phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2005 là năm cuối cùng ngành công nghiệp Việt Nam thực hiện lộ
trình AFTA và tiến hành những bớc đi quan trọng chuẩn bị gia nhập WTO.
Sự tác động của tình hình kinh tế thế giới đối với nớc ta ngày càng rõ nét và
càng lớn do chính sách kinh tế mở và hội nhập quốc tế. Biến động tình hình kinh
tế thế giới, khu vực sẽ ngày càng ảnh hởng trực tiếp tới nền kinh tế Việt Nam.
Các ngành công nghiệp chế biến phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập
khẩu sẽ gặp nhiều thách thức, khó khăn hơn do biến động giá. Tuy nhiên, cơ hội
tham gia các thị trờng xuất khẩu ngày càng mở rộng, đặc biệt là thị trờng Mỹ.
Thị trờng trong nớc
Với trên 80 triệu dân và tốc độ tăng trởng của nền kinh tế đợc duy trì ở
mức cao nh những năm vừa qua đợc coi là một thị trờng đầy triển vọng về các
sản phẩm công nghiệp và là một điều kiện tiền đề quan trọng cho sự phát triển
của ngành công nghiệp trong nớc. Hiện nay, nhiều sản phẩm công nghiệp chế
biến nh: thực phẩm chế biến, chế tạo cơ khí, điện, điện tử dân dụng, hàng dệt
may, bia, sữa, dầu ăn, chất tẩy rửa, săm lốp xe đạp, xe máy, lốp ô tô máy kéo,
giày dép..., đã chiếm đợc thị trờng trong nớc và dần cạnh tranh đợc với hàng
ngoại nhập.
Thị trờng xuất khẩu
Các thị trờng xuất khẩu chủ yếu hai năm 2004-2005 của hàng công nghiệp
Việt Nam là EU với các sản phẩm chủ yếu là hàng dệt may, giày dép, xe đạp;
Nhật Bản với các sản phẩm chủ yếu là than, dầu thô, hàng dệt may, giày dép,
hàng thủ công mỹ nghệ; ASEAN với các sản phẩm là hàng thủ công mỹ nghệ,
dệt may, giày dép, linh kiện điện tử, dây, cáp điện... Thị trờng Mỹ là thị trờng
1
lớn, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong kim ngạch xuất khẩu với các sản phẩm
chủ yếu nh hàng dệt may, giày dép.
Khả năng cạnh tranh của hàng công nghiệp
Ngoài việc xuất khẩu nguyên liệu thô nh khoáng sản, dầu thô, than,..., một
số mặt hàng đã dần chiếm lĩnh thị trờng trong nớc và xuất khẩu nh: dệt may, da
tính phi hiệu quả của ngành giầy dép.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung các phân tích của mình đối với ngành Da Giầy ( bao
gồm chủ yếu là các cơ sở sản xuất giầy dép, sản phẩm chủ yếu của ngành)
Số liệu thu thập từ cuộc điều tra doanh nghiệp do Tổng cục thống kê thực hiện
trong ba năm ( 2000 đến 2002) với một số chỉ tiêu cơ bản về tình hình sản xuất
của doanh nghiệp.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn dùng lý luận và phơng pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật
biện chứng kết hợp với phơng pháp mô hình hoá trên cơ sở xây dựng quan hệ
khách quan giữa các đại lợng phân tích., phơng pháp thống kê mô tả đặc điểm
của các chỉ tiêu kinh tế.
Luận văn sử dụng phơng pháp phân tích định lợng, xây dựng mô hình dựa
vào số liệu thống kê để đánh giá hiệu quả kỹ thuật của một ngành sản xuất cụ
thể.- ngành giầy dép. Ngoài ra tác giả còn dựa trên những quan điểm và kế hoạch
phát triển kinh tế của Nhà nớc để đánh giá thực trạng cũng nh phân tích, đề ra
định hớng cho ngành sản xuất.
3
5. Những đóng góp chủ yếu của luận văn
- Luận văn đã đa ra những phân tích về thực trạng và xu hớng vận động
của một ngành rất quan trọng trong lĩnh vực xuất khẩu là ngành sản xuất giầy
dép.
