Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NH :Ngân hàng
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DN :Doanh nghiệp
TSCĐ :Tài sản cố định
TSĐB :Tài sản đảm bảo
VPBANK :Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng
DPRR :Dự phòng rủi ro
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
Chuyên đề tốt nghiệp
Học viện Ngân hàng
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ NGÂN HÀNG 3
THƯƠNG MẠI 3
1.1. Những vấn đề cơ bản về NHTM 3
1.1.1. Khái niệm NHTM 3
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHTM 4
1.2. Hoạt động n dụng trung dài hạn tại NHTM 6
1.2.1. Khái niệm 6
1.2.2. Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn 7
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
những thách thức như vậy, Hội đồng quản trị VPBank nhiệm kỳ 2010- 2014 xác
định rằng bên cạnh những nỗ lực để hoạt động Ngân hàng được ổn định và an toàn,
VPBank cũng phải đặt ra mục tiêu lớn cho mình đó là phải thay đổi quyết liệt cạnh
tranh và cạnh tranh thắng lợi: trở thành đối tác tài chính được lựa chọn và đáng tin
cậy nhất của các khách hàng, trở thành nơi đầu tư mang lại lợi ích hấp dẫn, lâu dài
với các cổ đông và trở thành môi trường làm việc đáng mơ ước đối với các cán bộ
nhân viên Ngân hàng.
Tuy mới được thành lâp và đi vào hoạt động từ tháng 5 năm 2007 đến nay
nhưng Chi nhánh NH VPBank chi nhánh Tôn Đức Thắng đã đạt được nhiều kết quả
đáng khích lệ. Dư nợ tín dụng trung dài hạn tại NH chiếm tỷ trọng khá lớn trong
tổng dư nợ.Tuy nhiên so với nhu cầu tín dụng trung dài hạn của các DN, nguồn vốn
huy động được thì cho vay trung dài hạn của NH chưa thực sự tương xứng với tiềm
năng. Bên cạnh đó chất lượng của tín dụng trung dài hạn cũng cần xem xét đến
cùng với sự tăng trưởng của quy mô tín dụng. Qua thời gian tìm hiểu về NH, cùng
những kiến thức được học tại nhà trường, đọc được qua sách báo và sự giúp đỡ của
các anh chị cán bộ trong NH. Nhận thức thấy vai trò của tín dụng trung dài hạn nên
tôi đã chọn đề tài: ‘‘Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại
Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng - Chi nhánh Tôn Đức Thắng’’.
2. Mục đích nghiên cứu
+ Hệ thống hóa vấn đề lý luận về tín dụng, vấn đề về tín dụng trung và dài hạn
trong hoạt động ngân hàng.
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
+ Phân tích, đánh giá thực trạng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Việt
Nam Thinh Vượng - Chi nhánh Tôn Đức Thắng.
+ Đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường nâng cao nhất lượng tín dụng
trung và dài hạn tại Ngân hàng Việt Nam Thinh Vượng - Chi nhánh Tôn Đức Thắng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Ngân hàng, và việc phân biệt nó với những tổ chức phi NH khác không phải là điều
đơn giản. Rõ ràng, chúng ta có thể định nghĩa Ngân hàng thông qua những chức năng
mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề là không chỉ chức năng của
các NH thay đổi mà còn có sựthâm nhập vào chức năng hoạt động NH của các đối thủ
cạnh tranh. Do đó tùy theo điều kiện và sự phát triển của hệ thống tài chính của mỗi
nước khác nhau mà đã có những định nghĩa khác nhau về NH.
Theo pháp luật Mỹ thì: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp
dịch vụ tài chính và hoạt động trong nghành công nghiệp dịch vụ tài chính. Theo
luật NH Pháp thì: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường xuyên nhận
của công chúng dưới hình thức ký thác, hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho
chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay cho dịch vụ tài chính.
