Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế của đất nước, nước ta đã đạt được
những thành tựu thành quả to lớn: các ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao
như công nghệ thông tin, chế tạo máy; ngành nông nghiệp từng bước máy móc hoá đã
làm cho năng suất lao động cải thiện rõ rệt đưa nước ta xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế
giới, hàng hoá trên thị trường ngày càng phong phú và đa dạng, nhiều doanh nghiệp
mới thành lập và nhiều tập đoàn đầu tư lớn đã xuất hiện tại Việt Nam, đời sống dân ta
ngày càng nâng cao. Sự tăng trưởng kinh tế đòi hỏi ngày càng nhiều vốn đầu tư. Một
trong những kênh huy động vốn đầu tư thông dụng trên thế giới là thị trường chứng
khoán. Nhận thức được tầm quan trọng của thị trường chứng khoán, với nhiều nổ lực,
ngày 20/07/2000 thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời.
Từ ngày thành lập đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có 11 năm
hoạt động và phát triển. Tuy nhiên đó không phải là thời gian dài đủ để cho các yếu
tố thị trường và nhà đầu tư hoàn thiện. Xét riêng về nhà đầu tư cá nhân trên thị trường
chứng khoán Việt Nam còn nhiều vấn đề cần khắc phục để nâng cao năng lực đầu tư,
giảm thiểu rủi ro không đáng có trong quá trình đầu tư chứng khoán.
Vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên
thị trường chứng khoán Việt Nam”, đề tài này đặt ra 3 mục tiêu nghiên cứu:
Một, nghiên cứu một cách có hệ thống thị trường chứng khoán và nhà đầu tư
chứng khoán cá nhân tại Việt Nam,
Hai, đánh giá hiện trạng nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam và đối tượng trọng
điểm quan tâm là nhà đầu tư cá nhân,
Ba, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị
trường chứng khoán Việt Nam,
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng được nghiên cứu trong đề tài này là năng lực của nhà đầu tư cá nhân
trong phạm vi thị trường chứng khoán Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu: dùng phương pháp khảo sát, phương pháp hệ
ở đây thị trường phát triển rất nhanh. Vào giữa thế kỷ XVI, đại thần Anh quốc đã đến
quan sát và sau đó về thiết lập một thị trường mậu dịch tại London (nước Anh), sau
này được gọi là Sở giao dịch. Tại Pháp, Đức và các nước Bắc Âu, thị trường cũng
được thành lập tương tự.
Sự phát triển của thị trường ngày càng mạnh cả về lượng lẫn về chất, cùng với
số thành viên tham gia đông đảo, vì vậy theo tính chất tự nhiên nó lại được phân ra
nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao dịch hàng hoá, thị trường hối đoái,
thị trường chứng khoán…với đặc tính riêng của từng thị trường thuận lợi cho giao
dịch của người tham gia trong đó.
Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra và hình thành như vậy một cách tự
phát tương tự như ở Pháp, Hà Lan, các nước Bắc Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ. Các phương
thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay
và có thư ký nhận lệnh của khách hàng. Đến năm 1921, ở Mỹ, “thị trường” giao dịch
“ở trong nhà”, Sở Giao dịch Chứng khoán được chính thức thành lập.
Trang 3
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
Hiện nay trước xu thế kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO), của Liên minh Châu Âu, của các khối thị trường chung,
đòi hỏi các quốc gia thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao. Thực tế
phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai trò quan trọng của thị
trường chứng khoán trong phát triển kinh tế.
1.2 Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế
Thứ nhất, là nơi huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, dòng tiền nhàn rỗi của
các nhà đầu tư mua chứng khoán sẽ được đưa vào vào hoạt động sản xuất kinh doanh
và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thị trường chứng khoán đã có những
tác động quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân, và giúp chính phủ và
chính quyền địa phương huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu
tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
Thứ hai, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, đây là một môi trường
đến các nhà đầu tư không đầy đủ và không giống nhau, hiện tượng đầu cơ, hiện
tượng xung đột quyền lực làm thiệt hại cho các cổ đông thiểu số, việc mua bán nội
gián, thao túng thị trường làm nản lòng nhà đầu tư và như vậy giá chứng khoán không
phản ánh giá trị thực và sẽ làm méo mó định hướng phát triển của nền kinh tế. Như
vậy, nhiệm vụ của các nhà quản lý thị trường là giảm thiểu các tiêu cực nhằm bảo vệ
quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo tính hiệu quả của thị trường.
