Mô hình xác định các nhân tốt ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của ngành sản xuất giày dép - Pdf 23

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2005 là năm cuối cùng ngành công nghiệp Việt Nam thực hiện lộ
trình AFTA và tiến hành những bớc đi quan trọng chuẩn bị gia nhập WTO.
Sự tác động của tình hình kinh tế thế giới đối với nớc ta ngày càng rõ nét và
càng lớn do chính sách kinh tế mở và hội nhập quốc tế. Biến động tình hình kinh
tế thế giới, khu vực sẽ ngày càng ảnh hởng trực tiếp tới nền kinh tế Việt Nam.
Các ngành công nghiệp chế biến phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập
khẩu sẽ gặp nhiều thách thức, khó khăn hơn do biến động giá. Tuy nhiên, cơ hội
tham gia các thị trờng xuất khẩu ngày càng mở rộng, đặc biệt là thị trờng Mỹ.
Thị trờng trong nớc
Với trên 80 triệu dân và tốc độ tăng trởng của nền kinh tế đợc duy trì ở
mức cao nh những năm vừa qua đợc coi là một thị trờng đầy triển vọng về các
sản phẩm công nghiệp và là một điều kiện tiền đề quan trọng cho sự phát triển
của ngành công nghiệp trong nớc. Hiện nay, nhiều sản phẩm công nghiệp chế
biến nh: thực phẩm chế biến, chế tạo cơ khí, điện, điện tử dân dụng, hàng dệt
may, bia, sữa, dầu ăn, chất tẩy rửa, săm lốp xe đạp, xe máy, lốp ô tô máy kéo,
giày dép..., đã chiếm đợc thị trờng trong nớc và dần cạnh tranh đợc với hàng
ngoại nhập.
Thị trờng xuất khẩu
Các thị trờng xuất khẩu chủ yếu hai năm 2004-2005 của hàng công nghiệp
Việt Nam là EU với các sản phẩm chủ yếu là hàng dệt may, giày dép, xe đạp;
Nhật Bản với các sản phẩm chủ yếu là than, dầu thô, hàng dệt may, giày dép,
hàng thủ công mỹ nghệ; ASEAN với các sản phẩm là hàng thủ công mỹ nghệ,
dệt may, giày dép, linh kiện điện tử, dây, cáp điện... Thị trờng Mỹ là thị trờng
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
lớn, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong kim ngạch xuất khẩu với các sản phẩm
chủ yếu nh hàng dệt may, giày dép.
Khả năng cạnh tranh của hàng công nghiệp

cơ sở đó tác giả cũng đa ra một số tính toán và so sánh hiệu quả kỹ thuật của
ngành và của các cơ sở sản xuất trong điều tra mẫu. Qua phân tích tác giả thấy
hiệu quả của ngành không cao nên sẽ đánh giá tác động của một số nhân tố tới
tính phi hiệu quả của ngành giầy dép.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung các phân tích của mình đối với ngành Da Giầy ( bao
gồm chủ yếu là các cơ sở sản xuất giầy dép, sản phẩm chủ yếu của ngành)
Số liệu thu thập từ cuộc điều tra doanh nghiệp do Tổng cục thống kê thực hiện
trong ba năm ( 2000 đến 2002) với một số chỉ tiêu cơ bản về tình hình sản xuất
của doanh nghiệp.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn dùng lý luận và phơng pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật
biện chứng kết hợp với phơng pháp mô hình hoá trên cơ sở xây dựng quan hệ
khách quan giữa các đại lợng phân tích., phơng pháp thống kê mô tả đặc điểm
của các chỉ tiêu kinh tế.
Luận văn sử dụng phơng pháp phân tích định lợng, xây dựng mô hình dựa
vào số liệu thống kê để đánh giá hiệu quả kỹ thuật của một ngành sản xuất cụ
thể.- ngành giầy dép. Ngoài ra tác giả còn dựa trên những quan điểm và kế hoạch
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phát triển kinh tế của Nhà nớc để đánh giá thực trạng cũng nh phân tích, đề ra
định hớng cho ngành sản xuất.
5. Những đóng góp chủ yếu của luận văn
- Luận văn đã đa ra những phân tích về thực trạng và xu hớng vận động
của một ngành rất quan trọng trong lĩnh vực xuất khẩu là ngành sản xuất giầy
dép.
- Trên cơ sở muốn lợng hoá hiệu quả hoạt động của ngành, tác giả đã
nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật, một trong hai phần cấu tạo nên tăng trởng năng
suất tổng hợp của ngành.
- Tác giả cũng đa ra một số phân tích về các nhân tố tác động đến mức phi