Đó là các quan niệm về NHTM đứng trên giác độ pháp luật của mỗi nước
cònnếu đứng trên giác độ tài chính ngân hàng thì sao? Theo quan điểm của các nhà
kinh tế học trên thế giới thì NHTM là một doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh
trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Một định nghĩa khác về NHTM được giáo sư
Peter Rose đưa ra như sau: “NH là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ
thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức
kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng ở Việt Nam: “NH là loại hình tổ
chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
3
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
khác có liên quan”. Hoạt động NH là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng
và cung ứng dịch vụ thanh toán.
Như vậy thông qua một số khái niệm về NHTM, chúng ta có thể hiểu NHTM
là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng với mục
khác hoặc vay trên thị trường vốn… nguồn vốn này sẽ đáp ứng được kịp thời và
giúp cho hoạt động của NH diễn ra một cách liên tục.
Điều kiện để NH thực hiện được hoạt động huy động vốn là NH đó phải có
một lượng vốn tự có nhất định theo quy định của NHNN, nó là điều kiện bắt buộc
để NH có giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi huy động những khoản tiền gửi
đầu tiên. Vốn tự có còn giúp cho NH chống lại rủi ro phá sản và bù đắp được vào
những thua lỗ tạm thời về tài chính, tạo niềm tin cho khách hàng về sức mạnh tài
chính của NH.
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Sau khi tiến hành huy động vốn thì NH sẽ dùng lượng vốn đó đầu tư vào các
khoản mục tài sản khác nhau, nhằm đạt được những mục tiêu mà mỗi NH đã đề ra.
Nhìn chung NH sử dụngnó vào các hoạt động cho vay và đầu tư bao gồm hoạt động
ngân quỹ, hoạt động cho vay, hoạt động đầu tư chứng khoán.
Hoạt động ngân quỹ để bảo đảm khả năng thanh toán liên tục của NH cho
khách hàng.Đây là tài sản không sinh lời hoặc có sinh lời thấp nhưng tính lỏng cao
được coi như tiền mặt.Vì thế mà NH phải duy trì lượng tiền mặt ở một mức độ hợp
lý sao cho đảm bảo được tính thanh khoản và tính sinh lời.
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất, sinh lời chủ yếu của NH, có
thể nói nó quyết định sự thành - bại của NH.Vì thế mà đây cũng chính là hoạt động
chứa đựng nhiều rủi ro nhất cho nên NH phải quản lý tiền cho vay một cách chặt
chẽ, đặc biệt là các món vay lớn thời gian dài.
Ngoài ra, NH còn sử dụng vốn vào hoạt động đầu tư chứng khoán trên thị
trường để thu lợi nhuận và góp phần vào đảm bảo khả năng thanh toán của NH.
1.1.2.3. Hoạt động trung gian
Hoạt động trung gian của NH là hoạt động cung cấp cho khách hàng của mình
một loạt các dịch vụ liên quan như: Chuyển tiền, thanh toán hộ khách hàng thông qua
hình thức ghi chép trên tài khoản của khách hàng tại NH, phát hành séc, ủy nhiệm thu -
chi, thư tín dụng, môi giới mua bán chứng khoán, quản lý hộ tài sản, tư vấn… và qua
các hoạt động đó NH sẽ nhận được một khoản thu dưới hình thức hoa hồng.
Ngày nay xu hướng của các NH là hoạt động trên nhiều lĩnh vực với nhiều
Trong quan hệ tín dụng NH tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô
điều kiện.Trên khía cạnh pháp lý thì những văn bản xác định quan hệ tín dụng như
hợp đồng tín dụng, khế ước… thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết
hoàn trả vô điều kiện cho bên vay khi đến hạn thanh toán.
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
6
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Dựa vào các tiêu thức khác nhau chúng ta có thể phân chia tín dụng thành các
loại như sau:
-Căn cứ theo mục đích sử dụng: Cho vay được phân biệt dựa vào mục đích sử
dụng vốn vay để làm gì, ví dụ: cho vay mua sắm bất động sản, cho vay phục vụ cho
lĩnh vực công nghiệp và thương mại, cho vay nông nghiệp…
- Căn cứ theo thời hạn cho vay: Cho vay theo thời hạn là việc cấp tín dụng dựa
vào thời hạn của khoản vay, gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn.
