CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: TS. TRẦN ĐỨC LỘC
MỤC LỤC i
i
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 5
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN
PHẨM 5
SV: Phạm Đình Cường Lớp QTDN CQ47/31.01
i
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn, tôi luôn
nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của Th&y giáo hướng dẫn TS. Tr&n
Đức Lộc cùng với rất nhiều sự giúp đỡ của toàn thể các cô chú, anh chị trong
phòng kế hoạch kinh doanh công ty TNHH chè Tam Đường tỉnh Lai Châu.
Đến nay em đã hoàn thành bài luận văn này.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được bảy tỏ lòng cảm ơn
chân thành nhất tới quý Th&y, Cô trong khoa Quản Trị Kinh Doanh, Trường
Học Viện Tài chính đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập.
Em xin chân thành cảm ơn Th&y giáo Tr&n Đức Lộc trong thời gian qua
đã tận tình giúp đỡ em. Cảm ơn Ban giám đốc Công ty TNHH chè Tam
Đường tỉnh Lai Châu đã tạo điều kiện thuận lợi để em được thực tập tại Công
ty và hoàn thành công trình nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, em xin kính chúc quý Th&y, Cô dồi dào sức khỏe và thành
công trong sự nghiệp cao quý của mình. Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh,
Chị trong Công ty TNHH chè Tam Đường tỉnh Lai Châu, đặc biệt là Phòng
Kế hoạch kinh doanh, luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt
đẹp trong công việc.
Em xin chân thành cảm ơn !
th&y Tr&n Đức Lộc cùng với sự giúp đỡ của nhân viên tại Công ty TNHH chè Tam
Đường, em đã chọn đề tài :,-#- . /0#12'3 4 -#5%2$6
27#8/%'( 9 cho chuyên đề thực tập của mình.
Với chuyên đề này em mong rằng sẽ tìm ra được những nguyên nhân tác
động đến chất lượng sản phẩm của công ty trong thời gian qua, từ đó có những đánh
giá và đưa ra được những giải pháp đảm bảo và cải tiến công nghệ của công ty
thông qua đó quá trình thực tập nghiên cứu và thực hiện chuyên đề tại công ty giúp
em tích lũy được nhiều hơn những kinh nghiệm thực tế trong hoạt động sản xuất,
tích lũy đươc những kiến thức áp dụng vào công tác sau này.
Kết cấu chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I : Lý luận chung về CLSP và nâng cao CLSP
Chương II: Thực trạng CLSP và công tác nâng cao CLSP tại công ty Chè
Tam Đường
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao CLSP tại công ty
Vì còn nhiều hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm, bài viết của em
còn nhiều thiếu sót. Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của th&y giáo để bài
chuyên đề của em hoàn thiện hơn và tính thực tế thuyết phục cao hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
:
;+<+=>?@AB
>?@
:C:#D !1 EFGH !F
Chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với vấn đề tài chính
của công ty, vì nếu như sản phẩm của công ty không đảm bảo chất lượng hoặc chất
lượng không đồng đều sẽ dẫn tới tình trạng sản phẩm của công ty không được thị
trường chấp nhận, điều này làm cho các đối tác kinh doanh sẽ cắt giảm hợp đồng
kinh doanh với công ty, từ đó làm giảm doanh thu, lợi nhuận và hiệu quả sử dụng
vốn, làm mất đi uy tín của công ty đối với các đối tác, các nguồn huy động vốn.
Ngược lại nếu sản phẩm của công ty có chất lượng đồng đều, được đảm bảo và
ngày càng phát triển theo hướng tích cực sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
lượng tách biệt khỏi thực thể. Thực thể được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là sản
phẩm mà còn bao hàm cả các hoạt động, quá trình, doanh nghiệp hay con người.
-Chất lượng được đo bằng sự thoả mãn nhu c&u. Nhu c&u bao gồm cả những
nhu c&u đã nêu ra và những nhu c&u tiềm ẩn được phát hiện trong quá trình sử dụng.
Trong những năm trước đây, quan điểm của các quốc gia thuộc hệ thống
XNCN cho rằng, chất lượng sản phẩm đồng nhất với giá trị sử dụng của sản phẩm.
