Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính câp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việt Nam đã chính thức là một thành viên của Tổ chức thương mại thế
giới WTO, kinh tế nước nhà đang trong quá trình hội nhập đó là cơ hội cho
ngành ngân hàng trong nước phát triển mạnh mẽ nhưng cũng mang đến rất
nhiều thách thức với hệ thống NHTM Việt Nam, tính cạnh tranh ngày càng
gắt gao do vậy để nâng cao năng lực cạnh tranh thì ngân hàng phải có hệ
thống quản trị rủi ro có hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong
kinh doanh là không tránh khỏi, mà đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng có phản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện
phức tạp. Trong đó, ban lãnh đạo ngân hàng đặc biệt quan tâm tới là rủi ro tín
dụng vì nó là nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng,
mang lại 80% đến 90% thu nhập cho ngân hàng, tuy nhiên nó cũng là lĩnh vực
kinh doanh tiềm ẩn rủi ro nhất trong các hoạt động của ngân hàng.
Trong thời gian thực tập tại Chi nhánh HDBank Hà Nội, em thấy chi nhánh
đã rất chú trọng vào việc triển khai, thực hiện khá tốt công tác quản lý rủi ro tín
dụng trong ngân hàng, kinh doanh đạt kết quả tốt nhưng để Chinh nhánh phát
triển hơn, đạt được mục tiêu đề ra thì Chi nhánh cần nghiên cứu, tìm ra giải pháp
để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng một cách hiệu quả nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em đã chọn đề tài “Giải
pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ
phần phát triển Thành phố Hồ Chí Minh – Chi nhánh Hà Nội” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro của một số ngân hàng trong nước
và thế giới.
Nguyễn Thị Thu Hương 1 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh HDBank –
Hà Nội.
tín dụng, vì vậy tùy theo góc độ nghiên cứu mà ta có thể xác định nội dung
của thuật ngữ này. Xét trong quan hệ tài chính, chúng ta có thể hiểu khái quát
tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một giá trị (tài sản ) từ người sở hữu
sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, khi đến hạn, người
sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Như vậy, phạm trù
tín dụng có 3 nội dung chính là: tính chuyển nhựng tạm thời một lượng giá trị,
tính thời hạn và tính hoàn trả.
Tín dụng có nhiều loại như tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp,
tín dụng cá nhân và tín dụng ngân hàng. Trong đó, tín dụng ngân hàng là quan
hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền
kinh tế và ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay (con nợ) vừa là người
cho vay (chủ nợ).
Từ phân tích trên chúng ta đi đến khái niệm: Tín dụng ngân hàng là việc
ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản ( bằng tiền, tài sản
thực hay uy tín ) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay,
chiết khấu , cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
1.1.2 Những đặc điểm của tín dụng ngân hàng
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp
tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đich ,
Nguyễn Thị Thu Hương 3 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ ( gốc và lãi ) đúng hạn ,còn người đi vay
thì tin tưởng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi vay.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời
hạn. Nó là kết quả của sự thỏa thuận giữa các đối tác tham gia vào quá trình
chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp thời gian nhàn rỗi và thời gian sử
dụng lượng giá trị đó. Sự thiếu phù hợp về thời gian chuyển nhượng có thể
ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên
thậm chí có thể dẫn đến sự phá hủy quan hệ tín dụng. Thực chất trong quan hệ
tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng thì có sự chuyển nhượng
trưởng, tạo công ăn việc làm, năng suất lao động cao.
Thứ ba, thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào các ngành nghề, khu
vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy phát triển của các ngành nghề đó, hình
thành cơ cấu hiện đại hợp lý và hiệu quả.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ , hàng hóa,
điều tiết thị trường, kiểm soát giá trị đồng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng
giao lưu kinh tế giữa các nước.
Thứ năm, tín dụng ngân hàng mang lại nguồn thu lớn cho NSNN
thông qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác đầu tư vốn của chính phủ
Thứ sáu, tín dụng ngân hàng là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà
nước đến nông nghiệp , nông thôn và, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định
chính trị, xã hội.
b. Đối với khách hàng
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của
khách hàng cả về số lượng và chất lượng.
