giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần máy cnc hà nội - Pdf 23

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, PHÂN LOẠI
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
1. Khái niệm vốn kinh doanh: 3
2. Đặc điểm vốn kinh doanh: 3
3. Vai trò vốn kinh doanh: 5
4. Phân loại vốn kinh doanh: 6
4.1. Theo nguồn hình thành vốn. 6
4.2. Theo đặc điểm chu chuyển vốn: 8
4.3. Theo thời gian huy động vốn: 11
Nguồn vốn thường xuyên 11
Nguồn vốn tạm thời 12
5.2. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn: 15
5.2.1. Các mối quan hệ trên bảng cân đối kế toán: 16
5.2.2. Các tỷ số phản ánh hiệu quả sử dụng vốn: 18
1. Giới thiệu về công ty: 27
1.1.khái quát công ty: 27
1.2. Cơ cấu công ty: 27
2. Thực trạng sử dụng vốn tại công ty cổ phần máy
CNC Hà Nội: 30
2.1. kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2010 – 2011: 30
2.2. Thực trạng sử dụng vốn tại công ty cổ phần máy CNC Hà Nội: 32
2.2.1 Các mối quan hệ trên bảng cân đối kế toán: 34
2.2.2 Các tỷ số phản ánh hiệu quả sử dụng vốn: 38
1. Định hướng phát triển công ty trong những
năm tới: 45
2. Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
tại công ty: 46
2.1.Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định: 46
2.3. Một số giải pháp huy động vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng

Chuyên đề gồm 3 phần:
Chương I: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại và hiệu quả sử dụng vốn
Chương II: Thực trạng tình hình sử dụng vốn tại công ty cổ phần máy CNC Hà
Nội
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 2
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Tài Chính
CHƯƠNG I
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, PHÂN LOẠI
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
1. Khái niệm vốn kinh doanh:
Đối với mỗi doanh nghiệp để tiến hành bất kì một hoạt động kinh doanh
nào đó cũng phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quan trọng đối
với quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Có vốn để đầu tư mua sắm các yếu
tố cho sản xuất kinh doanh, đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao
động. Do sự tác động của sức lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu
lao động mà hàng hóa dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trên thị trường, doanh
nghiệp thu được tiền. Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, kết
quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh phải bù đắp toàn bộ chi phí bỏ ra
và có lãi. Như vậy có thể thấy số tiền đã ứng ra ban đầu không chỉ được bảo tồn
mà nó còn tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại. Từ phân tích trên ta
thấy:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài
sản hữu hình và vô hình được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm
mục đích sinh lời.
2. Đặc điểm vốn kinh doanh:
Để quản lý và phân biệt vốn kinh doanh với các loại vốn khác ta cần tìm
hiểu về đặc điểm của vốn kinh doanh.
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 3

Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu: Vốn góp, vốn liên doanh thì chủ sở hữu
là các bên tham gia liên doanh, góp vốn vốn vay thuộc sở hữu ngân hàng và các
chủ nợ khác, nghiên cứu kỹ vấn đề này là điều rất cần thiết giúp doanh nghiệp có
các phương án sử dụng vốn ngắn hạn và dài hạn có hiệu quả hơn.
Vốn được coi là hàng hóa đặc biệt: Điều này có nghĩa là vốn phải có đầy
đủ cả giá trị và giá trị sử dụng, giá trị của hàng hóa vốn chính là bản thân nó, giá
trị của vốn thể hiện ở chỗ khi đưa và sản xuất kinh doanh nó sẽ tạo ra một giá trị
lớn hơn giá trị ban đầu. Như mọi hàng hóa khác vốn cũng được mua bán trên thị
trường nhưng người ta chỉ mua bán quyền sử dụng nó đó chính là yếu tố làm cho
vốn trở thành hàng hóa đặc biệt khác các loại hàng hóa khác. Người thừa vốn
đưa vốn vào thị trường, người cần vốn đền thị trường vay và phải trả một khoản
phí cho lượng vốn vay đó. Trong quá trình đó quyền sở hữu vốn không thay đổi
mà chỉ thay đổi quyền sử dụng
3. Vai trò vốn kinh doanh:
Đối với một doanh nghiệp, vốn có vai trò rất quan trọng quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nó vừa là cơ sở để tiến hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh lại cũng chính là chỉ tiêu đánh giá kết quả các hoạt
động kinh doanh đó. Bên cạnh đó vốn còn là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến
năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh
nghiệp trên thương trường. Điều này càng thể hiện rõ trong cơ chế thị trường
hiện nay với sự cạnh tranh càng gay gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng cải
tiến máy móc thiết bị đầu tư hiện đại hóa công nghệ…tất cả những yếu tố này
muốn đạt được đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn và sử dụng
vốn có hiệu quả.
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 5
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Tài Chính
Mặt khác một doanh nghiệp muốn mở rộng phạm vi hoạt động tiến hành
tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kì kinh doanh vốn của doanh nghiệp phải
sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo vốn của doanh nghiệp