Họ nhận định "Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các đặc tính kỹ thuật, kinh tế của
sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó". Quan điểm này
xem xét dưới góc độ của nhà sản xuất. Theo đó, chất lượng sản phẩm được nghiên
cứu biệt lập, tách rời với nhu c&u, sự biến động của thị trường, hiệu quả kinh tế và
các điều kiện của một doanh nghiệp. Tuy nhiên, nó lại phù hợp với hoàn cảnh lúc
bấy giờ. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mọi vấn đề đều được thực hiện
theo chỉ tiêu kế hoạch, sản phẩm sản xuất ra không đủ đáp ứng nhu c&u thị trường.
Đồng thời, các doanh nghiệp cũng ít chú ý tới vấn đề chất lượng sản phẩm. Mà nếu
có cũng chỉ trên giấy tờ, khẩu hiệu mà thôi.
Nhưng năm g&n đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các
doanh nghiệp phải tự hạch toán kinh doanh. Cũng như chịu mọi trách nhiệm về sự
phát triển của công ty mình. Cùng tồn tại trong một môi trường, điều kiện, các
doanh nghiệp vừa bình đẳng vừa cạnh tranh với nhau để vươn lên tồn tại, phát triển.
Suy cho cùng, vấn đề tiêu thụ sản phẩm là yếu tố quyết định nhất đến sự tồn tại của
doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Chính vì vậy, đã nảy sinh nhiều quan điểm
khác nhau về chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm theo hướng công nghệ là tập hợp các đặc tính kỹ thuật,
công nghệ và vận hành sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh được, nó phản ánh
giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đáp ứng nhu c&u của người tiêu dùng khi
sử dụng sản phẩm. Trong những điều kiện xác định về kinh tế- xã hội, quan điểm
này đã phản ánh đúng bản chất của sản phẩm về mặt kỹ thuật. Nhưng ở đây, nó chỉ
là 1 chỉ tiêu kỹ thuật, không gắn liền với những biến đổi của nhu c&u thị trường,
cũng như điều kiện sản xuất và hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, mỗi
nước mỗi khu vực cụ thể. Do vậy, điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ chất lượng sản phẩm
sánh được phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật hiện tại, thoả
mãn nhu c&u nhất định của xã hội. Gắn liền với quan niệm này là khái niệm chất
lượng tối ưu và chất lượng toàn diện. Điều này có nghĩa là lợi ích thu được từ chất
lượng sản phẩm nằm trong mối tương quan chặt chẽ với những chi phí lao động xã
hội c&n thiết.
Ngày nay, chất lượng sản phẩm còn gắn liền với các yếu tố giá cả và dịch vụ
sau khi bán hàng. Vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn, thanh toán thuận tiện
ngày càng trở nên quan trọng hơn. Và khi các phương pháp sản xuất mới ngày càng
phát triển đến một hình thái mới là chất lượng tổng hợp phản ánh một cách trung
thực trình độ quản lý của mỗi doanh nghiệp thông qua 4 yếu tố chính được thể hiện
ở mô hình sau.
Sơ đồ 1.1: các yếu tố phản ánh chất lượng sản phẩm
Từ các phân tích trên có thể rút ra một số đặc điểm sau đây của chất lượng:
- Chất lượng được đo bởi thoả mãn nhu c&u. Nếu một sản phẩm vì lý do
nào đó mà không được thị trường chấp nhận thì coi là sản phẩm chất
lượng kém, cho dù trình độ công nghệ chế tạo sản phẩm đó có thể rất
hiện đại. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà sản xuất
định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình.
- Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xem xét và chỉ nghiên
cứu mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thoả mãn những nhu
c&u cụ thể.
- Nhu c&u có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn
nhưng cũng có những nhu c&u không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng
có thể chấp nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá
trình sử dụng.
Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá như ta vẫn
hiểu hàng ngày. Chất lượng còn áp dụng cho mọi thực thể, đó có thể là sản phẩm,
hay một hoạt động, một quá trình, một doanh nghiệp hoặc một con người.
Mặt khác, khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả
-Chất lượng thực tế
Là mức chất lượng sản phẩm thực tế đạt được do các yếu tố nguyên vật liệu,
máy móc thiết bị, phương pháp quản lý chi phối.