- Căn cứ theo sự tín nhiệm đối với khách hàng: Theo hình thức này tín dụng
được phân chia dựa vào tiêu thức khả năng bảo đảm hoàn trả cả gốc và lãi đối với
khoản vay, gồm có cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm hoặc cho vay
có sự bảo lãnh của bên thứ ba.
- Căn cứ theo xuất xứ tín dụng: Tín dụng được cấp dựa vào sự tiếp xúc trực
tiếp hay không trực tiếp giữa người cho vay và người đi vay, gồm có cho vay trực
tiếp và cho vay gián tiếp.
- Căn cứ theo phương thức hoàn trả: Cho vay có thời hạn, cho vay không có
thời hạn…
1.2.1.2. Khái niệm tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung dài hạn là một bộ phận của tín dụng NH, nó là hình thức tín
dụng phân theo thời hạn.
Theo quy định hiện nay của NHNN Việt Nam thì cho vay trung hạn có thời
hạn trên 12 tháng đến 60 tháng, nó được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư phát
triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống.
hạn và cả chi phí bù đắp rủi ro.
1.2.3. Phân loại tín dụng trung dài hạn
Dưới đây là một số cách thức phân loại tín dụng trung dài hạn mà theo từng
điều kiện cụ thể mỗi NH có thể phân chia theo những tiêu thức khác nhau phục vụ
cho hoạt động của NH.
1.2.3.1. Căn cứ vào đồng tiền cho vay
Tín dụng trung dài hạn bằng bản tệ: Là việc cho vay bằng đồng nội tệ.
Tín dụng trung dài hạn bằng ngoại tệ: Nhằm cấp tín dụng cho người đi vay có
nhu cầu thanh toán các công trình xây dựng cơ bản, các khoản chi phí có liên quan
đến nước ngoài bằng đồng ngoại tệ.
1.2.3.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng
Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho tiêu dùng : Là loại tín dụng cấp cho các cá
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
8
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
nhân để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, các phương tiện sinh
hoạt…
Tín dụng trung dài hạn phục vụ sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụng cấp cho các
tổ chức kinh tế để tiến hành sản xuất kinh doanh và thực hiện lưu thông hàng hóa.
Tín dụng trung dài hạn có đảm bảo: Là loại tín dụng khi cho vay bên cho vay
đòi hỏi người đi vay phải có tài sản đảm bảo.
Tín dụng trung dài hạn không có đảm bảo: Là loại tín dụng mà khi cho vay
bên cho vay không đòi hỏi người đi vay phải có tài sản đảm bảo, việc cho vay được
tiến hành trên cơ sở lòng tin và uy tín của bản thân khách hàng với NH.
1.2.3.4. Căn cứ vào cách thức hoàn trả
Tín dụng trung dài hạn có kì hạn trả nợ đều nhau theo tháng, theo quý hoặc
theo năm: Là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kì
tùy thuộc vào thỏa thuận giữa khách hàng và NH.
Tín dụng trung dài hạn có kì hạn trả nợ một lần: Là loại tín dụng mà bên vay
tắc tín dụng để hướng các doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích có hiệu quả,
đôn đốc khách hàng vay vốn trả lãi và gốc đúng hạn như thỏa thuận đã ký trong hợp
đồng tín dụng. Vốn vay NH phải chịu những điều kiện ràng buộc về lãi suất, thời
hạn và mục đích sử dụng tiền vay nên các doanh nghiệp vay vốn cần phải có sự tính
toán về chi phí sản xuất hợp lý, tốc độ vòng quay vốn nhanh để đảm bảo trả nợ NH
đúng hạn và có lợi nhuận giữ lại. Mặt khác trong quá trình kiểm tra giám sát sử
dụng vốn vay, NH sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện những nhược điểm sai sót từ đó
tìm ra biện pháp khắc phục kịp thời nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra đối với doanh
nghiệp cũng như rủi ro liên quan đối với NHTM. Có thể nói rằng tín dụng NH đã
ràng buộc trách nhiệm giữa NHTM và người sử dụng vốn, từ đó nâng cao năng lực
quản lý vốn và quá trình sản xuất kinh doanh. Đó chính là việc giúp cho nguồn vốn
đầu tư đem lại hiệu quả hơn.