Như vậy, vai trò của thị trường chứng khoán được thể hiện trên nhiều khía cạnh
khác nhau. Song sự tích cực hay tiêu cực của thị trường chứng khoán có thực sự được
phát huy hay hạn chế sẽ phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia vào thị trường
và sự quản lý của Nhà nước.
1.3. Sơ lược về Thị trường chứng khoán Việt Nam
1.3.1. Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước Việt Nam, được thành lập theo Nghị định
75/1996/NĐ-CP, là cơ quan thuộc chính phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý
Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán, thông qua các nhiệm vụ và
quyền hạn sau:
- Soạn thảo văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán để
trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định và tổ chức hướng dẫn thực hiện các văn
bản đó.
- Chủ trì và phối hợp các Bộ, ngành có liên quan tổ chức xây dựng và phát triển
thị trường chứng khoán ở Việt Nam.
Trang 5
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
- Cấp, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép hoạt động đối với công ty kinh doanh
chứng khoán và các đối tượng khác trên thị trường chứng khoán.
- Trình Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập, đình chỉ hoạt động hoặc giải
thể Sở giao dịch chứng khoán.
- Kiểm tra, giám sát hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán và các tổ chức có
liên quan đến việc phát hành, kinh doanh dịch vụ chứng khoán.
thống nhất...., đội ngũ cán bộ quản lý điều hành chưa có kinh nghiệm thực tiễn, sự
hiểu biết của công chúng về đầu tư chứng khoán và TTCK còn nhiều hạn chế. Thêm
vào đó, TTGDCK khai trương và chính thức đi vào hoạt động trong bối cảnh đất
nước chưa thoát khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực, mức đầu
tư cho nền kinh tế giảm sút, nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp chưa cao,
thu nhập bình quân đầu người còn quá thấp...Tuy vậy, sự quan tâm rất lớn của Chính
phủ, các Bộ ngành, đặc biệt là sự chỉ đạo kịp thời, hiệu quả của Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước (UBCKNN), qua hơn 4 năm hoạt động TTGDCK TP.Hồ Chí Minh đã phát
triển thành Sở giao dịch chứng khoán TP HCM (SGDCK TP HCM), về nhiều mặt,
thực hiện tốt vai trò tổ chức và vận hành các hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị
trường tập trung thông suốt, an toàn và hiệu quả.
Địa chỉ website của SGDCK Tp.HCM: Http://www.vse.org.vn
1.3.2.2. Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (Hnx)
Ngày 11 tháng 07 năm 1998, Chính phủ ra Quyết định số 127/1998/QÐ-TTg
thành lập hai Trung tâm giao dịch chứng khoán trực thuộc Uỷ ban chứng khoán Nhà
nước. Theo đó, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, là đơn vị sự nghiệp có thu,
có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do
ngân sách Nhà nước cấp. Biên chế của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
thuộc biên chế của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
TTGDCK Hà Nội có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổ chức, quản lý, điều hành việc mua bán chứng khoán;
- Quản lý, điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán;
- Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc mua bán chứng khoán, dịch vụ lưu ký
chứng khoán;
- Thực hiện đăng ký chứng khoán.
Ngày 8.3.2005 TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động, đánh dấu
một bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam, hiện nay đã trở thành
Sở Giao Dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCK Hà Nội)
Trang 7
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
hành chứng khoán, tư vấn đầu tư, quản lý quỹ, giao dịch mua bán chịu chứng
Trang 8
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
khoán…Các trung gian này có thể hoạt động với tư cách thể nhân hoặc một pháp
nhân.
Người quản lý, giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán là Ủy Ban
chứng khoán, thường được tổ chức theo hình thức là một cơ quan chuyên trách, có vị
trí pháp lý độc lập, thành viên là những quan chức của Bộ Tài chính, Ngân hàng
trung ương, Bộ thương mại, Bộ Tư pháp, đại diện Sở giao dịch chứng khoán…
1.4 Nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chủ thể đầu tư bao gồm có nhà đầu tư (cá nhân và hộ gia đình) và các tổ chức
đầu tư.
Các nhà đầu tư cá nhân được định nghĩa là những người có dòng tiền nhàn rỗi
mà không được sử dụng mang lại hiệu quả như mong muốn, họ luôn tìm kiếm những
kênh đầu tư mang lại lợi nhuận cao nhất. Họ có thể là nhân viên, nội trợ, doanh nhân,
nông dân, mà cũng có thể là sinh viên,… Điều quan trọng là họ quan tâm và muốn
đầu tư vào thị trường chứng khoán.