-Chất lượng cho phép
Là mức chất lượng có thể chấp nhận được giữa chất lượng thực tế và chất
lượng tiêu chuẩn, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế- kỹ thuật, trình độ lành nghề của
công nhân, phương pháp quản lý của doanh nghiệp
-Chất lượng tối ưu:
Là mức chất lượng mà tại đó lợi nhuận đạt được do nâng cao chất lượng lớn
hơn chi phí đạt mức chất lượng đó.
Ngày nay, các doanh nghiệp phấn đ&u đưa chất lượng của sản phẩm hàng
hoá đạt mức chất lượng tối ưu là một trong những mục đích quan trọng của quản trị
doanh nghiệp nói riêng và quản lý kinh tế nói chung. Tuy nhiên, mức chất lượng tối
ưu tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng cụ thể của từng nước, từng vùng trong những
thời điểm khác nhau. Nâng cao chất lượng sản phẩm trên cơ sở giảm tỷ suất lợi
nhuận trên từng đơn vị sản phẩm với mức chi phí hợp lý, tạo điều kiện nâng cao khả
năng cạnh tranh của sản phẩm và thoả mãn nhu c&u của người tiêu dùng.
:C:CLCQ#. 0$2#M0%RES#6 TR U/4 -#5%.
-Chất lượng thị trường
Là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức độ hợp lý nhất
trong điều kiện kinh tế-xã hội nhất định. Nói cách khác, chất lượng là khả năng sản
phẩm thoả mãn nhu c&u của người tiêu dùng có khả năng cạnh tranh trên thị trường,
sức tiêu thụ nhanh hiệu quả cao.
-Chất lượng thị hiếu
Là mức chất lượng của sản phẩm phù hợp với ý thích sở trường, tâm lý của
người tiêu dùng.
-Chất lượng thành ph&n.
Là mức chất lượng có thể thoả mãn nhu c&u mong đọi của một số người hay
một số nhóm người. Đây là mức chất lượng hướng vào một nhóm người nhất định,
một số bộ phận tạo nên chất lượng toàn diện, đáp ứng nhu c&u theo sở thích cá
mang tính tác nghiệp. Nếu quản trị chất lượng tốt, sẽ mang lại hiệu quả cao trong
sản xuất kinh doanh, giảm đến mức thấp nhất các chi phí phát sinh trong quá trình
sản xuất, như: Chi phí sai hỏng bên trong, chi phí sai hỏng bên ngoài, chi phí thẩm
định và chi phí phòng ngừa từ đó giảm được giá thành của một sản phẩm, thoả
mãn tốt nhất nhu c&u khách hàng. Phân tích chi phí chất lượng là một công cụ quản
lý quan trọng cung cấp phương pháp đánh giá hiệu suất tổng hợp của quản lý chất
lượng, phương pháp xác định các khu vực có trục trặc và các chỉ tiêu hành động.
Quản trị chất lượng tốt sẽ bảo đảm cho chu trình sản xuất được tiến hành liên
tục và đạt hiệu quả cao - sản phẩm tuân thủ theo chất lượng đã được thiết kế. Rõ
rang, muốn sản xuất một sản phẩm đáp ứng yêu c&u khách hàng, thì c&n xác định,
theo dõi và kiểm soát các đ&u vào như: Vật liệu, thủ tục, phương pháp thông tin,
con người, kỹ năng, kiến thức, đào tạo, máy móc thiết bị Như vậy, mỗi nhiệm vụ
trong toàn bộ máy tổ chức sản xuất đều được coi trọng và kiểm soát chặt chẽ.
Quản trị tốt vấn đề chất lượng, chất lượng sản phẩm sẽ được đảm bảo và
nâng cao dẫn đến tính năng tác dụng, tiết kiệm nguồn tài nguyên tăng giá trị sản
phẩm trên một đơn vị đ&u vào. Nhờ đó tăng tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng, tăng
năng suất lao động và tăng thu nhập cho người lao động.