- Trên cơ sở muốn lợng hoá hiệu quả hoạt động của ngành, tác giả đã
nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật, một trong hai phần cấu tạo nên tăng trởng năng
suất tổng hợp của ngành.
- Tác giả cũng đa ra một số phân tích về các nhân tố tác động đến mức phi
hiệu quả của toàn ngành giầy dép nói riêng và ngành gộp giầy dép - dệt may nói
chung.
- Cuối cùng luận văn đóng góp một số giải pháp dựa trên việc phân tích
định tính và định lợng hiệu quả của ngành sản xuất giầy dép.
Mỗi ngành có một thế mạnh dựa vào đặc tính và khả năng tiêu thụ của sản phẩm.
Với tiến trình hội nhập kinh tế, hàng hoá Việt Nam đang ngày càng có chỗ đứng
trên thị trờng quốc tế. Tuy nhiên việc làm thế nào để đứng vững và tiến lên trong
điều kiện cạnh tranh gay gắt đang là yêu cầu đặt ra với mỗi ngành sản xuất.
Trong nhóm ngành lớn là sản xuất hàng tiêu dùng, ngành giầy dép đang ngày
càng có vị trí quan trọng không những chỉ hoạt động trong nớc mà vị thế xuất
khẩu cũng nâng lên rõ rệt.
Ngành công nghiệp giầy dép của Việt Nam trong 7 năm trở lại đây tăng tr-
ởng rất nhanh, đặc biệt là sản lợng và xuất khẩu. Giai đoạn từ 1997 - 2000 đã
tăng từ 206 triệu đôi lên đến 303 triệu đôi. Hiện nay, năng lực sản xuất của
chúng ta có thể sản xuất đợc khoảng 400 triệu đôi. Phần lớn các sản phẩm này
đều đợc xuất khẩu, trung bình mỗi năm tổng giá trị giầy dép xuất khẩu của Việt
Nam đạt 1,5 tỷ USD. Trong đó, châu Âu là thị trờng hàng đầu, chiếm khoảng
65% lợng hàng xuất khẩu của Việt Nam, sau đó là thị trờng Mỹ, Nhật Bản, Hàn
6
G iá trị sản xuất (giá 94)
0
3000
6000
9000
12 000
15 000
1995 19 9 6 19 9 7 1998 19992000 2001 2 00 2 200 3
N ăm
Giá trị
Quốc và Đài Loan. Tuy nhiên, từ năm 2000 đến nay tốc độ tăng trởng của ngành
đã bắt đầu chững lại và có dấu hiệu giảm dần bởi sức cạnh tranh ngày càng mạnh
từ phía các nhà sản xuất giầy dép Trung Quốc.
Tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép của cả nớc năm 2002 đạt 1,82 tỷ đô
la, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm 2001. Năm 2002, mặc dù tình hình kinh tế
Triệu USD
10615 10610 14101
Hàng CN nặng và KS
,,
5247 5210 6150
Hàng CN nhẹ và TTCN
,,
5368 6400 7951
2. Mặt hàng XK chủ yếu
Hàng dệt may
Triệu USD
1975 2752 3600
Hàng giày dép
,,
1560 1867 2217
Hàng thủ công mỹ nghệ
,,
235 329 367
Than đá
Nghìn .Tấn
4290 5870 6200
Dầu thô
,,
16732 16879 17169
Hàng điện tử & linh kiện
Triệu USD
595 492 680
Nguồn: Bộ Kế hoạch đầu t
Đến năm 2010, ngành giầy da Việt Nam đạt mục tiêu sẽ trở thành ngành
công nghiệp xuất khẩu trọng yếu. Kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt 3300 triệu vào
Năm 2004, ít doanh nghiệp đầu t mới cho sản xuất giầy, riêng phần
nguyên phụ liệu và thuộc da tiếp tục đợc đầu t mạnh hơn: Công ty thuộc da Hào
9
Dơng bắt đầu đi vào hoạt động, một số cơ sở nhỏ tại khu thuộc da Phú Thọ Hoà
ra đời, công ty thuộc da Primer Vũng Tàu (Chuyên cung cấp các loại da thuộc
thành phẩm cho công ty PouYuen đã đi vào sản xuất từ quý II/2004, công ty
thuộc da Samwoo, công ty Green Tech đã đi vào sản xuất ổn định Các cơ sở
sản xuất nguyên phụ liệu (đế giầy, da tráng PU, keo, phụ liệu ) có quy mô
không lớn đợc hình thành để phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp giầy. Tuy
nhiên, nhiều loại nguyên phụ liệu sản xuất trong nớc có giá bán cao hơn nhập
khẩu nên các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghệp gia công) vẫn lựa chọn
nhập khẩu hơn là mua trong nớc.