Các tổ chức đầu tư chính là tổ chức tài chính phi ngân hàng nhận tiền từ một
lượng lớn nhà đầu tư cá nhân để tiến hành đầu tư vào các tài sản tài chính.
Tuy nhiên, xét khía cạnh nhà đầu tư cá nhân, muốn đầu tư vào thị trường chứng
khoán thì cần phải thỏa mãn được các yêu cầu tối thiểu như sau:
1.4.1 Kiến thức thị trường chứng khoán
Đó là kiến thức về Chỉ số VN – index, cách thức giao dịch, mô hình hoạt động,
đăng ký, lưu ký, các bản cáo bạch, báo cáo tài chính, chỉ số đánh giá….. của thị
trường chứng khoán
1.4.1.1 Chỉ số chứng khoán Việt Nam VN – index:
Chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam là chỉ số phản ánh mức giá trên thị
trường trong một ngày cụ thể so với mức giá tại thời điểm gốc. Chỉ số được cấu thành
bởi hai yếu tố là loại chứng khoán trọng số và giá của từng chứng khoán cấu thành.
lệnh đặt trước đó. Lệnh huỷ bỏ chỉ được chấp nhận khi lệnh gốc chưa được thực hiện
1.4.1.2.2 Đơn vị giao dịch:
Các sở giao dịch thường có quy định về khối lượng giao dịch tối thiểu của một
lệnh giao dịch gọi là lô (lot) chứng khoán. Đơn vị giao dịch là một trong những yếu
tố có thể tác động đến cung - cầu trong giao dịch chứng khoán. Tại sàn Hose, đơn vị
giao dịch thấp nhất là 1 lot = 10 Cp, Hnx 1 lot đơn vị là 100 Cp. Ngoài ra còn có giao
dịch thỏa thuận với mỗi giao dịch thấp nhất là 20.000 Cp
1.4.1.2.3 Đơn vị yết giá:
Trang 10
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
Đơn vị yết giá (quotation unit) là bước giá tối thiểu (tick side) trong giao dịch
chứng khoán. Đơn vị yết giá là yếu tố có tác đông đến tính thanh khoản của chứng
khoán cũng như hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư.
1.4.1.2.4 Biên độ giao dịch:
Hầu hết các sở giao dịch trên thế giới đều có những công cụ nhằm ngăn chặn
những biến động bất thường của giá chứng khoán trong ngày giao dịch. Theo đó,
lệnh giao dịch của nhà đầu tư khi đặt phải nằm trong khoảng biên độ cho phép: giới
hạn trên (giá trần – ceiling) và giới hạn dưới (giá sàn – floor). Nó có thể đảm bảo tính
ổn định của thị trường, góp phần củng cố lòng tin của công chứng đầu tư vào thị
trường chứng khoán. Hose là 5%, Hnx là 7%
1.4.1.3 Hệ thống hoạt động công bố thông tin thị trường:
Hoạt động công bố thông tin thị trưòng chiếm vị trí khá quan trọng trong việc
xây dựng một thị trường chứng khoán hoạt động công khai, minh bạch nhằm tạo ra
một môi trường đầu tư công bằng, cung cấp kịp thời các thông tin, dữ liệu cần thiết
cho các nhà đầu tư. Thông qua mạng Internet gửi đến các địa chỉ E-mail đăng ký, Fax
và các ấn phẩm thường niên của Sở. Những thông tin cần thiết phải quan tâm như
Báo cáo tài chính, Bản cáo bạch niêm yết, tin nội bộ doanh nghiệp như các giao dịch,
làm ăn của công ty niêm yết với đối tác, chia cổ tức cổ phiếu, mua lại cổ phiếu
quỹ….; các chỉ số cơ bản như P/E, EPS….Toàn bộ hệ thống thông tin rất quan trọng
- Các đối tác liên quan tới đợt phát hành;
- Các nhân tố rủi ro;
Báo cáo tài chính là tài liệu cung cấp những khoản chi tiêu vào sản xuất kinh
doanh, doanh thu, khoản lợi nhuận trước thuế - sau thuế… theo khoảng thời gian định
kỳ như theo tháng – quý – năm, cùng với đó là so sánh xem có đạt kế hoạch đã đặt ra
ở kỳ trước hay ko?
Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm:
• ROA- tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản
ROA = (Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản); ROA > 20% được coi là tốt
• ROE - tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
ROE = (Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sỡ hữu); ROE > 20% là tốt
• P/E – (Hệ số giá trên thu nhập)
P/E = (Thị giá mỗi cổ phiếu Price / EPS)
• EPS - Tỷ suất lợi nhuận trên cổ phiếu (Earning per Share)
EPS = Tổng lợi nhuận sau thuế / Tổng số cổ phiếu phát hành
Trang 12
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
Các báo cáo tài chính, bản cáo bạch và các chỉ số đánh giá là một phần không
thể thiếu của các nhà đầu tư khi tham gia thị trường chứng khoán, vì thế các tài liệu
đó cần phải được nghiên cứu tỉ mĩ, chi tiết nhằm có những quyết định đầu tư sáng
suốt.
1.4.1.6. Chính sách thuế đối với nhà đầu tư:
Các loại hình đầu tư tổ chức trên thị trường chứng khoán như ngân hàng, bảo
hiểm vẫn phải thực hiện theo các quy định của Luật Thuế doanh nghiệp, tức là chưa
được hưởng một chế độ ưu đãi nào. Đơn cử như:
Theo Thông tư 84/2009/TT-BTC, trong mọi trường hợp chuyển nhượng chứng
khoán, không phân biệt nộp thuế theo thuế suất ấn định 0,1% hay biểu thuế toàn phần
với thuế suất 20%, công ty chứng khoán hoặc đơn vị phát hành chứng khoán đều phải
khấu trừ thuế ấn định trước khi thanh toán cho người chuyển nhượng. Có nghĩa là, cá
- Rủi ro lạm phát là khả năng kiếm lời không đuổi theo kịp sự mất giá, trượt giá
của đồng tiền.
- Rủi ro bị cụt vốn là có thể bị mất một phần hay toàn bộ vốn đã bỏ vào đầu tư
chứng khoán do tiên đoán sai hoặc bị hoàn cảnh bất lợi từ thị trường.
- Rủi ro do chọn nhầm đối tượng là mua cổ phiếu không sinh lời hoặc bị lỗ.
- Rủi ro do không gặp thời hoặc chậm trễ.
- Rủi ro về lãi suất là khi lãi suất tăng thì giá cổ phiếu giảm.
- Rủi ro do biến động thị trường là do áp lực tâm lý thị trường.
- Rủi ro về tài chính, khả năng thanh khoản….
1.4.2. Kỹ năng quản lý cảm xúc, hay còn gọi là EQ
Đây là tiêu chuẩn mà bản thân tự rèn luyện mà có, “Lòng tham và nỗi sợ hãi”.
Lòng tham ở đây được nhắc đến khi nhà đầu tư bỏ qua các quy tắc để mong chờ giá
lên đến đỉnh rồi mới bán ra nhưng lại rơi vào tình trạng chỉ bán được sau khi giá đã
giảm một số phiên và mức lãi vơi đi ít nhiều, thậm chí là thua lỗ. Còn nỗi sợ hãi xuất
hiện khi giá giảm và nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu một cách ồ ạt khiến giá giảm quá
mức cần thiết. Tâm lý này đặc biệt được thể hiện rõ nét khi cổ phiếu hay thị trường
có xu hướng tăng, nhà đầu tư lao vào thị trường và giành nhau mua; còn khi cổ phiếu
hay thị trường có xu hướng giảm thì lại cố hết sức để bán ra.
Lòng tham và nỗi sợ hãi luôn hiện hữu trong mỗi nhà đầu tư và là hiện tượng
tâm lý bình thường, phổ biến của con người. Nó không đáng bị chê trách trừ khi nó
thúc đẩy nhà đầu tư có những hành động vượt quá mức bình thường, thậm chí là phi
Trang 14
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
lý, cho nên nhà đầu tư nên cần phải có kỹ năng quản lý cảm xúc để đưa ra những
quyết định thận trọng, hợp lý nhất.