Khi chất lượng được bảo đảm và nâng cao thì sản phẩm được tiêu thụ nhiều
hơn, tạo điều kiện để doanh ngiệp chiếm lĩnh thị trường, tăng doanh thu và lợi
nhuận, thu hồi vốn nhanh; Nhờ đó, doanh nghiệp ngày càng đứng vững, phát triển
và mở rộng sản xuất, mang lại lợi ích cho mọi đối tượng trong nền kinh tế xã hội.
:C:CY2#Z2S #U/#12'3 4 -#5%
Mỗi sản phẩm đều được cấu thành bởi nhiều thuộc tính có giá trị sử dụng
khác nhau nhằm đáp ứng nhu c&u của con người. Các thuộc tính này có quan hệ
chặt chẽ với nhau tạo nên một mức chất lượng nhất định của sản phẩm. Các thuộc
tính chất lượng được phân chia thành hai nhóm chính: Thuộc tính kỹ thuật và thuộc
tính kinh tế.
- Thuộc tính kỹ thuật: Phản ánh công dụng, chức năng của sản phẩm được
quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành ph&n cấu tạo và các đặc tính về cơ,
lý, hóa của sản phẩm .
độ năng lực của lao động, thì việc đ&u tư phát triển và bồi dưỡng phải được coi
trọng.
Mỗi doanh nghiệp c&n có biện pháp tổ chức lao động khoa học, đảm bảo và
trang bị đ&y đủ các điều kiện, môi trường làm việc an toàn, vệ sinh cho người lao
động. Bên cạnh đó, phải có các chính sách động viên, khuyến khích nhằm phát huy
khả năng sáng tạo trong cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua chế độ
thưởng phạt nghiêm minh. Mức thưởng, phạt phải phù hợp, tương ứng với ph&n giá
trị mà người lao động làm lợi hay gây thiệt hại cho doanh nghiệp.
-Trình độ máy móc, công nghệ mà doanh nghiệp sử dụng:
Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản,
quyết định chất lượng sản phẩm.
Trình độ hiện đại, tính đồng bộ và khả năng vận hành công nghệ ảnh
hưởng rất lớn tới chất lượng sản phẩm. Trong điều kiện hiện nay, thật khó tin rằng
với trình độ công nghệ, máy móc ở mức trung bình mà có thể cho ra đời các sản
phẩm có chất lượng cao. Ngược lại, cũng không thể nhìn nhận rằng cứ đổi mới công
nghệ là có thể có được những sản phẩm chất lượng cao. Nhìn chung, chất lượng sản
phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nguyên vật liệu, trình độ quản lý, trình độ khai
thác và vận hành máy móc, thiết bị
Trình độ của các doanh nghiệp về công nghệ, thiết bị máy móc phụ thuộc
vào rất nhiều và không thể tách rời trình độ công nghệ thế giới. Bởi nếu không sẽ
không thể theo kịp được sự phát triển trên thế giới trong điều kiện đa dạng hoá, đa
phương hoá. Chính vì lý do đó mà doanh nghiệp muốn sản phẩm của mình có chất
lượng đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường thì c&n có chính sách công nghệ phù
hợp và khai thác sử dụng có hiệu quả các công nghệ và máy móc, thiết bị hiện đại,
đã đang và sẽ đ&u tư.
- Trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của doanh nghiệp.
Các yếu tố sản xuất như: Nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động dù ở
trình độ cao nhưng nếu không được tổ chức một cách hợp lý, phối hợp đồng bộ,
nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất thì cũng khó có thể tạo ra những sản phẩm đẩm
bảo chất lượng. Không những thế, nhiều khi còn gây thất thoát, lãng phí nhiên liệu,
quản lý chiếm tới 80%.
Do vậy, họ phải nhận thức rằng, đó không chỉ do lỗi tại trình độ tay nghề của
người công nhân, mà còn do chính bản thân mình. Trên thực tế, liệu đã có nhà quản
lý nào đặt ra những câu hỏi như: Bố trí lao động đã hợp lý chưa? Việc bố trí có phát
huy được khả năng, trình độ tay nghề của người công nhân hay không? Sản phẩm
sản xuất với chất lượng kém có phải do con người, máy móc thiết bị, nguyên vật
liệu hay do nguyên nhân nào khác?