Nguyễn Thị Thu Hương 5 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Thứ hai, tín dụng ngân hàng giúp nhà đầu tư nắm bắt được những
cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất , các cá nhân
có đủ năng lực tài chính để trang trải các khoản chi tiêu, nâng cao chất
lượng cuộc sống…
Thứ ba, tín dụng ngân hàng ràng buộc khách hàng phải có nghĩa vụ
hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn như thỏa thuận. Do đó khách hàng phải sử
dụng đúng mục đích vốn vay, tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn
vay có hiệu quả, đẩy mạnh quá trình sản xuất, đem lại lợi nhuận cho doanh
nghiệp và trả nợ ngân hàng.
c. Đối với ngân hàng
Thứ nhất, tín dụng là hoạt động truyền thống của ngân hàng, chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu
cho ngân hàng (từ 70% đến 90%). Mặc dù tỷ trọng của hoạt động tín dụng
lựa chọn
Rủi ro tín
dụng
Rủi ro giao
dịch
Rủi do danh
mục
Rủi ro
bảo đảm
Rủi ro
nghiệp vụ
Rủi ro
nội tại
Rủi ro
tập trung
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
a.Rủi ro giao dịch
Là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là những
hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch bao gồm ba bộ phận chính đó là : rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo
đảm và rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình phân tích và
đánh giá tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu
quả để ra quyết định cho vay.
Rủi ro đảm bảo: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như
các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm
bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý tài khoản
vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro
và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
vay thì nợ quá hạn cho phép tối đa chỉ là 3 đồng.
Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là khoản tín dụng không hoàn trả
đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để gia hạn nợ. Để đảm bảo
quản lý một cách chặt chẽ các khoản nợ quá hạn trong hệ thống NHTM Việt
Nam, các khoản nợ được phân loại theo thời gian.
d. Tỷ lệ tổng dư nợ quá hạn.
Tổng dư nợ có nợ quá hạn
Tỷ lệ tổng dư nợ có nợ quá hạn = X
100%
Tổng dư nợ
Nguyễn Thị Thu Hương 9 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Do chỉ tiêu “tổng dư nợ có nợ quá hạn” bao gồm toàn bộ dư nợ có nợ
quá hạn của một khách hàng ( kể cả đến hạn và chưa đến hạn) kể từ khi xuất
hiện món nợ đầu tiên quá hạn nên nó phản ánh chính xác hơn mức đọ rủi ro
( chất lượng) tín dụng của ngân hàng
e. Tỷ trọng nợ xấu /Tổng dư nợ
Để hình thành chỉ tiêu nợ xấu, chúng ta tiến hành phân loại nợ của
NHTM thành 5 nhóm:
Nhóm 1 : Nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm:
Các khoản nợ trong hạn và các TCTD đánh giá có khả năng thu hồi cả
gốc và lãi đúng hạn.
Các khoản nợ dưới 10 ngày và TCTD đánh giá có khả năng thu hồi đầy
đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
Nhóm 2: Nợ cần chú ý bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày.
Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không có khả
năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm:
khoản cho vay có mức đọ rủi ro thấp nhưng thường mang lại lợi nhuận không
cao cho ngân hàng và chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ.
• Nhóm dư nợ của khoản mục tín dụng có chất lượng trung bình: Là các
khoản cho vay có mức đọ rủi ro có thể chấp nhận được và mang lại lợi nhuận
vừa phải cho ngân hàng và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng dư nợ
• Nhóm dư nợ của khoản mục tín dụng có chất lượng thấp: Là các khoản
cho vay có mức đọ rủi ro cao, mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng và chiếm
tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ.
Nguyễn Thị Thu Hương 11 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
1.2.1.4 Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Trong các dấu hiệu báo động RRTD thì có dấu hiệu biểu hiện mờ nhạt,
có đấu hiện biểu hiện rõ ràng. Điều quan trọng là ngân hàng phải có cách để
nhận ra những đấu hiệu ban đầu của những khoản vay có vấn đề đó,đồng thời
có những hành động cần thiết để ngăn ngừa hoặc xử lý.
Những dấu hiệu này không phải nhận ra trong một thời điểm mà phải
qua một quy trình, Do đó , cán bộ tín dụng cần biết cách nhận biết chúng một
cách có hệ thống, Các đấu hiệu tín dụng được sắp xếp theo nhóm sau:
Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu lien quan đến mối quan hê với ngân hàng
Trong quá trình hoạch toán của ngân hàng xu hướng của các tài khoản
của khách hàng qua một quá trình xẽ cung cấp cho ngân hàng một số đấu hiệu
đặc biretj quan trọng như: khó khăn trong thanh toán lương, giảm sút số dư tài
khoản tiền gửi, thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động, gia tăng
khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn…
Trong hoạt động cho vay thì mức đọ vay thường xuyên gia tăng, chậm
thanh toán khoản nợ gốc và lãi, thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo
hạn, yêu cầu các khoản vay vượt quá dự kiến.