1.4.3 Tâm lý nhà đầu tư (tâm lý thị trường)
Theo thuyết lòng tin về giá cổ phiếu, yếu tố căn bản trong biến động của giá cổ
phiếu là sự tăng hay giảm lòng tin của nhà đầu tư đối với tương lai của giá cổ phiếu,
của lợi nhuận Doanh nghiệp và của lợi tức cổ phần. Vào bất cứ thời điểm nào, trên
phiếu cũng như của cả công ty. Sau đó, bằng cách so sánh thị giá cổ phiếu với giá trị
thực tế, ta quyết định có nên mua công ty hay không? …
CHƯƠNG 2 NHỮNG THĂNG TRẦM CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG
KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Trang 16
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
2.1. Toàn cảnh về thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1. Những thành tựu TTCK đã đạt được trong thời gian qua
Ngày 11 - 07 – 2000, Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt
động, tại Sở giao dịch TP Hồ CHí Minh chỉ có 2 cổ phiếu được niêm yết giao dịch là
REE và SAM với tổng giá trị 270 tỷ đồng, một tuần có 3 ngày giao dịch, mỗi ngày
giao dịch theo hình thức khớp lệnh định kỳ, số nhà đầu tư tham gia giao dịch ít. Kể từ
khi cổ phần hóa các doanh nghiệp, giao dịch cổ phiếu ngày càng diễn ra sôi động trên
số lượng công ty chứng khoán bắt đầu là 6 thành viên.
Trong giai đoạn 2000-2002, trái phiếu chính phủ (TPCP) là hàng hóa niêm yết
chủ đạo trên SGDCK Tp.HCM. Tuy nhiên, số lượng không nhiều (40 mã). Trong giai
đoạn này, CPTP tương đối kém thanh khoản, giá trị giao dịch bình quân cũng rất
thấp, với khoảng 2% giá trị CPTP niêm yết.
Giai đoạn 2004 – 2007, giá trị trái phiếu niêm yết so với GDP tăng đáng kể, lên
tới 11,3% GDP, đồng thời, nhiều quy định mới được áp dụng nhằm thúc đẩy giao
dịch trái phiếu như: không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu của các tổ chức,
cá nhân nước ngoài; bỏ biên độ dao động giá; cơ chế giao dịch thỏa thuận; rút ngắn
thời gian thanh toán T+1. Vì vậy, tính thanh khoản của thị trường cũng tăng dần.
Đến năm 2005, thị trường chứng khoán có nhiều khởi sắc, quy mô thị trường
mở rộng, tăng khoảng 55% giá trị niêm yết, số lượng nhà đầu tư đã tăng 35%, bình
quân có 667.600 cổ phiếu được giao dịch một phiên. Lòng tin của nhà đầu tư đối với
thị trường được nâng lên, do tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
niêm yết có sự tăng trưởng cao cả về vốn, doanh thu, lợi nhuận, tính công khai và
quản trị công ty theo điều lệ mẫu được tăng cường. Bên cạnh đó, năm 2005 cũng xuất
“khủng”, lượng tiền đổ vào thị trường chứng khoán như nước, đạt 40% GDP, con số
giao dịch bình quân trong phiên tiếp tục tăng lên 9,79 triệu CP, số lượng nhà đầu tư
và tài khoản tăng vù vù theo từng ngày (khoảng 307 nghìn tài khoản), trên cả hai sàn
hiện có 249 công ty niêm yết và chứng chỉ quỹ (sàn TP.HCM 138, sàn Hà Nội 111).