Thêm vào đó, chính sách chất lượng và kế hoạch chất lượng được lập ra dựa
trên những nghiên cứu, thiết kế của các lãnh đạo doanh nghiệp. Quan điểm của họ
ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện chất lượng trong toàn công ty. Điều này chứng
tỏ rằng, chỉ nhận thức được trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp thì mới có cở sở
thực hiện việc cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm cho doanh nghiệp.
:CQCQ #. 2N^##]/
- Thị trường:
Nói đến thị trường là đề cập tới các yếu tố: Cung, c&u, giá cả, quy mô thị
trường, cạnh tranh Chất lượng sản phẩm luôn gắn liền với sự vận động và biến đổi
của thị trường, đặc biệt là nhu c&u khách hàng, tác động trực tiếp đến chất lượng sản
phẩm. Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp xác định được khách hàng
của mình là đối tượng nào? Quy mô ra sao? và tiêu thụ ở mức độ như thế nào?
Từ đó, xây dựng chiến lược sản phẩm, kế hoạch sản xuất để có thể đưa ra những
sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý với nhu c&u và khả năng tiêu
dùng ở những thời điểm nhất định. Bởi vì, sản phẩm có chất lượng cao không phải
lúc nào cũng tiêu thụ nhanh và ngược lại chất lượng có thể không cao nhưng người
tiêu dùng lại mua nhiều. Điều này có thể do giá cả, thị hiếu của người tiêu dùng ở
các thị trường khác nhau là khác nhau, hoặc sự tiêu dùng mang tính thời điểm, và
được phản ánh rõ nét nhất với các sản phẩm mốt hoặc những sản phẩm sản xuât
theo mùa vụ.
Thông thường, khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu
c&u của người tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm nhiều tới mặt xã hội của
sản phẩm. Nhưng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lượng cũng tăng
cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Rõ ràng, các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn quan
hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, đặc
biệt phải kể đến cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước. Cơ chế quản lý vừa là môi
trường, vừa là điều kiện c&n thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến, nâng
cao chất lượng sản phẩm.
- Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản, nâng cao chất
lượng sản phẩm, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa
nhiều như Việt Nam. Nó tác động tới các đặc tính cơ, lý, hoá của sản phẩm; làm
giảm đi chất lượng của sản phẩm, của hàng hoá trong quá trình sản xuất cũng như
trong trao đổi, lưu thông và tiêu dùng.
Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét ảnh
hưởng trực tiếp tới chất lượng nguyên vật liệu dự trữ tại các kho tàng, bến bãi.
Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả vận hành các thiết bị, máy móc, đặc
biệt đối với các thiết bị, máy móc hoạt động ngoài trời. Khí hậu, nóng ẩm cũng tạo
điều kiện để côn trùng, vi sinh vật hoạt động làm cho sản phẩm bị phân huỷ, nấm
mốc, thối rữa ảnh hưởng tới hình thức và chất lượng của sản phẩm. Điều này dễ
dàng gặp ở các sản phẩm có nguồn gốc từ nông nghiệp, ngư nghiệp.
- Văn minh và thói quen tiêu dùng
Trình độ văn hoá, thói quen, sở thích tiêu dùng của mỗi cá nhân là khác
nhau. Điều đó phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố tác động, như: Thu nhập, trình độ
học vấn, môi trường sống, phong tục, tập quán tiêu dùng của mỗi quốc gia, mỗi
khu vực. Do đó, đòi hỏi các doanh nghiệp c&n phải nghiên cứu, phân đoạn thị
trường theo các tiêu thức lựa chọn khác nhau trên cơ sở các nhân tố ảnh hưỏng để
xác định các đối tượng mà sản phẩm mình phục vụ với chất lượng đáp ứng phù hợp
với từng nhóm khách hàng riêng biệt.
Tuy nhiên, khi kinh tế càng phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao thì
văn minh và thói quen tiêu dùng cùng đòi hỏi ở mức cao hơn. Vì thế, doanh nghiệp
c&n phải nắm bắt được xu hướng đó, hoàn thiện và nâng cảo sản phẩm của mình để
thay thế của sản phẩm khi sử dụng.
- Chỉ tiêu kinh tế: Phản ánh các chi phí c&n thiết từ khi thiết kế, chế tạo đến
khi cung ứng sản phẩm và các chi phí liên quan sau khi tiêu dùng sản phẩm.