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chơng I
tổng quan về ngành sản xuất giầy dép
1. Thực trạng tình hình sản xuất giầy dép của Việt Nam
Nền kinh tế của một quốc gia có thể tăng trởng nhanh hay chậm trong thời
đại ngày nay phụ thuộc vào sự phát triển của từng ngành sản xuất và dịch vụ.
Mỗi ngành có một thế mạnh dựa vào đặc tính và khả năng tiêu thụ của sản phẩm.
Với tiến trình hội nhập kinh tế, hàng hoá Việt Nam đang ngày càng có chỗ đứng
trên thị trờng quốc tế. Tuy nhiên việc làm thế nào để đứng vững và tiến lên trong
điều kiện cạnh tranh gay gắt đang là yêu cầu đặt ra với mỗi ngành sản xuất.
Trong nhóm ngành lớn là sản xuất hàng tiêu dùng, ngành giầy dép đang ngày
càng có vị trí quan trọng không những chỉ hoạt động trong nớc mà vị thế xuất
khẩu cũng nâng lên rõ rệt.
Ngành công nghiệp giầy dép của Việt Nam trong 7 năm trở lại đây tăng tr-
ởng rất nhanh, đặc biệt là sản lợng và xuất khẩu. Giai đoạn từ 1997 - 2000 đã
tăng từ 206 triệu đôi lên đến 303 triệu đôi. Hiện nay, năng lực sản xuất của
chúng ta có thể sản xuất đợc khoảng 400 triệu đôi. Phần lớn các sản phẩm này
đều đợc xuất khẩu, trung bình mỗi năm tổng giá trị giầy dép xuất khẩu của Việt
Nam đạt 1,5 tỷ USD. Trong đó, châu Âu là thị trờng hàng đầu, chiếm khoảng
65% lợng hàng xuất khẩu của Việt Nam, sau đó là thị trờng Mỹ, Nhật Bản, Hàn
6
Giá trị sản xuất (giá 94)
0
3000
6000
9000
12000
15000
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Năm

2 Các loại khác 76,43 71,71 68,364
3 Giầy thể thao 138,30 31,43 40,15
4 Giầy nữ 69,50 67,43 70,215
Tổng số: 322,02 360,00 371,083
Nguồn: Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam
Bảng 1.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp chủ yếu 2001-2003
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2001 2002 2003
1. Kim ngạch XKCN
Triệu USD
10615 10610 14101
Hàng CN nặng và KS
,,
5247 5210 6150
Hàng CN nhẹ và TTCN
,,
5368 6400 7951
2. Mặt hàng XK chủ yếu
Hàng dệt may
Triệu USD
1975 2752 3600
Hàng giày dép
,,
1560 1867 2217
Hàng thủ công mỹ nghệ
,,
235 329 367
Than đá
Nghìn .Tấn
4290 5870 6200
Dầu thô

tăng và phát triển sản xuất, đặc biệt các doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài và
liên doanh. Một số doanh nghiệp thực sự khó khăn do không có khách hàng th-
ờng xuyên, thu hẹp sản xuất (phần lớn các doanh nghiệp này là doanh nghiệp
Nhà nớc: Công ty giầy Hiệp Hng, Công ty Giầy Thăng Long, Công ty Giầy Vĩnh
Yên ). Khu vực phía Bắc khó thu hút khách hàng hơn phía Nam (trừ khu vực
Hải Phòng). Phần giá trị gia tăng trong nớc của các sản phẩm da giầy hiện mới
chỉ ở mức rất thấp (35 - 40%), do phần lớn các doanh nghiệp sản xuất gia công,
nhiều nguyên liệu vẫn tiếp tục phải nhập ngoại và do các đối tác chỉ định.
* Về đầu t:
Năm 2004, ít doanh nghiệp đầu t mới cho sản xuất giầy, riêng phần
nguyên phụ liệu và thuộc da tiếp tục đợc đầu t mạnh hơn: Công ty thuộc da Hào
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Dơng bắt đầu đi vào hoạt động, một số cơ sở nhỏ tại khu thuộc da Phú Thọ Hoà
ra đời, công ty thuộc da Primer Vũng Tàu (Chuyên cung cấp các loại da thuộc
thành phẩm cho công ty PouYuen đã đi vào sản xuất từ quý II/2004, công ty
thuộc da Samwoo, công ty Green Tech đã đi vào sản xuất ổn định Các cơ sở
sản xuất nguyên phụ liệu (đế giầy, da tráng PU, keo, phụ liệu ) có quy mô
không lớn đợc hình thành để phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp giầy. Tuy
nhiên, nhiều loại nguyên phụ liệu sản xuất trong nớc có giá bán cao hơn nhập
khẩu nên các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghệp gia công) vẫn lựa chọn
nhập khẩu hơn là mua trong nớc.
* Về thị trờng và hoạt động xúc tiến thơng mại:
Sản lợng xuất khẩu vào thị trờng Mỹ tiếp tục gia tăng (năm 2004 chiếm 14
- 15% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành), chủ yếu do các công ty 100% vốn
nớc ngoài, liên doanh, một vài công ty lớn của Việt Nam nh: Công ty Sao Vàng,
Công ty TNHH Duy Hng thực hiện. Thị tr ờng EU (chiếm 73 - 75%) có những
biến động nhất định với các yêu cầu ngày càng cao về sản phẩm không sử dụng
hoá chất độc hại, doanh nghiệp thực hiện tốt các tiêu chuẩn về nhãn mác v.v
Đồng thời chịu tác động do vừa qua EU ban hành một số quy định mới về hệ