Mặc dù tăng khá so với thời điểm khi mới hoạt động cũng như một số thời điểm
trước đây (cuối năm 2006 có 193, cuối năm 2005 có 41), nhưng nếu so với số lượng
công ty cổ phần hiện hữu ở Việt Nam thì chiếm chưa được 2%, có 75 công ty chứng
khoán, 24 công ty quản lý quỹ, …
Các "đại gia" đã niêm yết có giá trị vốn hóa thị trường đạt trên 1.000 tỉ đồng
(tức đạt trên 62,5 triệu USD) ở cả hai sàn mới đạt 70 (sàn TP.HCM 53, sàn Hà Nội
17), trong đó số đạt từ 10 nghìn tỉ đồng trở lên (tức trên 625 triệu USD) mới có 12
(sàn TP.HCM có 9, đứng đầu là VNM trên 29,4 nghìn tỉ đồng; tiếp đến là STB gần
Trang 18
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
28,7 nghìn tỉ đồng; DPM trên 27,5 nghìn tỉ; FPT trên 20,4 nghìn tỉ; SSI trên 19,8
nghìn tỉ; PPC trên 19 nghìn tỉ; PVD 16,3 nghìn tỉ; HPG trên 12,4 nghìn tỉ; VIC 12,4
nghìn tỉ; sàn Hà Nội có 3, đứng đầu - đồng thời cũng đứng đầu cả nước - là ACB gần
42,6 nghìn tỉ; tiếp đến là KBC 17,8 nghìn tỉ; PVS trên 11,9 nghìn tỉ)
Năm 2008, Theo nguồn của Sở Giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh, 18,07
triệu CP là con số bình quân giao dịch trong phiên, khối lượng cổ phiếu niêm yết lúc
này là 5,6 tỷ cổ phiếu toàn thị trường có giá trị 70.000 tỷ đồng, trong đó có 5,2 tỳ cổ
phiếu niêm yết trên thị trường có giá trị 52.000 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 92,8%, chứng
chỉ chiếm tỷ trọng 4,49% có giá trị 2.520 tỷ đồng, còn lại có 152 triệu trái phiếu
chiếm 2,7% có giá trị 15.300 tỷ đồng. Nguồn cung cổ phiếu trên thị trường ngày càng
nhiều. Trong năm 2008, lại có thêm các đại gia tham gia IPO “khủng” như
Vietcombank, Incombank, mobifone… Quy mô của thị trường còn tiếp tục được mở
rộng do các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá đã niêm yết vào năm 2007 –
2008 trong đó có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt
Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
(89,6%). Tính đến cuối năm 2009, đã có 541 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả
hai SGDCK và 4 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết, đạt 38%GDP => Thị trường
chứng khoán đã có tính thanh khoản, quy mô tăng trường vượt bậc về giá trị lẫn về
Trang 20
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
khối lượng so với các năm trước. Năm 2009 có lúc giao dịch trong phiên đạt 38 triệu
đơn vị.
Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tục tăng từ 0.43 lần (năm
2006) lên 0.64 lần (năm 2007), 0.68 lần (năm 2008) và đạt 1.13 lần (năm 2009).
Năm 2010, theo nguồn của Hose ta có quy mô TTCK qua các số liệu
Toàn thị trường Cổ phiếu Chứng chỉ Trái phiếu Khác
Số CK niêm
yết (1 CK)
337,00 284,00 5,00 48,00 0,00
Tỉ trọng(%) 100,00 84,27 1,48 14,24 0,00
KL niêm yết
(ngàn CK)
13.127.382,58 12.758.232,20 276.099,29 93.051,09 0,00
Tỉ trọng(%) 100,00 97,19 2,1 0,71 0,00
GT niêm yết
(triệu đồng)
140.521.423,94 127.582.322,04 2.760.992,90 10.178.109,0 0,00
Tỉ trọng (%) 100,0 90,79 1,96 7,24 0,00
Hình 2.3: Quy mô niêm yết chứng khoán năm 2010
Hình 2.4: Biểu đồ tỷ trọng cổ phiếu năm 2010
Tính đến tháng 9/2010 thì đã có hơn 611 mã cổ phiếu (kể cả những cổ phiếu
sắp lên sàn niêm yết) có 13,1 tỷ CP với tổng giá trị vốn hóa là hơn 540.320 tỷ đồng
bao gồm các loại cổ phiếu vốn hóa lớn như Vietcombank VCB có 48.650 tỷ đồng,
Hoàng Anh Gia Lai HAG 22.653 tỷ đồng, Sacombank STB 15.340 tỷ đồng…Quy mô
vài tháng giảm sút, VN-Index đang dao động xung quanh ngưỡng 1.000 điểm (đến
giữa tháng 5-2007 đã lên 1.060 điểm), tăng hơn 10 lần so với năm 2000. Rồi thị
trường lại suy giảm đến tháng 06 – 2008 do những chính sách thắt chặt tiền tệ của
Ngân hàng nhà nước nhằm giảm đà tăng của lạm phát của năm 2007 đã khiến cho chỉ
số VN – index chỉ còn hơn 400 điểm, đến tháng 09 – 2008, lúc này nguồn cung tiền
được mở ra cho thị trường, chỉ số VN – index lại tăng lên 600 điểm. Tuy nhiên lúc
này toàn bộ nền kinh tế thế giới rung chuyển bởi “bong bóng Bất động sản của Mỹ”
khủng hoảng tiền tệ đến cao trào như đại suy thoái thế giới của năm 1929, TTCK
Việt Nam giảm tệ hại đến tháng 2 - 2009, chỉ còn 235 điểm, do các nghi ngại ảnh
hưởng kinh tế toàn cầu, chính sách nới lỏng tiền tệ được áp dụng để hỗ trợ sản xuất
kinh doanh, VN - index trong năm 2009 tăng lên hơn 600 điểm, bình quân có 77 triệu
cổ phiếu được giao dịch mỗi phiên, với giá trị đạt 2.270,57 tỷ đồng, đến nay năm
2010 thị trường “đi ngang giảm” còn 440 điểm. Lý giải cho hiện tượng đi ngang này,
nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng nguyên nhân chỉ có thể là các chính sách vĩ mô
Trang 23
Các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GVHD: TS. Trương Quang Dũng SVTH: Nguyễn Hoàng Bình
nước ta không nhất quán, thay đổi liên tục làm cho các nghi ngại dấy lên trong môi
trường đầu tư.