sự nghiệp (kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp phát không hoàn lại ).
Tóm lại, vốn chủ sở hữu là vốn do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp.
Số vốn này không phải là khoản nợ của doanh nghiệp. Tùy theo loại hình doanh
nghiệp mà vốn chủ sở hữu được hình thành từ các nguồn khác nhau. Thông
thường nguồn vốn này bao gồm vốn góp và lợi nhuận chưa phân phối.
 Vốn vay:
Là vốn đầu tư hình thành từ nguồn đi vay, chiếm dụng của các tổ chức cá
nhân. Điều khác biệt với vốn chủ sở hữu là doanh nghiệp phải trả khoản lãi suất
và gốc sau một thời gian nhất định. Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng
với những điều kiện nhất định như thời gian sử dụng, thế chấp, lãi suất…nhưng
không thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Vốn này bao gồm vốn vay ngắn hạn và
vốn vay dài hạn.
Qua tiêu thức phân loại này cho thấy kết cấu vốn sản xuất kinh doanh
được hình thành bằng vốn bản thân doanh nghiệp và từ các nguồn vốn huy động
bên ngoài doanh nghiệp. Từ đó giúp cho doanh nghiệp tổ chức tốt công tác tổ
chức, quản lý và sử dụng hiệu quả, hợp lý nguồn vốn; doanh nghiệp biết được
khả năng của mình trong việc huy động vốn là cao hay thấp.
Thông thường mỗi doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn trên để
đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự kết hợp giữa hai
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 7
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Tài Chính
nguồn vốn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành kinh doanh mà doanh nghiệp
đang hoạt động cũng như quyết định chủ quan của người quản lý doanh nghiệp
trên cơ sở xem xét tình hình chung của nền kinh tế và tình hình thực tế tại doanh
nghiệp.
4.2. Theo đặc điểm chu chuyển vốn:
Theo cách phân loại này, vốn kinh doanh được chia làm hai loại: Vốn lưu
động và vốn cố định.
 Vốn cố định:

việc hoặc cho sản phẩm, và các TSCĐ hữu hình khác.
+ TSCĐ vô hình: Là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể
hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc phân loại này giúp cho người quản lý thấy được kết cấu tài sản theo
công dụng kinh tế, từ đó đánh giá được trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật
của doanh nghiệp để từ đó có định hướng đầu tư; mặt khác, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc quản lý và thực hiện khấu hao TSCĐ.
 Phân loại theo tình hình sử dụng: Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ, có
thể chia toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp thành những loại sau:
+ TSCĐ đang dùng
+ TSCĐ chưa cần dùng
+ TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý hoặc nhượng bán.
Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình hình
sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp sử dụng
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 9
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Tài Chính
tối đa các TSCĐ hiện có, giải phóng nhanh các TSCĐ không cần dùng và chờ
thanh lý để thu hồi vốn.
Trên đây là hai cách phân loại chủ yếu, ngoài ra còn có thể phân loại theo
mục đích sử dụng, phân loại theo quyền sở hữu mỗi cách phân loại đáp ứng
những yêu cầu nhất định của công tác quản lý.
 Vốn lưu động:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và
lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được thường
xuyên, liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần,
tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất.
Đặc điểm của vốn lưu động: Trong quá trình kinh doanh, vốn lưu động
chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ sau khi doanh

ngắn hạn (Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn ), các khoản vốn
trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng ).
4.3. Theo thời gian huy động vốn:
Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể phân chia nguồn
vốn doanh nghiệp thành hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm
thời.
 Nguồn vốn thường xuyên
Là nguồn vốn từ một năm trở lên bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các
khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có
thể sử dụng dành cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tài sản
lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 11
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Tài Chính
 Nguồn vốn tạm thời
Đây là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn ( ít hơn một năm ) mà doanh
nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường
phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này
bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng cùng các
khoản nợ khác.
Việc phân loại nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời giúp cho người
quản lý xem xét huy động các nguồn vốn một cách hợp lý với thời gian sử dụng,
đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Cách phân loại này còn giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch
tài chính hình thành nên những dự định và tổ chức nguồn vốn trong tương lai
trên cơ sở xác định quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó, tổ chức sử dụng
vốn có hiệu quả cao.
4.4. Theo phạm vi huy động vốn:

Hình thức góp vốn này thích hợp với các quá trình kinh doanh có quy mô lớn mà
doanh nghiệp không thể tự mình có đủ vốn để thực hiện tổ chức kinh sản xuất
kinh doanh và quản lý vốn.
+ Từ nguồn vốn tín dụng: Là các khoản mà doanh nghiệp có thể vay dài hạn
từ các ngân hàng, công ty tài chính- bảo hiểm hay các tổ chức tài chính khác.
+ Từ phát hành trái phiếu: Hình thức này giúp cho doanh nghiệp thực hiện
vay vốn trung và dài hạn từ thị trường vốn với lượng lớn nhưng doanh nghiệp
cần đáp ứng đủ điều kiện phát hành trái phiếu.
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 13
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Tài Chính
Mỗi hình thức huy động vốn từ bên ngoài đều có ưu nhược điểm nhất
định. Hình thức vay dài hạn ngân hàng, tổ chức tài chính và phát hành trái phiếu
có ưu điểm là tạo cho doanh nghiệp một cơ cấu tổ chức linh hoạt hơn, chi phí sử
dụng vốn có giới hạn nên trong trường hợp đạt mức doanh lợi cao tì không phải
san sẻ lợi nhuận đó, sử dụng được tác động của đòn bẩy tài chính. Nhưng nếu do
lý do khách quan hoặc chủ quan nào từ phía doanh nghiệp làm cho doanh nghiệp
bị thua lỗ thì khoản vay đó trở thành gánh nặng nợ của doanh nghiệp.
Như vậy, doanh nghiệp cần đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời
sao cho hiệu quả kinh tế mang lại là tối đa đi kèm với chi phí sử dụng vốn tối
thiểu. Sử dụng đòn bẩy tài chính để khuếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu nếu
hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
5. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh:
5.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực xã hội để đạt được kết quả cao nhất với chi phí nguồn lực thấp nhất.
Xuất phát từ những nguyên lý chung như vậy, trong lĩnh vực vốn kinh doanh
định ra hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được
đánh giá trên hai góc độ: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong phạm vi
quản lý doanh nghiệp người ta chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Do vậy

mức sinh lời giữa các doanh nghiệp cần có hệ tống chỉ tiêu thống nhất. Một số
chỉ tiêu đánh giá:
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 15
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Tài Chính
5.2.1. Các mối quan hệ trên bảng cân đối kế toán:
Xét trên quan điểm tài trợ vốn, mỗi loại tài sản cần được tài trợ bằng một
nguồn vốn nhất định. Việc sử dụng nguồn vốn để tài trợ cho những nhu cầu vốn
trong doanh nghiệp thường được xem xét trên nguyên tắc cân đối, điều này đòi
hỏi các nhà quản trị phải tính đến cả hai yếu tố an toàn trong cơ cấu vốn nhưng
vẫn đảm bảo chi phí vốn tương đối hợp lý nhằm đạt được hiệu quả sử dụng vốn
mong muốn. Vấn đề này thường được xem xét qua các mối quan hệ trên bảng
cân đối kế toán.
Các mối quan hệ trên bảng cân đối kế toán được thể hiện qua 3 chỉ tiêu:
Vốn lưu động ròng hay còn gọi là vốn lưu động thường xuyên, nhu cầu vốn lưu
động và ngân quỹ ròng.
 Vốn lưu động ròng: Là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn hay còn gọi
là nguồn vốn thường xuyên với tài sản dài hạn trong doanh nghiệp.
Có 2 cách xác định VLĐ ròng :
Cách 1: VLĐ ròng = NV dài hạn – TS dài hạn
Cách 2: VLĐ ròng = TS ngắn hạn – NV ngắn hạn
Mỗi công ty muốn sản xuất kinh doanh ổn định thì đều phải có một lượng
vốn lưu động thường xuyên nhất định. Vốn lưu động thường xuyên dương chứng
tỏ doanh nghiệp có một phần nguồn vốn dài hạn đầu tư cho tài sản ngắn hạn.
Điều này làm cho công ty có nguồn vốn ổn đinh, một cơ cấu vốn an toàn. Ngược
lại, công ty có vốn lưu động thường xuyên âm chứng tỏ công ty đang sử dụng
một cơ cấu vốn mạo hiểm ( do một phần tài sản dài hạn được tài trợ bằng nguồn
vốn ngắn hạn ).
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 16
Chuyên đề tốt nghiệp