giầy cấp thấp do những sản phẩm này chỉ cần công nghệ đơn giản, cơ cấu sản
xuất gọn nhẹ, chi phí đầu t ít, lại có thị trờng rộng. Trớc đây giầy cấp thấp có tỷ
trọng chiếm tới 40% trong cơ cấu giầy xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam.
Nhng hai năm gần đây, doanh nghiệp Việt Nam đã mất dần thị trờng bởi sự cạnh
tranh rất mạnh của các nhà sản xuất Trung Quốc. Do đó, để tồn tại và phát triển,
các doanh nghiệp cần phải nhanh chóng chuyển hớng sản xuất các mặt hàng
tung và cao cấp do những sản phẩm này đang có xu hớng tiêu dùng mạnh. Nhiều
doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp FDI, liên doanh và doanh nghiệp trong nớc đã
chuyển hớng hiệu quả. Hiện nay, để sản xuất giầy cao cấp, các doanh nghiệp
Việt Nam còn nhiều hạn chế nh trình độ công nghệ rất thấp, khả năng phát triển
sản phẩm gần nh không có, việc xây dựng mối quan hệ với khách hàng rất lỏng
lẻo, năng suất lao động chỉ bằng một nửa so với các doanh nghiệp Trung Quốc.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Để phát triển, không còn cách nào khác là các doanh nghiệp phải đẩy mạnh đầu
t công nghệ mới để nâng cao chất lợng sản phẩm, năng suất lao động và chú
trọng đến khâu thiết kế sản phẩm, phát triển thị trờng.
Dự báo nhu cầu trong nớc một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu
năm 2005
Các sản phẩm công
nghiệp
Đơn vị tính 2000 2005
Nhu cầu Năng lực
sản xuất
Nhu cầu Năng lực
sản xuất
Dầu thô Triệu tấn 0 15,4 0 18
Xi măng Triệu tấn 13,5 18,6 29-30 29
Thép xây dựng 1,67 2,5 3,3-3,6 3,5
Than sạch 7,6 12-13 12-13,5 22