2.1.3 Nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường chứng khoán
Số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK ngày càng đông đảo. Từ khoảng gần
3000 tài khoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trường vào năm 2000, đến
nay đã có trên 160.000 tài khoản giao dịch, trong đó số nhà đầu tư tổ chức trong nước
là 5000, số nhà đầu tư cá nhân trong nước là khoảng 130.000, số nhà đầu tư nước
ngoài là hơn 25.000 nhà đầu tư. Như vậy, nhà đầu tư cá nhân trong nước đã tăng hơn
43 lần so với số tài khoản giao dịch lúc ban đầu.
Giai đoạn năm 2000 – 2006, chỉ có số ít khoảng 14.000 nhà đầu tư giao dịch
trên sàn, trong khi đó công chúng còn xa lạ với kênh đầu tư này, nên có khi hỏi Thị
trường chứng khoán là gì, có người còn không biết, vì thế ít người quan tâm đến
chứng khoán => Trong giai đoạn này, thị trường không có những biến động đáng kể.
đất cò con mà hết chờ rồi tìm không có ai mua, vốn đọng hết còn gì lời lãi”, chị nói.
“Hơn nữa, mua bán nhà đất thì mất vài tuần đến mấy tháng mới bán được nhà, lấy
được tiền. Còn chứng khoán khi cần là có ngay tiền mặt”, chị Thọ nói. Chỉ có vỏn
vẹn vài chục triệu đồng, nhưng với kinh nghiệm mua bán bất động sản của mình, chị
Thọ áp dụng khá nhuần nhuyễn vào thị trường chứng khoán. Những ngày đầu, chị
mua liều vài cổ phiếu có tiếng, cổ phiếu lên giá cao chị bán ngay, cổ phiếu xuống giá
chị không ngần ngại mua vào. “Cổ phiếu cũng như đất, không có đất nào là rẻ và bỏ
hoang cả. Cứ nắm trong tay, ở mức nào cũng kiếm lời được”, chị nói. Chị thường
vừa lau nhà vừa nghe tin tức chứng khoán qua tivi, đài, và giao dịch bằng điện thoại.
Kế đến là việc nhân viên công sở trốn việc ra sàn chơi chứng khoán, dù công
việc bận rộn đến mấy tuần nào cũng tranh thủ ra sàn giao dịch chứng khoán ít nhất 2
lần. Một anh nhân viên tiết lộ rằng chỉ cần một sáng đẩy cổ phiếu thắng lợi là ăn đứt
mấy tháng "cày sâu cuốc bẫm" nơi công sở. "Mỗi buổi chỉ khoảng vài chục phút
nhưng nhìn thấy được không khí hừng hực ở sàn "thú" lắm", anh nói. Ngồi ở văn
phòng đặt lệnh không thể theo dõi được diễn biến của những lệnh chỉ xuất hiện trong
vòng vài phút. Đó là những lúc nhà đầu tư muốn làm giá, đưa ra lệnh bán hoặc mua
nhiều khiến giá cổ phiếu trên thị trường xoay chuyển. "Nếu khi ấy không có mặt trực
tiếp, thì "toi" như chơi", anh khẳng định. Nhờ nhiều phen trực chiến tại sàn mà anh
đã tự cứu mình nhiều bàn thua trông thấy => Đầu tư thắng lợi, thời kỳ huy hoàng của
chứng khoán Việt Nam, chứng khoán nổi trội hơn tất cả các kênh đầu tư khác, thu
nhập hàng tháng “rủng rẻng” trong túi, đến nỗi nghề môi giới chứng khoán cũng
Trang 25