- Tạo điều kiện về vốn cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng
thị trường.
Mục tiêu hàng đầu của bất cứ doanh nghiệp nào là cũng muốn mở rộng thị
trường hoạt động của mình và nếu vậy phải mở rộng sản xuất.Tuy nhiên việc mở
rộng sản xuất không phải là hoạt động mà doanh nghiệp có thể tiến hành bất cứ lúc
nào, đó là hoạt động lâu dài và cần có nguồn vốn dài hạn.Nhưng không phải doanh
nghiệp nào cũng đủ vốn để tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh, do vậy mà nhu
cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp rất cần thiết.Với
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
10
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
những lợi thế đặc thù, tín dụng trung dài hạn của NH được các doanh nghiệp ưa
thích hơn hình thức phát hành cổ phiếu.
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất.
Trong dài hạn, các doanh nghiệp DN luôn chú trọng đến việc mở rộng sản
xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, đổi mới công nghệ để không ngừng
nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm chi phí đến mức tối thiểu nhất.
hợp lý và ổn định, do đó giúp doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả
nợ một cách dễ dàng hơn.
1.2.4.2. Đối với hoạt động của NHTM
- Tín dụng NH tạo ra lợi nhuận cho NHTM.
NHTM là trung gian tài chính lớn nhất đóng vai trò quan trọng trong việc
dùng nguồn vốn từ những nơi chưa có điiều kiện sinh lời đem cho vay ở những nơi
có cơ hội sinh lời. Như vậy hoạt động chủ yếu của NHTM một mặt thu hút các
nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội và mặt khác phân phối nó dưới hình thức cho vay
để thu lợi nhuận, NHTM hoạt động theo ba nghiệp vụ chính: huy động vốn, cho
vay, hoạt động trung gian.
Ba nghiệp vụ này có mối quan hệ chặt chẽ nhau, trong đó nghiệp vụ cho vay
vẫn đóng vai trò quan trọng nhất vì nó là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận chủ yếu cho
NH.Việc cho vay thường mang lại lợi tức cao nhưng mức độ rủi ro trong nghiệp vụ
cho vay thường cao hơn các loại dịch vụ hoặc nghành sản xuất khác. Do đó các NH
nếu muốn tồn tại và phát triển buộc phải tìm nhiều biện pháp thực hiện việc đầu tư
vốn nhằm đảm bảo thu được hiệu quả caoo nhất đồng thời giảm rủi ro đến mức thấp
nhất. Việc đầu tư vốn là một nghiệp vụ chủ yếu nhưng cũng rất phức tạp đối với các
NHTM. Khi tiến hành cho vay các NH đều phải tính toán thận trọng và tôn trọng
các nguyên tắc tín dụng nhất định, tuy nhiên đối tượng vay vốn rất đa dạng và NH
trên thực tế không thể lường trước được hết mọi rủi ro xảy ra.