Trong các hoạt động tài chính thì khách hàng thường xuyên xử dụng các
khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động dài hạn, chấp nhận xử dụng các
nguồn tài trợ đắt, hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu có biểu
1.2.1.5 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Có ba nhóm nguyên nhân cơ bản gây nên RRTD, đó là nguyên nhân
khách quan từ bên ngoài, nguyên nhân từ phía khách hàng và nguyên nhân từ
chính ngân hàng tạo nên.
a. Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài
Rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng thuộc về thiên nhiên
Nguyễn Thị Thu Hương 13 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Thiên tai, bệnh dịch, lũ lụt, hạn hán, chiến tranh… gây ra các biến động
xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng.
Môi trường kinh tế
Bao gồm các yếu tố như các giai đoạn của chu kỳ kinh tế (phát triển,
hưng thịnh, khủng hoảng, suy thoái), sự thay đổi của cơ chế chính sách kinh
tế, lãi suất, tỷ giá, CPI…
Sự biến động mang tính chu kỳ của nền kinh tế: bất kỳ nền kinh tế nào
cũng có chu kỳ phát triền theo một ngưỡng nhát định.
Trong thời kỳ phát triền và hưng thịnh, hoạt động kinh doanh thuận lợi,
xác suất dẫn đến rủi ro vỡ nợ và rủi ro không trả được nợ thấp hơn, do đó hoạt
động tín dụng khá an toàn. Còn trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, sản xất
bị đình trệ, ứ đọng vốn dẫn đến khả năng tài chính của khách hàng gặp khó
khăn, khả năng trả nợ của khách hàng thấp nên các khoản tín dụng gặp rủi ro
gia tăng.
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển quá nóng, NHNN áp dụng chính
sách tiền tệ thắt chặt, lãi xuất thị trường tăng, doanh nghiệp phải đi vay với lãi
suất cao làm chi phí tài chính của doanh nghiệp tăng, trong khi đó, doanh thu
của doanh nghiệp vẫn chưa tăng lên được, làm lợi nhuận cho doanh nghiệp
giảm sút, rủi ro tín dụng gia tăng.
Môi trường chính trị - pháp luật
Nếu một nền kinh tế có nền chính trị bất ổn định, thường xuyên xảy ra
các cuộc bạo động, tranh chấp giữa các đảng phái thì việc kinh doanh, đầu tư
đó làm cho mức cầu sản phẩm trên thị trường nhỏ hơn so với mức cung.
Các nguyên nhân khác như: có quá nhiều doanh nghiệp cạnh tranh, thị
hiếu thay đổi hay không có sản phẩm mới thay thế…
Nguyễn Thị Thu Hương 15 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Tất cả các nguyên nhân trên làm cho sản phẩm của doanh nghiệp tiêu
thụ kém và gây khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng.
Khách hàng sử dụng vốn sau mục đích, do đó mất vốn hoặc hiệu quả
đầu tư thấp dẫn đến không trả được nợ
Người lãnh đạo doanh nghiệp thiếu năng lực và thiếu trình độ chuyên
môn trong kinh doanh hay không có kinh nghiệm dẫn tới tổ chức điều hành,
quản lý yếu kém, hiệu quả sử dụng vốn giảm, khả năng trả nợ của doanh
nghiệp giảm.
Trên thực tế, 30% doanh nghiệp phá sản là do khả năng điều hành của
lãnh đạo doanh nghiệp yếu kém.
So sự thay đổi nhân sự hay thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp.
Sự thay đổi đội ngũ chủ chốt doanh nghiệp làm cho bọ máy
hoatjdodongj của doanh nghiệp không đồng bộ, hiệu quả sản xuất không cao,
giảm số lượng sản phẩm sản xuất ra, do đó doanh nghiệp không đạt được lợi
nhuận dự kiến hoặc xấu hơn là thua lỗ.
Do tình trạng gian lận, tham nhũng diến ra trong nội bộ doanh nghiệp.
c. Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Theo đánh giá của quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì 50% ngân hàng phá sản
trên thế giới là do năng lực quản lý yếu kém của chính bản thân ngân hàng.