đợc của các doanh nghiệp Việt Nam từ năm 1999 đến 2002 đã liên tục sụt giảm
từ 59% trong tổng số xuống còn 53,1%; 51,1% và 47,9% (Riêng các doanh
nghiệp dân doanh tăng từ 26,73% năm 2000, lên 30,06% năm 2001, rồi giảm
còn 29,1% năm 2002); trong khi các doanh nghiệp có 100% vốn đầu t nớc ngoài
lại gia tăng từ 35,34% lên 41,3%; 42,88% và 45,4% vào các thời điểm tơng ứng;
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
các doanh nghiệp liên doanh cũng tăng tơng tự từ 5,66%; 5,6%; 5,7% và 5,8%.
Lý do đợc giải thích là các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, dù 100% vốn
hay liên doanh với doanh nghiệp trong nớc, đều có sẵn những thị trờng lớn và
mặt hàng xuất khẩu ổn định, ít bị phụ thuộc vào phía đối tác về nguyên phụ liệu,
đơn hàng nh các doanh nghiệp Việt Nam.
2. Những tồn tại ảnh hởng đến hiệu quả sản xuất của ngành giầy dép
2.1. Thiếu nguyên liệu và công nghiệp phụ trợ
Theo phân tích của các nhà kinh tế, Việt Nam không tự chủ đợc nguồn
nguyên liệu trong nớc, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, mà chủ yếu từ Trung
Quốc. Số liệu của Bộ Công nghiệp cho biết hiện có tới 60% - 80% nguyên liệu
đầu vào để sản xuất giầy dép là nhập khẩu, nhng chúng ta lại thiếu hẳn sự kiểm
soát về nguồn nguyên liệu. Nguyên liệu từ nguồn trong nớc chất lợng lại kém,
không đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhiều nguyên liệu không có sẵn ở Việt Nam nh
thuộc da. Bên cạnh đó, khâu thiết kế và tìm đầu ra cho sản phẩm rất yếu. Để
thành công trên thị trờng xuất khẩu, các sản phẩm giầy dép phụ thuộc rất nhiều
vào những nhà thiết kế có khả năng luôn tạo ra các mẫu mã giầy dép hợp thời
trang với khách hàng quốc tế. Hiện nay, Việt Nam còn có quá ít những cán bộ
thiết kế lành nghề hoặc nếu có thì họ cũng cha đợc đào tạo một cách chuyên
nghiệp hoá, bài bản. Các doanh nghiệp của Việt Nam ít có mối liên hệ trực tiếp
với khách hàng cuối cùng, mà phải qua nhiều khâu trung gian. Hiện nay, khoảng
80% các doanh nghiệp sản xuất giầy dép của Việt Nam phải nhận làm gia công
cho các hãng lớn ở nớc ngoài. Chơng trình xúc tiến thơng mại và tiếp thị của
ngành công nghiệp giầy dép còn nhiều hạn chế, đặc biệt là khai thác và đột phá

nó ảnh hởng sâu sắc đến hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp.
2.2 Cha có thơng hiệu và thiếu sức cạnh tranh
Một ngịch lý là Việt Nam đang đứng hàng thứ t thế giới về xuất khẩu da
giầy, nhng không có tên trong bản đồ xuất khẩu. Lý do đợc đa ra là da giầy Việt
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nam chủ yếu là hàng gia công lại cho nớc ngoài nên phải lấy tên hiệu của hãng.
Tiềm năng của ngành da giầy Việt Nam không kém các nớc mạnh về ngành
công nghiệp này nhng bài toán quan trọng về phân công, cơ cấu sản xuất và lao
động lại cha đợc giải quyết. Hàng năm, kim ngạch xuất khẩu da giầy Việt Nam
vào thị trờng thế giới đạt trên dới 2 tỷ USD nhng lợng giầy của các doanh nghiệp
chủ Việt Nam chỉ chiếm khoảng 10 đến 15%. Da giầy Việt Nam trên thế giới ch-
a có tên, thơng hiệu và đó là một khó khăn lớn trong sản xuất và cạnh tranh.
Câu hỏi đặt ra hiện tại nhân công Việt Nam còn rẻ nên còn gia công. Giả
định rằng nếu giá nhân công tăng thì bức tranh tơng lai ngành da giầy Việt Nam
sẽ ra sao?
Cạnh tranh với nớc ngoài đã khó khăn nhng ngay cả ở thị trờng trong nớc,
các doanh nghiệp Việt Nam cũng cha cạnh tranh đợc khi Trung Quốc lại xuất
sang 2 triệu đôi trong năm 2004. Nhìn nhận và lo lắng về vấn đề này,các giám
đốc của những công ty sản xuất giầy lớn ở Việt Nam cho rằng nếu thất bại ngay
trên sân nhà thì da giầy Việt Nam khó có thể cùng bắt tay nhau cạnh tranh trên
sân khách. Vì vậy Hiệp hội Da Giầy Việt Nam và các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh cần phải ngồi lại để tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề
này. Theo phân tích thị trờng, năm 2005 là năm ngành da Trung Quốc đợc tháo
gỡ rất nhiều trói buộc khi xuất khẩu vào thị trờng châu Âu ( EU), đặc biệt là chế
độ hạn ngạch. Trong khi đó, mặt hàng giầy dép từ Việt Nam xuất khẩu có khả
năng sẽ bị xem xét lại để cắt giảm chế độ u đãi về thuế. Điều này sẽ đặt ngành
giầy Việt Nam trớc một thử thách lớn.
Theo nhận định từ phía Hiệp hội, Đông Âu là vùng đất còn nhiều tiềm
năng để da giầy Việt nam tiếp tục mở rộng thị trờng. Việt Nam đợc các nớc đánh