* Về thị trờng và hoạt động xúc tiến thơng mại:
Sản lợng xuất khẩu vào thị trờng Mỹ tiếp tục gia tăng (năm 2004 chiếm 14
- 15% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành), chủ yếu do các công ty 100% vốn
nớc ngoài, liên doanh, một vài công ty lớn của Việt Nam nh: Công ty Sao Vàng,
Công ty TNHH Duy Hng thực hiện. Thị tr ờng EU (chiếm 73 - 75%) có những
biến động nhất định với các yêu cầu ngày càng cao về sản phẩm không sử dụng
hoá chất độc hại, doanh nghiệp thực hiện tốt các tiêu chuẩn về nhãn mác v.v
Đồng thời chịu tác động do vừa qua EU ban hành một số quy định mới về hệ
thống u đãi thuế quan (GSP) và xem xét lại 8 nớc có kim ngạch xuất khẩu lớn
vào EU (trong đó có Việt Nam) để tiếp tục cho thực hiện quy chế u đãi thuế
quan. Bộ Thơng mại và Hiệp hội Da - Giầy đã kiến nghị Chính phủ đàm phán và
tác động để Việt Nam tiếp tục đợc hởng u đãi thuế quan. Kết quả phần lớn các n-
ớc EU ủng hộ để Việt Nam tiếp tục đợc hởng GSP. Nếu có biến động, việc xuất
khẩu giầy dép sang EU sẽ gặp khó khăn hơn. Thị trờng Nhật chiếm mức 2,5% và
các nớc khác duy trì ở mức nh những năm trớc đây.
Năm 2004, Hiệp hội tiếp tục đợc giao nhiệm vụ đầu mối thực hiện chơng
trình xúc tiến thơng mại trọng điểm quốc gia nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp
trong ngành tiếp cận, khảo sát thị trờng, giới thiệu quảng bá sản phẩm của doanh
lẻo, năng suất lao động chỉ bằng một nửa so với các doanh nghiệp Trung Quốc.
Để phát triển, không còn cách nào khác là các doanh nghiệp phải đẩy mạnh đầu
11
t công nghệ mới để nâng cao chất lợng sản phẩm, năng suất lao động và chú
trọng đến khâu thiết kế sản phẩm, phát triển thị trờng.
Dự báo nhu cầu trong nớc một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu
năm 2005
Các sản phẩm công
nghiệp
Đơn vị tính 2000 2005
Nhu cầu Năng lực
sản xuất
Nhu cầu Năng lực
sản xuất
Dầu thô Triệu tấn 0 15,4 0 18
Xi măng Triệu tấn 13,5 18,6 29-30 29
Thép xây dựng 1,67 2,5 3,3-3,6 3,5
Than sạch 7,6 12-13 12-13,5 22
Hàng may sẵn Triệu SP 64 540 83-88 800
Giày dép Triệu đôi 80 360 160 390-450
Giấy 1000 tấn 480 377 800 670
Bia Triệu lít 800 800 970-970 1150
Nguồn: Bộ Kế hoạch đầu t
12
Trong năm 2005, sản xuất kinh doanh của ngành giầy da có phần biến động so
với năm 2004. Một số doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nớc, do
không có khách hàng thờng xuyên, phải thu hẹp sản xuất. Các doanh nghiệp sản
xuất giầy vải khó khăn hơn, nhiều doanh nghiệp phải chuyển sang sản xuất giầy
thể thao và giầy nữ.