- Duy trì và mở rộng phạm vi hoạt độngđồng thời nâng cao khả năng cạnh
tranh của NHTM:
NHTM cấp tín dụng cho khách hàng chính là tạo điều kiện để NH mở rộng
phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của mình trong
nền kinh tế. Khi NH không đa dạng hóa hoạt động cho vay, đa dạng hóa khách
hàng, thời hạn cho vay thì NH không th ể đứng vững được trong nền kinh tế thị
trường với sự cạnh tranh gay gắt của nhiều NH khác. Tín dụng trung và dài hạn còn
là công cụ cạnh tranh hiệu quả của NH nhằm thu hút khách về phía mình. Khi có
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
cũng là đảm bảo tín dụng được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng
nhìn chung có thể chia thành:
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
13
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
- Đảm bảo đối vật: Là hình thức đảm bảo tín dụng trong đó NHTM đóng vai
trò là chủ nợ được thừa hưởng một số quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách
hàng nhằm làm căn cứ để thu hồi nợ trong các trường hợp mà khách hàng không trả
hoặc không có khả năng trả nợ. Có hai hình thức đảm bảo đối vật chính là thế chấp
và cầm cố.
* Thế chấp là phương tiện chuyển dịch quyền lợi về tài sản sang cho chủ nợ
với mục đích làm đảm bảo cho món nợ đó hoặc miễn trừ đi một nghĩa vụ. Trong đó
người đi vay được gọi là người thế chấp và người cho vay được gọi là người được
thế chấp.
* Cầm cố là hành vi giao nộp tài sản hoặc là các chứng từ chứng nhận quyền
sở hữu tài sản của người được cầm cố để thực hiện một nghĩa vụ. Nghĩa vụ cầm cố
trong quan hệ tín dụng là người đi vay thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ đúng hạn ghi
trong hợp đồng cầm cố. Trong trường hợp người đi vay mà không thanh toán nợ
đúng hạn theo hợp đồng thì NHTM có quyền bán tài sản cầm cố và được ưu tiên thu
nợ trước các chủ nợ khác. Những loại tài sản cầm cố thông dụng để đảm bảo cho
vay của NHTM gồm: cầm cố hàng hóa, chiết khấu thương phiếu, chứng khoán…
- Đảm bảo đối nhân: Là sự cam kết của một hoặc nhiều người về việc trả nợ
NH thay cho khách hàng vay vốn khi người này không trả được nợ. Trong đảm bảo
đối nhân có 3 chủ thể đó là: người đi vay, NH cho vay, người bảo lãnh. Hợp đồng
tín dụng được kí giữa NH và người đi vay, hợp đồng bảo lãnh được kí giữa NH và
người bảo lãnh. Khi xét duyệt một bảo lãnh NH cần chú ý đến một số điểm như sau:
* Người bảo lãnh phải có đủ năng lực bảo lãnh theo quy định của luật pháp,
nếu là pháp nhân thì người đứng ra bảo lãnh phải là người đại diện hợp pháp của
pháp nhân.
quốc doanh Việt Nam hàng năm còn được nhận một khoản vốn điều lệ từ NHNN,
đó cũng là nguồn vốn hình thành vốn vay trung và dài hạn tại NHTM, nhất là đối
với dự án cho vay theo sự chỉ định của Chính phủ.
1.3.5. Thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là một khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu
nhận tiền vay đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc và tiền lãi đã được thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng giữa NH và khách hàng.
Thời hạn cho vay trung dài hạn là trên 12 tháng và được xác định căn cứ vào
yêu cầu của dự án, khả năng trả vốn của dự án đầu tư và tính chất nguồn vốn của
bên cho vay.Thông thường thì NH căn cứ vào thời gian khấu hao để xác định thời
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
15
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
gian cho vay, thời gian cho vay ngắn hoặc dài hơn quá nhiều so với thời gian khấu
hao đều ảnh hưởng tới quá trình hoàn trả của khách hàng vì khấu hao từ tài sản là
một trong những nguồn chủ yếu để trả nợ. Thời gian cho vay bao gồm thời gian ân
hạn (nếu có) và thời gian trả nợ.
* Thời gian ân hạn được tính tương xứng với thời gian xây dựng công trình và
thời gian lắp đặt máy móc, sản xuất thử sản phẩm.
* Thời gian trả nợ còn tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, khả năng
thu nhập của bên vay mà hai bên thỏa thuận kì hạn trả nợ và số tiền trả nợ từng kì.