Từ đầu năm 2005 đến nay, xuất khẩu sang thị trờng EU liên tục bị giảm
nhẹ. Kim ngạch xuất khẩu sang các nớc này trong 5 tháng đầu năm nay bị giảm
hơn 9% so với 5 tháng đầu năm 2004 xuống còn gần 650 triệu USD. Kim ngạch
6 tháng đầu năm sang EU ớc đạt 830 triệu USD, giảm 8% so với cùng kỳ năm
2004. Tại thị trờng EU, giày dép của Việt Nam không chỉ phải đối mặt với hàng
của các doanh nghiệp Trung Quốc - vốn có lợi thế hơn về nguyên phụ liệu và
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
năng suất lao động - mà còn phải cạnh tranh với sản phẩm của nhiều nớc bị ảnh
hởng của đợt sóng thần, đợc miễn thuế xuất khẩu vào thị trờng này. Ngoài ra, các
doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép của Việt Nam còn có thể sẽ bị Liên minh Châu
Âu (EU) điều tra kiện bán phá giá.
Trong số các thị trờng xuất khẩu chính của nớc ta tại khu vực EU, kim
ngạch xuất khẩu sang Đức trong 5 tháng đầu năm giảm 28,02%. Xuất khẩu sang
Anh cũng bị giảm gần 7%.
Kim ngạch xuất khẩu sang Pháp trong 5 tháng đầu năm sang Pháp giảm tới
24,62% so với 5 tháng đầu năm 2004, đạt 65,6 triệu USD. Mức suy giảm kim
ngạch trong tháng 6 đã chậm lại, giảm khoảng 15% so với tháng 6/2004. Đây là
mức suy giảm thấp nhất trong vòng nửa năm trở lại đây.
Ngợc lại, xuất khẩu sang thị trờng Italia đợc phục hồi. Năm 2004, kim ngạch
xuất khẩu giầy, dép của nớc ta sang thị trờng Italia bị giảm 8,56% so với năm
2003. Tuy nhiên, trong những tháng đầu năm 2005, xuất khẩu sang thị trờng này
luôn đạt tốc độ tăng trởng khá, đặc biệt 3 tháng trở lại đây. Kim ngạch xuất khẩu
trong 5 tháng đầu năm 2005 đạt 50,08 triệu USD, tăng 17,27% so với cùng kỳ
năm ngoái.
Mặc dù theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu giầy
dép sang thị trờng EU chín tháng đầu năm tăng không đáng kể nhng số liệu của
EU lại cao hơn thế rất nhiều. Do đó, Hiệp hội Giầy dép liên minh Châu Âu đã đề
nghị Liên minh Châu Âu tiến hành điều tra 33 mã hàng giầy dép da của Việt
Nam đã bán phá giá trên thị trờng này. Đây là cản trở lớn đối với xuất khẩu giầy,

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
3. Cơ hội và thách thức đối với ngành giầy dép Việt Nam
Dự báo nhu cầu trong nớc một số sản phẩm công nghiệp
chủ yếu năm 2010
Các sản phẩm công
nghiệp
Đơn vị
tính
2005 2010
Nhu cầu Năng lực
sản xuất
Nhu cầu Năng lực
sản xuất
Điện thơng phẩm Tỷ Kwh 45 47-50 84,3 -
Dầu thô Triệu tấn 0 18 6,5 21,6
Xi măng Triệu tấn 29-30 29 49 50
Thép xây dựng 3,3-3,6 3,5 6,5 7
Than sạch 12-13,5 22 22 27
Động cơ xăng-diesel Ngàn cái 1,6-1,7 2-2,5 - 260
Động cơ điện 100 95 - 200
Hàng may sẵn Triệu SP 100 98 - 1500
Giày dép Triệu đôi 83-88 800 - -
Vải Triệu mét 160 390-450 - 1100
Sữa hộp Triệu hộp 240 320 - 450
Dầu thực vật 1000 tấn 260-280 350 - 650
Giấy 1000 tấn 800 670 - 1250
Bia Triệu lít 970-970 1150 - 1800
Thuốc lá Triệu bao 2380 4000 - 5105
Nguồn : Bộ Kế hoạch đầu t
20