Kim ngạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam tuần từ 22 - 27/8/2005 vào một
Theo phân tích của các nhà kinh tế, Việt Nam không tự chủ đợc nguồn
nguyên liệu trong nớc, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, mà chủ yếu từ Trung
Quốc. Số liệu của Bộ Công nghiệp cho biết hiện có tới 60% - 80% nguyên liệu
đầu vào để sản xuất giầy dép là nhập khẩu, nhng chúng ta lại thiếu hẳn sự kiểm
soát về nguồn nguyên liệu. Nguyên liệu từ nguồn trong nớc chất lợng lại kém,
không đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhiều nguyên liệu không có sẵn ở Việt Nam nh
thuộc da. Bên cạnh đó, khâu thiết kế và tìm đầu ra cho sản phẩm rất yếu. Để
thành công trên thị trờng xuất khẩu, các sản phẩm giầy dép phụ thuộc rất nhiều
vào những nhà thiết kế có khả năng luôn tạo ra các mẫu mã giầy dép hợp thời
trang với khách hàng quốc tế. Hiện nay, Việt Nam còn có quá ít những cán bộ
thiết kế lành nghề hoặc nếu có thì họ cũng cha đợc đào tạo một cách chuyên
nghiệp hoá, bài bản. Các doanh nghiệp của Việt Nam ít có mối liên hệ trực tiếp
với khách hàng cuối cùng, mà phải qua nhiều khâu trung gian. Hiện nay, khoảng
80% các doanh nghiệp sản xuất giầy dép của Việt Nam phải nhận làm gia công
cho các hãng lớn ở nớc ngoài. Chơng trình xúc tiến thơng mại và tiếp thị của
ngành công nghiệp giầy dép còn nhiều hạn chế, đặc biệt là khai thác và đột phá
vào những thị trờng mới.
Trong các liên doanh sản xuất giầy dép ở Việt Nam, thờng thờng phía nớc
ngoài chịu trách nhiệm về kỹ thuật nh nhập khẩu, vận chuyển máy móc, thiết bị,
cung cấp phần lớn các nguyên vật liệu và lo đầu ra cho sản phẩm ở thị trờng nớc
14
ngoài. Phía Việt Nam chỉ cung cấp nhân lực, duy trì bảo dỡng các thiết bị máy
móc và chịu trách nhiệm về công tác quản trị hành chính.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thuộc Ngân hàng Thế giới (WB)
tại Hà Nội, Trung Quốc thực sự là một đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam
trong lĩnh vực sản xuất giầy dép. Việc Trung Quốc gia nhập WTO đã càng khẳng
định điều này. Hiện nay, Trung Quốc đang dẫn đầu thế giới về sản xuất giầy dép
với sản lợng hàng năm khoảng 6 tỷ đôi (chiếm 1/2 tổng sản lợng thế giới). Nh
vậy cuộc cạnh tranh giữa sản phẩm giầy dép của hai nớc sẽ là cuộc cạnh tranh về
chất lợng và giá cả. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng phải thừa nhận giầy dép
Cạnh tranh với nớc ngoài đã khó khăn nhng ngay cả ở thị trờng trong nớc,
các doanh nghiệp Việt Nam cũng cha cạnh tranh đợc khi Trung Quốc lại xuất
sang 2 triệu đôi trong năm 2004. Nhìn nhận và lo lắng về vấn đề này,các giám
đốc của những công ty sản xuất giầy lớn ở Việt Nam cho rằng nếu thất bại ngay
trên sân nhà thì da giầy Việt Nam khó có thể cùng bắt tay nhau cạnh tranh trên
sân khách. Vì vậy Hiệp hội Da Giầy Việt Nam và các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh cần phải ngồi lại để tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề
này. Theo phân tích thị trờng, năm 2005 là năm ngành da Trung Quốc đợc tháo
gỡ rất nhiều trói buộc khi xuất khẩu vào thị trờng châu Âu ( EU), đặc biệt là chế
độ hạn ngạch. Trong khi đó, mặt hàng giầy dép từ Việt Nam xuất khẩu có khả
năng sẽ bị xem xét lại để cắt giảm chế độ u đãi về thuế. Điều này sẽ đặt ngành
giầy Việt Nam trớc một thử thách lớn.