1.3.6. Lãi suất cho vay
Theo nguyên tắc thì những khoản đầu tư có kì hạn càng dài thì độ rủi ro càng
cao, vì thế mà điều dễ hiểu là lãi suất cho vay trung dài hạn thường cao hơn lãi suất
cho vay ngắn hạn.Lãi suất cho vay của NH được xác định tùy thuộc vào dự án,
nghành nghề, lĩnh vực đầu tư và chính sách của NH cũng như sự thỏa thuận giữa
NH và khách hàng.
Mức lãi suất cho vay do NH thỏa thuận với khách hàng phải phù hợp với quy
định của NHNN về lãi suất cho vay tại thời điểm kí hợp đồng tín dụng.
thẩm định chủ đầu tư và thẩm định dự án đầu tư. Trong đó NH luôn phải xem xét
đầy đủ các phương diện tài chính của dự án nhằm xác định hiệu quả của dự án
thông qua các chỉ tiêu khả năng sinh lời, thời gian hòa vốn và điểm hòa vốn.
*Thẩm định chủ đầu tư: Nhằm mục đích là xem xét chủ đầu tư có nguyện
vọng cũng như có khả năng trả nợ cho NH hay không. Khi thẩm định chủ đầu tư,
NH sẽ xem xét các vấn đề đó là tư cách pháp nhân, uy tín, năng lực tài chính của
chủ đầu tư.
*Thẩm định dự án đầu tư:
- Trên phương diện thị trường: việc này rất quan trọng đối với các dự án sản
phẩm mới hay mở rộng thị trường sản phẩm. Việc nghiên cứu thị trường sẽ giúp
NH thấy được xu thế trong tương lai của sản phẩm mà dự án đó sản xuất ra: sản
phẩm đó có được thị trường chấp nhận không, thị hiếu của người tiêu dùng, các sản
phẩm cùng loại… từ đó có thể thấy được doanh thu ước lượng của dự án.
- Trên phương diện kĩ thuật: thực hiện phân tích quy mô dự án và công nghệ,
trang thiết bị để thấy được sự phù hợp của dự án với sự tiêu thụ sản phẩm cũng như
sử dụng trang thiết bị hợp lý.Thẩm định trình độ tiên tiến của công nghệ, thời gian
ra đời công nghệ mới.
- Thẩm định tài chính dự án đầu tư: tiến hành phân tích các chỉ tiêu về mặt tài
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
17
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
chính: khả năng trả nợ, sản lượng hòa vốn, điểm hòa vốn, NPV, IRR…
- Phân tích các trường hợp rủi ro có thể phát sinh với dự án: trường hợp sản
lượng giảm, chi phí biến đổi tăng, sự lạc hậu của công nghệ, thay đổi về chính sách
kinh tế của nhà nước…
1.4. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn
1.4.1. Khái niệm chất lượng tín dụng trung và dài hạn
Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất bằng cách nào?Đây là ba vấn đề cơ
bản mà tất cả các doanh nghiệp đều gặp phải trong nền kinh tế thị trường.Để làm
không phải tất cả các NHTM đều thực hiện tốt hoạt động này. Một số NH gặp khó
khăn trong việc không thể tìm được dự án đầu tư phù hợpđể cho vay hoặc gặp khó
khăn trong việc huy động vốn. Vì thế việc xem xét chất lượng hiệu quả tín dụng
trung dài hạn là hết sức cần thiết để giúp NH có thể đánh giá lại hoạt động cho vay
của mình từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục nhữngthiếu sót và đẩy mạnh
hơn nữa hoạt động cho vay. Để đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn, đứng
trên giác độ là một nhà NH chúng ta phải xem xét cả những chỉ tiêu về mặt định
tính và mặt định lượng.
1.4.2.1. Chỉ tiêu định tính
Về mặt định tính các chỉ tiêu được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
- Chất lượng tín dụng được thể hiện qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của
khách hàng, thủ tục đơn giản, cung cấp vốn nhanh chóng và kịp thời, an toàn và có
kì hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu kì kinh doanh của khách hàng.