:CLCQ J2#N #_2`Ea #'3
-Tỷ lệ sai hỏng: Đánh giá tình hình thực hiện chất lượng sản phẩm trong các
doanh nghiệp sản xuất các loại sản phẩm không phân thứ hạng chất lượng sản
phẩm:
+Sử dụng thước đo hiện vật
Tỷ lệ sai hỏng =
Số lượng sản phẩm sai hỏng
x 100%
Tổng sản phẩm sản xuất
+ Sử dụng thước đo giá trị:
Tỷ lệ sai hỏng = Chi phí cho các sản phẩm sai hỏng x 100%
Tổng chi phí cho toàn bộ sản phẩm
Hệ số phẩm cấp bình quân: áp dụng đối với những doanh nghiệp sản xuất có
phân hạng chất lượng sản phẩm.
H =
∑
∑
)1.(
).(
pqi
piqi
Trong đó
H: Hệ số sản phẩm bình quân
qi: Số lượng sản phẩm loại i
pi: Đơn giá sản phẩm loại i
p1: Đơn giá sản phẩm loại 1
quá trình thực hiện doanh nghiệp phải đảm bảo đúng các thông số mức chất lượng
đã ký của sản phẩm, đó là thông số mức độ chất lượng đã ký của sản phảm, đó là cơ
sở để kiểm tra đánh giá sản phẩm sản xuất. Trên thực tế, việc đánh giá chất lượng
sản phẩm được căn cứ vào hệ thống các chỉ tiêu do Nhà nước, các bộ ngành ban
hành hay do chính doanh nghiệp xây dựng. Điều này đảm bảo cho việc kiểm tra
đánh giá được chính xác, tập trung, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
:CVbc 2#\2-#] 2Wa#12'3 [T0/ # #J-J2
/%#J /7
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nâng cao chất lượng sản phẩm là biện
pháp hữu ích nhất để có thể cạnh tranh, thu hút khách hàng. Công việc này không
những có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp, mà còn quan trọng đối với
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vai trò đó được thể hiện như sau.
Góp ph&n nâng cao uy tín của quốc gia, khẳng định thương hiệu Việt Nam
trên trường quốc tế; thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập, rút ngắn khoảng cách chêch
lệch về phát triển kinh tế.
- Đối với các doanh nghiệp, nó cho phép nâng cao uy tín, góp ph&n mở rộng
thị trường trong nước, chiếm lĩnh thị trường thế giới, tăng thu nhập và tạo tích luỹ
đ&u tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất tinh th&n cho
người lao động.
- Đáp ứng các yêu c&u ngày càng cao của người tiêu dùng, tạo niềm tin đối
với khách hàng, thoả mãn ngày càng tốt hơn yêu c&u của họ, tiến tới thay thế hàng
ngoại bằng hàng nội.
Trong môi trường kinh doanh ngày nay, nếu muốn giữ vững tỷ lệ chiếm lĩnh
thị trường - chưa nói gì đến việc tăng tỷ lệ đó, c&n thiết phải xây dựng được hệ
thống bảo đảm chất lượng của doanh nghiệp. Ngày nay, người tiêu dùng coi trọng
giá trị của chất lượng hơn là lòng trung thành đối với nhà sản xuất trong nước, và
giá cả chưa hẳn đã là nhân tố quyết định sự lựa chọn của người tiêu dùng. Chất
lượng đã thay thế giá cả, và điều đó đúng với cả công nghiệp, dịch vụ và nhiều thị
trường khác. Vì vậy, quản trị chất lượng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với
việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Nó quyết định sự
Là hệ thống quản lý chất lượng trong sản xuất, lắp đặt tương tự như ISO-
9001, song khác ở chỗ chỉ giới hạn cho triển khai làm dịch vụ cho sản phẩm. Đối
với doanh nghiệp chỉ sản xuất và lắp đặt sản phẩm thì ISO-9002 thoả mãn các yêu
c&u cơ bản.
- eOPPL
Là hệ thống quản lý chất lượng trong khâu kiểm tra và thử nghiệm cuối
cùng. ISO-9003 được áp dụng cho các doanh nghiệp mà sản phẩm ít liên quan tới
thiết kế, lắp đặt.