Theo nhận định từ phía Hiệp hội, Đông Âu là vùng đất còn nhiều tiềm
năng để da giầy Việt nam tiếp tục mở rộng thị trờng. Việt Nam đợc các nớc đánh
giá là có lợi thế về phát triển ngành da giầy, tuy nhiên con đờng cạnh tranh vẫn
là khâu khó khăn nhất. Việt Nam không đủ năng lực cạnh tranh về giá với các n-
ớc, đặc biệt là Trung Quốc, vì vậy các doanh nghiệp sản xuất phải chú ý đến
cạnh tranh bằng chất liệu sản phẩm. Một trong những yếu tố của chất lợng, theo
các doanh nghiệp da giầy, đó là mẫu mã. Da giầy Việt Nam cần chú trọng đặc
biệt đến khâu thiết kế mẫu mã hơn nữa. Sắp tới ngành da giầy Việt Nam sẽ xây
16
dựng một Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh, trong đó chính
phủ Italia tài trợ 1 triệu USD cung cấp thiệt bị, làm phòng thí nghiệm, huấn
luyện kỹ thuật...Hi vọng với sự đầu t này, cùng với kỹ thuật công nghệ Italia, một
nớc hàng đầu thế giới về giầy da, Việt Nam sẽ có lực để cạnh tranh với thị trờng
thế giới, tạo đà cho phát triển hiệu quả sản xuất.
2.3 Thị trờng xuất khẩu
Thị trờng xuất khẩu giầy dép trong hai năm 2004 - 2005
Thị trờng hiện có Thị trờng có khả năng mở rộng
Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng
mức suy giảm thấp nhất trong vòng nửa năm trở lại đây.
Ngợc lại, xuất khẩu sang thị trờng Italia đợc phục hồi. Năm 2004, kim ngạch
xuất khẩu giầy, dép của nớc ta sang thị trờng Italia bị giảm 8,56% so với năm
2003. Tuy nhiên, trong những tháng đầu năm 2005, xuất khẩu sang thị trờng này
luôn đạt tốc độ tăng trởng khá, đặc biệt 3 tháng trở lại đây. Kim ngạch xuất khẩu
trong 5 tháng đầu năm 2005 đạt 50,08 triệu USD, tăng 17,27% so với cùng kỳ
năm ngoái.
Mặc dù theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu giầy
dép sang thị trờng EU chín tháng đầu năm tăng không đáng kể nhng số liệu của
EU lại cao hơn thế rất nhiều. Do đó, Hiệp hội Giầy dép liên minh Châu Âu đã đề
nghị Liên minh Châu Âu tiến hành điều tra 33 mã hàng giầy dép da của Việt
Nam đã bán phá giá trên thị trờng này. Đây là cản trở lớn đối với xuất khẩu giầy,
dép của nớc ta trong những tháng cuối năm 2005.
18
*Thị trờng Mỹ
Kim ngạch xuất khẩu giầy, dép sang thị trờng Mỹ trong những tháng đầu
năm 2005 đã đạt tốc độ tăng trởng theo kế hoạch đặt ra từ cuối năm 2004. Xuất
khẩu sang thị trờng này trong tháng 6 ớc đạt trên 50 triệu USD tăng từ 30-35%
so với cùng kỳ năm 2003 nâng mức tổng kim ngạch xuất khẩu trong 7 tháng đầu
năm lên mức trên 260USD, tăng trêm 30% so với nửa đầu năm 2004. Chuyến
công du của Thủ tớng Phan Văn Khải thành công sẽ tiếp tục tạo cơ hội thuận lợi
cho xuất khẩu hàng hoá của nớc ta nói chung và mặt hàng giầy, dép nói riêng.
Xuất khẩu giầy, dép sang Mỹ trong năm 2005 ớc đạt khoảng 560 triệu USD, tăng
35% so với năm 2005.
*Thị trờng Nhật Bản
Nhập khẩu giầy, dép của Nhật Bản trong vài năm gần đây liên tục tăng.
Kim ngạch nhập khẩu trong những tháng đầu năm nay đạt mức tăng trởng cao
nhất trong 2 năm trở lại đây, tăng gần 11% so với cùng kỳ năm 2004 đạt gần
1,487 tỷ USD. Nhật Bản đợc các nớc xuất khẩu giầy, dép đánh giá là thị trờng
tiềm năng thứ 2 trên thế giới sau Mỹ.