Nguyên nhân cụ thể như sau:
Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản
trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro
tín dụng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ. Đối với cho vay doanh
nghiệp nhỏ và cá nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa trên
kinh nghiệm, áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng chưa hiệu quả.
Nguyễn Thị Thu Hương 17 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Ở mức cao hơn nữa, lợi nhuận không đủ bù đắp thì phải dùng tới vốn tự
có, điều này dẫn đến làm giảm vốn tự có của ngân hàng, ảnh hưởng tới quy
mô hoạt động của ngân hàng.
b. Đối với nền kinh tế, xã hội
Khi rủi ro tín dụng xảy ra ở mức độ vừa phải thì không chỉ ngân hàng
chịu ảnh hưởng mà người đi vay bị làm ăn thua lỗ, phải phá sản ảnh hưởng tới
lợi ích kinh tế - xã hội dự tính, nạn thất nghiệp tăng lên, ảnh hưởng tới người
gửi tiền không được bảo đảm như trước nữa làm cho nguồn vốn ngân hàng
giảm dẫn đến ảnh hưởng xấu về đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh trong
nền kinh tế.
Có thể nói ngân hàng là một mấu chốt vô cùng quan trọng trong nền kinh
tế vì mọi hoạt động kinh doanh đều thông qua ngân hàng dưới nhiều hình
thức cả trong và ngoài nước, và dù là có những ngân hàng khác nhau nhưng
giữa các ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ, gắn kết với nhau không thể thiếu
được tạo thành một hệ thống liên kết với nhau không tách rời.
Vì vậy khi rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra nguy cơ làm ngân
hàng đó đổ vỡ sẽ làm ảnh hưởng dây chuyền đến ngân hàng khác, mà hầu hết
các chủ thể kinh tế đều liên quan chặt chẽ đến các ngân hàng sẽ làm rối loạn
toàn bộ nền kinh tế, như vậy rủi ro tín dụng ở mức lớn là một trong những
nguyên nhân làm khủng hoảng kinh tế, đưa kinh tế lùi lại sau mấy chục năm.
c. Đối với người đi vay
Đối với người đi vay, khi rủi ro tín dụng xảy ra thì các chủ thể kinh tế
chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân hàng sẽ bị giảm hoặc mất nguốn vốn đầu tư
và mở rộng quy mô, nhất là ảnh thưởng tới tính liên tục của quá trình sản xuất
có thể gây đến phá sản doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Thu Hương 18 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Đối với chủ thể kinh doanh gây ra RRTD thì mất đi hẳn nguồn vốn từ
mắc khi xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vay. Đặc biệt chú trọng thực hiện
các giải pháp thu hồi nợ vay, nâng cao chất lượng tín dụng không để nợ xấu
gia tăng.
b. Phải tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các nguyên tắc, thủ
tục cho vay và cấp tín dụng khác, tránh xảy ra sự cố gây thất thoát tài sản, sắp
xếp lại tổ chức bộ máy, tăng cường công tác đàotạo cán bộ để đáp ứng yêu
cầu kinh doanh ngân hàng trong điều kiện hội nhập quốc tế.
c. Thực hiện chính sách quản lý tín dụng, mô hình giám sát RRTD,
phương pháp xác định và đo lường RRTD có hiệu quả, trong đó bao gồm
cách thức đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, hợp đồng tín dụng, các tài
sản đảm bảo, khả năng thu hồi nợ và quản lý nợ của tổ chức tín dụng.
d. Thực hiện các quy định đảm bảo kiểm soát rủi ro và an toàn hoạt động
tín dụng.
Xây dựng và thực hiện đồng bộ một hệ thống cụ thể, quy tình nội bồ về
quản lý rủi ro, tỏng đó đặc biệt chú trọng xây dựng chính sách khách hàng
vay vốn, sổ tay tín dụng, quy định về đánh giá, xếp hạng khách hàng vay,
đánh giá chất lượng tín dụng, và xử lý khoản nợ xấu.
Mở rộng tín dụng trung và dài hạn ở mức thích hợp, đảm bảo cân đối
thời hạn cho vay đối với thời hạn của nguồn vốn huy động.