- ISO-9003 bảo đảm với khách hàng về mặt kiểm tra và thử nghiệm cuối
cùng của doanh nghiệp đối với số liệu về chất lượng là đảm bảo tích
trung thực, phản ánh thực tế chất lượng sản phẩm bán cho khách hàng.
Nếu doanh nghiệp thực hiện đúng theo ISO-9003 thì sản phẩm mà khách
hàng nhận được là sản phẩm có chất lượng đúng với tiêu chuẩn thiết kế
quy định.
- eOPPV
Quản trị chất lượng và các yếu tố của hệ thống chất lượng này là tiêu chuẩn
hướng dẫn cách thức triển khai và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng mà ISO-
9001,ISO-9002, ISO-9003 đòi hỏi. Tiêu chuẩn này lưu tâm tới trách nhiệm của nhà
quản trị, các nguyên tắc để triển khai hệ thống chất lượngcũng như các yêu c&u phải
đạt trước khi thực hiện.
:CVCQ f 2WaEa ##'d #12'3 4 -#5%KEF^J c
2#\2Egh0/ ##J-J2/%E$2#J]2W0 F ^ #2\2#a
2W'( C
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, tình
hình quản trị chất lượng ở nước ta đã có những khởi sắc mới, tiến bộ mới. Các tổ
chức đã chú trọng đến nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng Việt Nam
bước đ&u đã chiếm lĩnh được thị trường và được người tiêu dùng chấp nhận.
Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành ph&n hiện nay
cùng với quá trình mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực, cạnh tranh
trên thị trường ngày càng gay gắt và quyết liệt, chất lượng sản phẩm đang trở thành
sản xuất kinh doanh mà có thể áp dụng được cho tất cả các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế xã hội đặc biệt là ISO 9000 phiên bản năm 2000.
- Tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 không phải là các chỉ tiêu bắt buộc mà là tiêu
chuẩn hướng dẫn cho các doanh nghiệp áp dụng trong việc xây dựng hệ thống chất
lượng cho doanh nghiệp mình.
-Quản trị chất lượng chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố văn hoá, phong tục
tập quán và nếp sống, tác phong của cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng. Có thể
nói rằng người Việt Nam chúng ta hiện nay có nhiều ưu điểm như tài nguyên thiên
nhiên dồi dào, điều kiện khí hậu thuận lợi, được nhà nước hỗ trợ đ&u tư và khuyến
khích sản xuất, trình độ tri thức và tay nghề người lao động được nâng cao , tuy
nhiên vẫn còn tồn tại những nhược điểm như tính tự nguyện, tự giác chưa cao. Vì
vậy việc đưa ra hoặc áp dụng theo một tiêu chuẩn nào đó mang tính tự nguyện vừa
mang tính pháp chế là một cách làm phù hợp nhất.
Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 đã đem lại những lợi ích
thiết thực cho doanh nghiệp.
- Tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đồng đều và ổn định hơn. Mặt khác
giảm được đáng kể việc tái tạo lại, sửa chữa lại những sản phẩm hư hỏng, khuyết tật
và giảm sự khiếu nại, không đồng tình của khách hàng.
- Nhờ hệ thống hồ sơ, văn bản được tiêu chuẩn hoá làm cho các quy định,
quy tắc, thủ tục, trách nhiệm trong khi thực hiện công việc được qui định phải rõ
ràng, mạch lạc và chính xác. Do vậy mà hiệu quả công việc của các phòng ban, các
bộ phận cũng như của các thành viên trong doanh nghiệp được nâng cao.
- Giúp cho việc nâng cao nhận thức, trình độ cũng như phương pháp tư duy
của lãnh đạo và mọi người trong doanh nghiệp, tạo ra phong trào làm việc thực sự
khoa học.
- Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9000 xây dựng mối quan hệ giữa các
phòng ban, các bộ phận gắn bó chặt chẽ hơn trên cơ sở hợp tác do việc xác định sự
liên quan của mỗi thành viên, của mỗi đơn vị phòng ban, bộ phận đến vấn đề chất
lượng.
Ngoài ra mỗi doanh nghiệp cũng thu được những lợi ích riêng khác nhờ việc