- Thứ ba, một số đối thủ cạnh tranh khá mạnh của ngành giầy dép nớc ta
nh Thái Lan, Indonesia đang có những biểu hiện đi xuống và tỏ ra kém cạnh
tranh rõ rệt. Ngành giầy dép Indonesia từ năm 2002 đến nay luôn bị giảm sút.
Nhiều nhà máy sản xuất đã buộc phải đóng cửa do không tiêu thụ đợc sản phẩm.
Số lợng các công ty sản xuất giầy dép của Indonesia giảm từ 112 công ty xuống
còn 90 công ty. Hai loại giầy đợc tập trung sản xuất nhiều của Indonesia là giầy
bảo hộ lao động và giầy thể thao, nhng việc bán hàng của các loại giầy này phụ
thuộc vào nhãn hiệu nớc ngoài. Hơn nữa, môi trờng kinh doanh tại thị trờng
Indonesia lại không ổn định. Do vậy, ngời mua dễ dàng quay sang các nớc khác
để bảo đảm việc giao hàng tốt hơn. Cũng giống nh Indonesia, ngành giầy dép
của Thái Lan cũng đang trên đà xuống dốc. Kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan
từ năm 2000 đến nay liên tục giảm mạnh nhất là xuất khẩu sang các thị trờng
trọng điểm (ngoại trừ năm 2003, kim ngạch xuất khẩu của nớc này đạt mức tăng
trởng 3,4%). Tính trong 10 tháng đầu năm 2004 kim ngạch xuất khẩu giầy dép
của Thái Lan giảm tới 8,15% so với cùng kỳ năm 2003, chỉ đạt khoảng 660 triệu
USD. Các thị trờng xuất khẩu chính của Thái Lan là Mỹ, EU, Nhật Bản. Kim
ngạch xuất khẩu sang các thị trờng này giảm khá mạnh. Trong đó, xuất khẩu
sang Mỹ và Bỉ giảm tới 15% về kim ngạch so với 10 tháng đầu năm 2003.
- Thứ t, da giầy hiện đợc xem là một trong ba nhóm ngành công nghiệp
mũi nhọn của nớc ta với nhiều lợi thế cạnh tranh và giải quyết đợc một số vấn đề
xã hội với nguồn lao động dồi dào, không đòi hỏi đầu t quá nhiều vốn, phù hợp
với hoàn cảnh, môi trờng của Việt Nam, phù hợp với nguồn lực tài chính, thị tr-
ờng nớc ta. Do đó, ngành da giầy sẽ đợc chú trọng đầu t hơn nữa nhằm mang lại
hiệu quả hơn, tạo ra sức cạnh tranh mạnh hơn theo chiến lợc tăng trởng tập trung
đến năm 2020.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi trên, ngành giầy dép Việt Nam vẫn
tiếp tục phải đối mặt với những trở ngại đáng kể. Thứ nhất, cha chủ động đợc
nguồn nguyên liệu cho sản xuất. Thứ hai, công nghệ sản xuất cha hiện đại và còn
phụ thuộc vào nớc ngoài. Và bài toán nan giải đối với ngành giầy dép là xây
22

những ảnh hởng của nó tới hoạt động sản xuất là một vấn đề đáng quan tâm.
Xét một quá trình sản xuất đơn giản trong đó có một đầu vào duy nhất (X) đợc
sử dụng để sản xuất ra một đầu ra duy nhất (Y). Đờng OF chính là đờng giới hạn
biểu thị mức sản lợng tối đa có thể đạt đợc tại mỗi mức đầu vào. Do đó nó phản
ánh trạng thái hiện tại công nghệ trong ngành. Các doanh nghiệp trong ngành sẽ
sản xuất tại đờng giới hạn nếu doanh nghiệp đạt đợc hiệu quả về mặt kỹ thuật.
Điểm A tợng trng cho một điểm không hiệu quả trong khi điểm B và điểm C là
những điểm hiệu quả.
Đờng giới hạn khả năng sản xuất đợc mô tả nh sau (Đồ thị 1)

24
F
á
p
dụ
ng
O
Y
A
B
C
X
á
p
dụ
ng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Một doanh nghiệp đang hoạt động tại điểm A là không hiệu quả bởi vì xét
về mặt công nghệ doanh nghiệp có thể tăng sản lợng đến mức tơng đơng với
điểm B trên đồ thị mà không cần có thêm đầu vào ( hoặc có thể sản xuất ra một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status