Thực hiện đúng quy định về giới hạn cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài
chính, chiết khấu, bao thanh toán đối với một khách hàng và cac tỷ lệ an toàn
trong kinh doanh.
e. thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ
Nguyễn Thị Thu Hương 20 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
1.2.3.2 Nhóm giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng của NHTM
a. Phải có một chính sách tín dụng thích hợp và duy trì các khoản dự
phòng để đối phó với rủi ro.
b. Đối với các trường hợp chây ỳ nhận nợ và trả nợ vay thì ngân hàng
cần áp dụng các biện pháp tiên quyết, dùng pháp luật để thu hồi nợ vay, kể cả
Hội đồng quản
lý RR
Hội đồng thẩm
định RR
Hội đồng điều
hành
Hội đồng tín
dụng
Hội đồng
chuyên viên
Các giao dịch
ngoại tệ
Tài khoản tín
thác
Rui ro tín dụng
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
năng chịu đựng (stress testing), trắc nghiệm mô hình toán VAR (value at risk)
cho cả danh mục tín dụng.
Tính toán tài sản có đo lường theo mức độ rủi ro căn cứ vào tiêu
chuẩn BIS 1998
Tính lỗ dự kiến (E/L) cho các chỉ số hoạt động cơ bản, cho chính
sách định giá khoản vay và cho giá trị chịu rủi ro (VAR)
Phân tích rủi ro theo ngành kinh doanh, theo các xếp hạng tín dụng.
Chuẩn bị báo cáo gồm 20 báo cáo liên quan tới bộ phận khác.
Tại các đơn vị phụ thuộc cũng tiến hành phân tích rủi ro theo định kỳ
hàng tháng. Phương pháp đo lường tại các đơn vị này được xác định bằng cách
tính tài sản có rủi ro theo BIS và mô hình Telit (Tổng hợp giới hạn rủi ro).
Đối với mỗi khoản cấp tín dụng, cán bộ tín dụng phải lượng hóa được rủi
ro thông qua mo hình chất lượng (6C) đó là:
• Character: Từ cách người vay vốn trên cơ sở mục đích xin vay và
những người chuyên nghiệp, có kinh nghiệm để thành công trong việc phỏng
vấn ban lãnh đạo doanh nghiệp và điều quan trọng là có khả năng đưa ra
những đánh giá chính xác sau mỗi cuộc phỏng vấn.
• Thứ ba, xác định rõ nhiệm vụ của cơ quan thông tin tín dụng là: Thu
thập thông tin đảm bảo trung thực, chính xác và nhanh chóng. Đảm bảo tính
khách quan trong quá trình điều tra và sử dụng. Bảo vệ quyền lợi của người
cho thông tin và người mua tin. Tôn trọng và giữ bí mật nguồn cung cấp
thông tin.
• Thứ tư, cách thức sử dụng thông tin như sau: Trước hết phải kiểm tra
tính xác thực của thông tin, sau đó qua phân tích tình hình tài chính của doanh
Nguyễn Thị Thu Hương 24 Lớp: VBII-8A1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
nghiệp. Theo đó, phải xem xét quá trình phát triển và mối quan hệ qua lại với
các nhà cung cấp, tiêu thụ hàng hóa, từ đó phân tích những thông tin đã có rồi
tiến hành phân hạng rủi ro tín dụng.
1.3.1.3 Kinh nghiệm của các ngân hàng Thái Lan
Hệ thống ngân hàng Thái lan có bề dày hoạt động hàng trăm năm nhưng
đứng trước nguy cơ khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 – 1998
đã bị chao đảo, nhiều công ty tài chính và ngân hàng bị phá sản hoặc buộc
phải sáp nhập lại. Tình hình đó buộc các ngân hàng Thái Lan phải xem xét
toàn bộ chính sách, cách thức, quy trình hoạt động của ngân hàng, trong đó
đặc biệt là lĩnh vực tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro…Đi đôi với việc đa dạng
hóa các sản phầm tín dụng và dịch vụ, xác định khách hàng, mục tiêu, chủ
động tiếp thị khách hàng… một loạt thay đổi trong tín dụng đã được các ngân
hàng Thái Lan triển khai nhanh chóng và triệt để.
Tại Bangkok bank nếu trước đây các bộ phận trong quy trình tín dụng
gộp làm một thì nay đã tách hẳn thành hai bộ phận độc lập với nhau: Bộ phận
tiếp thị và giải quyết hồ sơ và bộ phận thẩm định. Trong đó, bộ phận tín dụng
phải có các báo cáo thẩm định tín dụng, gồm: chiến lược và kế hoạch kinh
doanh, báo cáo xếp hạng rủi ro… Đây là thay đổi căn bản của Bangkok bank