Hàng may sẵn Triệu SP 100 98 - 1500
Giày dép Triệu đôi 83-88 800 - -
Vải Triệu mét 160 390-450 - 1100
Sữa hộp Triệu hộp 240 320 - 450
Dầu thực vật 1000 tấn 260-280 350 - 650
Giấy 1000 tấn 800 670 - 1250
Bia Triệu lít 970-970 1150 - 1800
Thuốc lá Triệu bao 2380 4000 - 5105
Nguồn : Bộ Kế hoạch đầu t
20
Theo thống kê sơ bộ, kim ngạch xuất khẩu giầy dép của nớc ta năm 2004
đạt hơn 2,76 tỷ USD (trong đó cặp túi xách trên 160 triệu USD), tăng 22% so với
mức kim ngạch đạt đợc trong năm 2003. Giầy dép, cặp túi xách Việt Nam đã
xuất khẩu đợc sang gần 100 thị trờng trên thế giới. Các thị trờng xuất khẩu chính
của nớc ta là EU, Mỹ.
Trong bối cảnh môi trờng cạnh tranh khốc liệt hiện nay thì mức kim ngạch
này thực sự khẳng định nỗ lực lớn lao của các doanh nghiệp nói riêng và toàn
ngành da giầy Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia
nớc ngoài, nếu phát huy hết nội lực của mình thì ngành da giầy Việt Nam còn có
thể đạt đợc những thành tích cao hơn nhiều. Những hạn chế của ngành Da Giầy
nớc ta bao gồm khâu thiết kế mẫu mã cha đợc đẩy mạnh, thơng hiệu sản phẩm
cha đợc khẳng định, xúc tiến thơng mại cha mạnh, các chính sách của Nhà nớc
dành cho ngành da giầy cha nhiều và cũng cha mang lại hiệu quả cao.
Bớc sang năm 2005, ngành giầy dép nớc ta sẽ tiếp tục có những điều kiện
thuận lợi để duy trì và đẩy mạnh đà tăng trởng hiện nay.
- Thứ nhất, nhu cầu tiêu thụ giầy dép, cặp túi xách trong nớc và trên thế
giới vẫn tiếp tục tăng trong những năm tới. Mức tiêu thụ giầy dép, cặp túi xách
của các nớc Châu Âu trong năm 2004 ớc đạt 1,135 tỷ đôi trong khi nhu cầu tiêu
thụ vào khoảng 2,41 tỷ đôi. Nhập khẩu ròng giầy dép của Châu Âu dự báo sẽ tiếp
tục tăng nhẹ, đạt mức khoảng 1,1 tỷ - 1,2 tỷ đôi. Cũng giống nh các nớc Châu
ờng nớc ta. Do đó, ngành da giầy sẽ đợc chú trọng đầu t hơn nữa nhằm mang lại
hiệu quả hơn, tạo ra sức cạnh tranh mạnh hơn theo chiến lợc tăng trởng tập trung
đến năm 2020.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi trên, ngành giầy dép Việt Nam vẫn
tiếp tục phải đối mặt với những trở ngại đáng kể. Thứ nhất, cha chủ động đợc
nguồn nguyên liệu cho sản xuất. Thứ hai, công nghệ sản xuất cha hiện đại và còn
phụ thuộc vào nớc ngoài. Và bài toán nan giải đối với ngành giầy dép là xây
22
dựng thơng hiệu. Đã có nhiều bài học về sự thất bại do không có thơng hiệu. Đầu
tiên, trong những năm 50-60 Trung tâm sản xuất giầy dép lớn nhất và các nhãn
hiệu giầy nổi tiếng của thế giới đợc đặt tại Italia, những năm 70 lại chuyển sang
Nhật Bản, những năm 80 ở Đài Loan và Hàn Quốc. Cho đến khi các nớc này
hiểu ra vấn đề thì mọi sự đã rồi. Ngành giầy dép các nớc này đã rơi vào tình
trạng vô phơng cứu chữa. Tất cả các hãng nổi tiếng đã dời bỏ sang các nớc khác.