- Đối với những NH có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết bị
tốt và có tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn, đa dạng hóa và không ngừng
ứng dụng các dịch vụ NH mới.NH có nguồn vốn huy động vốn lớn, ổn định và có
lượng khách hàng vay đông đảo chứng tỏ NH có uy tín.
- Tình hình sản xuất kinh doanh của NH, tình hình khai thác tiềm năng của
NH trên địa bàn hoạt động.
1.4.2.2. Chỉ tiêu định lượng
-Doanh số cho vay trung dài hạn: Phản ánh lượng vốn mà NH đã giải ngân
giúp DN trong đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng công nghệ mới…Con số
này thể hiện xu hướng hoạt động tín dụng trung dài hạn mở rộng hay thu hẹp. Tuy
nhiên việc doanh số cho vay trung dài hạn lớn hay nhỏ chưa hẳn đã tốt mà nó còn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như tiềm lực của NH, điều kiện của kinh tế trong
từng thời kỳ.
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
19
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
20
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
trung dài hạn.
Chỉ tiêu này cho thấy trong 100% tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn thì có bao
nhiêu % là nợ quá hạn.Các NH có chỉ số này thấp chứng tỏ hiệu quả tín dụng cao. Ở
các nước có nền kinh tế phát triển người ta quy định các NH có tỷ lệ nợ quá hạn
trên tổng dư nợ <5% thì được coi là chất lượng tín dụng tốt, ngược lại nếu vượt quá
5% thì có dấu hiệu xấu, hoạt động của NH không an toàn và có nguy cơ rủi ro cao.
Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi= Nợ quá hạn khó đòi của tín dụng trung dài hạn/
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn.
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ % nợ quá hạn khó đòi của toàn bô hoạt động về tín
dụng trung và dài hạn.Tỷ lệ này càng thấp càng tốt cho NH.
-Chỉ tiêu về lợi nhuận:
Chỉ tiêu lợi nhuận 1= Lợi nhuận tín dụng trung dài hạn/ Tổng dư nợ tín dụng
trung dài hạn
Chỉ tiêu lợi nhuận 2 = Lợi nhuận tín dụng trung dài hạn/ Tổng lợi nhuận
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung dài hạn, cho biết
một động dư nợ tín dụng trung dài hạn mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.Bất cứ
một khoản tín dụng nào cũng sẽ không thể được đánh giá là có chất lượng cao nếu
không đem lại lợi nhuận thực tế cho NH.Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất lượng tín
dụng trung dài hạn tại NH càng tốt, mang lại lợi nhuận cao cho cả NH. Mỗi một NH
có một cách đánh giá về chỉ tiêu này khác nhau nhưng hầu như không có một con
số chính xác cụ thể nào làm căn cứ đưa ra so sánh, mà các NH dựa vào chỉ tiêu này
của từng dự án cụ thể của từng năm để đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn
của NH mình.
1.4.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng trung và dài
hạn của NHTM
1.4.3.1. Nhân tố khách quan
động lên hoạt động của doanh nghiệp. Một môi trường kinh tế phát triển có thể tạo
điều kiện thuận lợi cho công tác tín dụng trung dàihạn, một thị trường khi đã quen
với các khoản tín dụng các chế độ báo cáo và hạch toán tài chính được sử dụng phổ
biến thì hiệu quả các khoản tín dụng được nâng lên.
Chu kỳ kinh tế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoat động tín dụng: Trong thời
kì suy thoái kinh tế, nền sản xuất bị đình trệ do đó hoạt động tín dụng sẽ gặp khó
khăn về mọi mặt, khi lạm phát cao lãi suất thực sẽ giảm xuống và nếu NH không
cân đối giữa các loại nguồn và sử dụng nguồn nhạy cảm với lãi suất thì có thể
SV: Đỗ Thị Hải Anh
Lớp: NHC.LTĐH8
22