giữ vốn lưu động ròng và nhu cầu vốn lưu động ròng.
Khi ngân quỹ ròng dương ( nếu nhu cầu vốn lưu động dương) chứng tỏ
ngoài việc tài trợ cho tài sản dài hạn, đảm bảo thõa mãn nhu cầu vốn lưu động
phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn vốn dài hạn trong doanh
nghiệp chưa sử dụng đến còn để trên khoản mục tiền hoặc đang dùng đầu tư
chứng khoán ngắn hạn. Ngược lại, ngân quỹ ròng dương (nếu nhu cầu vốn lưu
động âm) thể hiện doanh nghiệp dư thừa ngân quỹ một phần do thừa nguồn vốn
dài hạn chưa sử dụng đến, một phần do chiếm dụng được vốn của bên thứ 3.
Ngân quỹ ròng âm chứng tỏ nguồn vốn dài hạn chỉ tài trợ một phần nhu
cầu vốn lưu động, phần còn lại dựa vào tín dụng ngắn hạn ngân hàng, điều này
khiến doanh nghiệp càng phụ thuộc vào ngân hàng.
5.2.2. Các tỷ số phản ánh hiệu quả sử dụng vốn:
 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản:
 Phân tích năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn:
+ Vòng quay khoản phải thu và kì thu tiền trung bình:
Vòng quay khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào các khoản phải thu
để duy trì mức doanh số bán hàng cần thiết cho doanh nghiệp, qua đó có thể
đánh giá hiệu quả của một chính sách đầu tư của doanh nghiệp.
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 18
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Tài Chính
Kỳ thu tiền trung bình cho biết khoảng thời gian trung bình từ khi doanh
nghiệp xuất hàng đến khi doanh nghiệp thu được tiền về.
Từ 2 chỉ tiêu trên, chúng ta có thế đánh giá được tốc độ thu hồi các khoản
phải thu của công ty. Thông thường, hệ số vòng quay khoản phải thu càng cao
càng chứng tỏ công ty không có nợ xấu và không bị chiếm dụng vốn. Nó phản
ánh một chính sách quản lý khoản phải thu tốt. Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá
cũng có thể do chính sách bán hàng của công ty quá chặt chẽ. Điều này khiến
cho doanh thu của công ty bị hạn chế. Trong trường hợp vòng quay khoản phải
thu của công ty quá thấp, chứng tỏ công ty bị chiếm dụng vốn nhiều, vốn bị ứ

Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Tài Chính
sản của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có hiệu suất sử dụng tài sản cố định và
hiệu suất sử dụng tổng tài sản thấp hoặc giảm so doanh nghiệp khác hay so năm
trước, thường được đánh giá là sức tạo doanh thu của tài sản cố định cũng như
tài sản cố định kém hơn hay công tác quản lý tài sản cố định, tổng tài sản trong
doanh nghiệp chưa hiệu quả.
 Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn:
 Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn:
Đây là hệ số thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động đôi với nợ
ngắn hạn. Chỉ tiêu này có ý nghĩa với một đồng nợ ngắn hạn thì doanh nghiệp có
bao nhiêu đồng của tài sản ngắn hạn để đảm bảo.
 Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ trong một thời gian
ngắn, không tính đến các khoản mục trong hàng tồn kho như: Nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ, thành phẩm hàng hóa,… Việc chuyển đổi hàng tồn kho thành
tiền cần một thời gian dài khó có thể đáp ứng việc thanh toán các khoản nợ đến
hạn.
 Hệ số khả năng thanh toán tức thời :
Nguyễn Tuấn Tú_TCDNB-K12 Trang 21
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Tài Chính
Hệ số này phản ánh được doanh nghiệp thanh toán được ngay lập tức bao
nhiêu phần các khoản nợ đến hạn. Nếu hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ
gặp phải khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Độ lớn hệ số này
phụ thuộc vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn của các món nợ
phải thu, phải trả trong kỳ.
Thông thường, nếu các tỷ số trên cao có thể đem lại sự an toàn về khả năng bù
đắp cho sự giảm giá trị của tài sản ngắn hạn. Điều đó thể hiện tiềm năng thanh
toán cao so với nghĩa vụ phải thanh toán. Tuy nhiên, một doanh nghiệp có tỷ số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status