Trớc những khó khăn trên, để tiếp tục đạt đợc tốc độ tăng trởng tốt, trớc
hết ngành da giầy nớc ta cần phải đầu t mạnh cho việc đào tạo đội ngũ cán bộ
thiết kế, cải tiến kỹ thuật nhằm áp dụng những công nghệ hiện đại nhất vào sản
xuất để tăng năng suất lao động, đồng thời tạo ra những sản phẩm có chất lợng
tốt. Bên cạnh đó cần giảm thiểu mọi chi phí sản xuất khác có liên quan. Có nh
vậy mới tạo đợc sự cạnh tranh về giá cả hàng hoá. Ngoài ra, cần tiếp tục duy trì
các thị trờng truyền thống và tích cực thâm nhập thị trờng mới. Vấn đề then chốt
cuối cùng là mỗi doanh nghiệp từng bớc xây dựng thơng hiệu cho sản phẩm của
mình, góp phần mang lại hiệu quả và sự phát triển bền vững cho toàn ngành da
giầy Việt Nam.
23
Chơng II
Mô hình hàm sản xuất biên ngẫu nhiên đánh giá các
nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kỹ thuật
của một ngành sản xuất
1. Mô tả hiệu quả kỹ thuật và những nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kỹ thuật
dụ
ng
Một doanh nghiệp đang hoạt động tại điểm A là không hiệu quả bởi vì xét
về mặt công nghệ doanh nghiệp có thể tăng sản lợng đến mức tơng đơng với
điểm B trên đồ thị mà không cần có thêm đầu vào ( hoặc có thể sản xuất ra một
mức sản lợng nh vậy nhng cần ít đầu vào hơn tại điểm C trên đờng giới hạn).
Khoảng cách từ điểm sản xuất của doanh nghiệp đến đờng giới hạn khả năng sản
xuất phản ánh mức độ không hiệu quả của doanh nghiệp.
Một thớc đo cơ bản đối với hoạt động của một xí nghiệp là năng suất yếu
tố. Đây là tỷ lệ của đầu ra trên đầu vào. Tỷ lệ này càng lớn nghĩa là sản xuất của
doanh nghiệp càng có hiệu quả. Đồ thị 1 cũng cho thấy sự khác biệt giữa hiệu
quả kỹ thuật và năng suất yếu tố. Đờng thẳng đi qua gốc toạ độ cho biết năng
suất yếu tố tại mỗi đầu vào của doanh nghiệp. Độ dốc của đờng này là Y/X cho
biết năng suất của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đang sản xuất tại điểm A
dịch chuyển đến điểm hiệu quả B, đờng năng suất đó sẽ dốc lên, điều này ngụ ý
rằng năng suất sẽ cao hơn tại điểm B. Tuy nhiên nếu nh bằng cách dịch chuyển
đến điểm C, đờng năng suất sẽ tiếp xúc với đờng giới hạn cho biết mức năng suất
tối đa có thể đạt đợc. Điểm C là điểm quy mô sản xuất tối u. Doanh nghiệp tuy
đã đạt đợc hiệu quả về mặt công nghệ nhng vẫn có thể tăng năng suất bằng cách
khai thác hiệu quả theo quy mô. Tóm lại, hiệu quả kỹ thuật và năng suất yếu tố
có ý nghĩa tơng ứng về mặt ngắn hạn và dài hạn bởi vì việc gia tăng quy mô sản
xuất của một doanh nghiệp chỉ có thể đạt đợc trong dài hạn.
1.2 Những nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kỹ thuật
của một ngành sản xuất
Tính phi hiệu quả sản xuất ở các doanh nghiệp không chỉ bắt nguồn từ
những yếu tố môi trờng, chẳng hạn môi trờng kinh doanh không hấp dẫn và một
khu vực tài chính yếu kém mà còn bắt nguồn từ các yếu tố xuất phát từ bản thân
các doanh nghiệp nh qui mô không phù hợp, không đầu t cho các hoạt động
nghiên cứu và phát triển, phơng thức quản lý yếu kém, thiếu yếu tố cạnh tranh
trong và ngoài nớc. Trong điều kiện từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung