 40,3 tỷ
đồng chiếm 65,6% giá trị sản lợng công nghiệp quốc doanh toàn vùng và 52,5%
giá trị toàn vùng kể cả quốc doanh và ngoài quốc doanh. Giá trị sản lợng công
nghiệp năm 1995 tăng 7,3 lần so với năm 1990.
Chơng II
Sự hình thành và phát triển của công ty cổ
phần mía đờng lam sơn
i sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần mía
đờng lam sơn
1. Hoàn cảnh ra đời Công ty.
Đầu năm 1980, Nhà nớc đầu t xây dựng Nhà máy đờng Lam Sơn với công
suất 1.500 tấn mía cây/ngày, vốn thiết bị tơng đơng 15 triệu USD. Năm 1986, Nhà
máy đã căn bản hoàn thành việc xây dựng, bắt đầu đi vào hoạt động. Tổng kinh
phi xây dựng nhà máy bàn giao vào sản xuất là 107 tỷ đồng Việt Nam (giá năm
1986).
Nhà máy đợc xây dựng có công suất tơng đối lớn, công nghệ khá tiên tiến.
Cái khó của Nhà máy, một doanh nghiệp công nghiệp chế biến là nguồn nguyên
liệu từ sản xuất nông nghiệp. Vào thời điểm thập kỷ 80, trong cơ chế tập trung
quan liêu, bao cấp, tình trạng thiếu vốn đầu t, dịch vụ để tạo vùng sản xuất nguyên
liệu rất nặng nề. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp nhà nớc với ngời trồng mía bị
chia rời cắt khúc, quan hệ lợi ích giữa nhà máy và ngời trồng mía đều không đợc
quan tâm đầy đủ và rốt cuộc là Nhà máy thiếu nguyên liệu không phát huy đợc
công suất của một cơ sở công nghiệp chế biến vừa mới ra đời. Liên tục trong 4 vụ
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
liền, từ năm 1986 đến năm 1990, do thiếu nguyên liệu và chất lợng nguyên liệu
kém, Nhà máy mới chỉ sử dụng đợc xấp xỉ 10% công suất thiết kế (năm 1986 -

- Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
+ Công nghệ đờng mật bánh kẹo.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
+ Công nghệ nớc uống giải khát có cồn và không có cồn.
+ Chế biến các sản phẩm từ đờng và hoa quả.
Dịch vụ sản xuất đời sống.
Nhập khẩu vật t thiết bị phụ tùng cho Ngành sản xuất mía đờng.
Xuất khẩu vật t thiết bị phụ tùng cho ngành sản xuất mía đờng từ năm 1998
- 1999 luôn luôn hoàn thành vợt mức kế hoạch Nhà nớc, nộp ngân sách Nhà nớc
ngày một tăng, vốn đợc bảo toàn không ngừng qua các năm, đời sống CBCNV
không ngừng đợc cải thiện và nâng cao tạo ra bớc phát triển mới cả lợng và chất tự
khẳng định thế đứng ổn định và vững chắc của một doanh nghiệp quốc doanh
trong cơ chế thị trờng đã và đang phát huy vai trò trung tâm chủ đạo và là trung
tâm kinh tế văn hoá xã hội của vùng kinh tế mới Lam Sơn. Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp thành một vùng kinh tế hàng hoá lớn, từng bớc
nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho bà con trồng mía trong vùng. Bộ mặt
nông thôn 96 xã của 9 huyện và 4 nông trờng Quốc doanh phía Tây Nam Thanh
Hoá đợc đổi mới.
Trong những năm qua Công ty liên tục đợc nhà nớc khen thởng những phần
thởng cao quý của Đảng và Nhà nớc. sản phẩm của Công ty đờng Lam Sơn đợc
khách hàng đánh giá cao chất lợng cũng nh phơng thức bán hàng và uy tín của
Công ty đợc ngời tiêu dùng bầu chọn là hàng Việt Nam chất lợng cao bởi Công ty
có chính sách đảm bảo chất lợng theo hệ thống tiêu chuẩn ISO 9002 mang lại
niềm tin và luôn thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Chính vì vậy sản phẩm của
Công ty đã đợc tặng nhiều huy chơng vàng qua các lần hội chợ triển lãm quốc tế
hàng công nghiệp, Công ty đợc giải vàng chất lợng Việt Nam. Là doanh nghiệp
hàng đầu ở Việt Nam về chế biến công nghiệ thực phẩm đợc cấp chứng chỉ hệ
thống chất lợng đạt tiêu chuẩn ISO 9002.
Ngày 06 tháng 12 năm 1999 Thủ tớng Chính phủ ký quyết định số 1033-
QĐ/TTg về việc chuyển đổi Công ty đờng Lam Sơn thành Công ty cổ phần mía đ-

Chính phủ, Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn lựa chọn những khoản u đãi cao
nhất của 1 trong 2 Nghị định này và đăng ký với cơ quan thuế của địa phơng.
Ngày 18 tháng 12 năm 1999 Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn tổ chức
đại hội cổ đông thông qua kế hoạch bầu ra Hội đồng quản trị và thông qua kế
hoạch sản xuất kinh doanh năm 2000 của Công ty.
ii - thực trạng Công ty cổ phần mía đờng Lam Sơn
1. Thực trạng cơ cấu tổ chức, chất lợng lao động ở các đơn vị của Công ty cổ
phần mía đờng lam sơn hiện nay.
1.1. Sự cần thiết phải cải tiến tổ chức bộ máy và nhân sự.
- Tất cả các chiến lợc sản xuất kinh doanh của bất kỳ của một Công ty nào
đều phải đi từ chiến lợc quản lý và sử dụng nguồn nhân lực.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
- Việc tổ chức bộ máy điều hành nhân sự hợp lý và có hiệu quả cao là vấn
đề rất quan trọng trong việc sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
- Sau nhiều năm hoạt động theo mô hình doanh nghiệp Nhà nớc Công ty đ-
ờng Lam Sơn nói riêng và các doanh nghiệp Nhà nớc nói chung đều chịu sự tác
động của nhiều yếu tố chính trị xã hội... dẫn đến việc công tác tổ chức bộ máy
quản lý điều hành nhân sự cha hợp lý. Do đó cha khai thác hết hiệu quả nguồn
nhân lực trong doanh nghiệp.
1.2. Cơ cấu lao động và bộ máy quản lý.
a) Cơ cấu lao động:
Tổng số CBCNV của Công ty tính đến 30/12/2000 là: 1.665 ngời.
Trong đó: Nam : 1.083 ngời
Nữ : 582 ngời
Trình độ: - Trên Đại học: 7 ngời
-Đại học: 168 ngời
- Cao đẳng: 71 ngời
- Trung cấp: 192 ngời
- Thợ bậc cao: 137 ngời (bậc 5 trở lên)
- Ngoại ngữ: 37 ngời

ứng đợc yêu cầu của công việc thì chuyển nghề, cho đi đào tạo, chuyển công tác
hoặc chấm dứt hợp đồng (hiện tỷ lệ đại học là cao nhng số đáp ứng đợc công việc
cha nhiều).
2. Kế hoạch sản xuất và biện pháp thực hiện kế hoạch năm 2000.
2.1. Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2000.
Giá bán có thuế: Đờng RE : 4.600đ/kg
Đờng RS : 4.200đ/kg
Đờng vàng : 3.800đ/kg
Thị
tr-
ờng
Chỉ tiêu ĐVT Nghị quyết
ĐHCĐ
KH 2000 Ghi chú
1 Giá trị sản xuất theo giá CĐ
năm 1994
1000đ
637.260.800 642.320.800
2 Giá trị SL hàng hoá thực hiện
1000đ
518.002.600 539.982.511
3 SL sản phẩm sản xuất
- Đờng kết tinh tấn 105.000 105.000
+ Đờng tinh luyện tấn 35.000 35.000
+ Đờng kính trắng tấn 40.000 40.000
+ Đờng vàng tinh khiết tấn 30.000 30.000
- Cồn thực phẩm 1000l 1.800 1.800
- Kẹo các loại tấn 2.500 3.200
- Bánh các loại tấn 2.500 3.200
- Phân bón tổng hợp tấn 40.000 40.000


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status