Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
Lời Nói đầu
Vốn là một trong những yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất để doanh
nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh đồng thời cũng là tiền đề để các
doanh nghiệp tồn tại và phát triển, đứng vững trong cơ chế thị trường.
Trước đây, đối với doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế kế hoạch hoá tập
trung quan liêu, bao cấp, chế độ cấp phát vốn và giao nộp sản phẩm theo
chỉ tiêu đã làm vô hiệu hoá tác dụng và vai trò của vốn. Các doanh nghiệp
không cần quan tâm đến việc huy động nâng cao hoàn thiện hiệu quả sử
dụng vốn. Kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường đã có sự tác động mạnh
mẽ đến nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Cùng với sự
chuyển đổi cơ chế quản lý và việc cắt giảm nguồn vốn ngân sách, mở rộng
quyền tự chủ, chuyển giao vốn cho các doanh nghiệp quản lý và sử dụng,
các doanh nghiệp đã trở thành các đơn vị kinh tế độc lập, cạnh tranh gay
gắt trên thị truờng. Điều đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải bảo toàn, phát
triển và sử dụng vốn có hiệu quả để đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh
nghiệp. Điều này tạo nên những cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnh những doanh nghiệp năng
động sớm thích nghi với cơ chế mới, tìm ra những biện pháp sử dụng vốn
có hiệu quả, thì không ít những doanh nghiệp đang trong tình trạng khó
khăn, làm ăn thua lỗ do quản lý và sử dụng vốn của mình không hợp lý,
kém hiệu quả.
Để đứng vững trong quá trình cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh doanh tạo chỗ
đứng của mình trên thị trường, muốn vậy doanh nghiệp phải có vốn để đầu
tư, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường. Hiện nay với sự phát triển đa
dạng của các kênh huy động và cung cấp vốn vấn đề khai thác nguồn vốn
để phục vụ kịp thời cho nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp là không
nhỏ, nhưng vấn đề đặt ra là phải xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết
Hoàng Ngọc Tuyển 1 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
nghiệp.
1-Khái niệm vốn kinh doanh.
Trong nền kinh tế quốc dân, các doanh nghiệp là một tổ chức được thành
lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp có thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư sản xuất đến tiêu thụ nhằm mục tiêu sinh lời.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải
có một lượng vốn nhất định để thực hiện các khoản đầu tư cần thiết ban
đầu như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí nguyên vật liệu, trả tiền
công, lãi vay, nộp thuế.. Đồng thời đầu tư thêm công nghệ, mua sắm máy
móc để tái sản xuất mở rộng, phát triển doanh nghiệp.Trong quá trình sản
xuất kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không ngừng vận động và tồn tại ở
nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra các sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ và lao vụ tiêu thụ trên thị trường.
Điều này được thể hiện qua công thức: T-H..H’-T(T’>T), có nghĩa là sau
khi tiêu thụ sản phẩm, số tiền doanh nghiệp thu về phải bù đắp mọi chi phí
và bảo đảm có lãi. Như vậy nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh. Số tiền ban
đầu đã được tăng thêm. Quá trình diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
Từ những phân tích ở trên cho ta thấy: “ Vốn là biểu hiện bằng tiền của
tất cả các tài sản dùng cho sản xuất kinh doanh. Vốn là giá trị đem lại giá
trị thặng dư”.
Chu chuyển của vốn trong mọi quá trình hoạt động là căn cứ khoa học để
doanh nghiệp xác định phương pháp sử dụng một cách có hiệu quả.
Hoàng Ngọc Tuyển 3 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
2-Các cách phân loại vốn.
Tuỳ theo mục đích sử dụng và quản lý, vốn doanh nghiệp được phân
thành nhiều loại khác nhau.
2.1.Theo nguồn hình thành:
vật chất nên quy mô của vốn cố định sẽ quyết định quy mô của TSCĐ. Tài
sản cố định có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và giá trị
của nó được dịch chuyển dần về giá trị sản phẩm. Theo đó vốn cố định
cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tương ứng.
TSCĐ khi tham gia vào quá trình sản xuất không bị thay đổi hình thái vật
chất ban đầu nhưng tính năng và công suất bị giảm dần, tức là nó bị hao
mòn và cùng với giá trị sử dụng giảm dần thì giá trị của nó cũng giảm .
Vậy vốn cố định được tách thành hai phần
+Một phần tương tứng với giá trị hao mòn được chuyển vào giá trị của sản
phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu
hao, dùng để tái sản xuất TSCĐ, duy trì năng lực sản xuất của doanh
nghiệp.
+Phần còn lại của vốn cố định được cố định trong nó, tức là giá trị còn lại
của TSCĐ.
Khi TSCĐ hết thời gian sử dụng thì vốn cố định hoàn thành một vòng
luân chuyển.
Vốn cố định là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ
vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
-Vốn Lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động được
đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự liên tục
trong hoạt động của doanh nghiệp.
TSCĐ bao gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như: nguyên vật liệu,
công cụ, dụng cụ... tài sản ở khâu sản xuất như sản phẩm đang chế tạo bán
Hoàng Ngọc Tuyển 5 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
thành phẩm...và tài sản lưu động trong khâu lưu thông như sản phẩm hàng
hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng tiền và các khoản phải thu. Trong quá trình sản
xuất, khác với TSCĐ, TSLĐ của doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu
hiện để tạo ra sản phẩm. Vì vậy giá trị của nó cũng được dịch chuyển một
lần vào giá trị sản phẩm và vận động liên tục qua các giai đoạn của quá
thành phần kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước chỉ còn là một bộ phận
song song tồn tại cùng các thành phần kinh tế khác. Để tồn tại và phát triển,
tất yếu các doanh nghiệp phải năng động nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu
tư đổi mới máy móc thiết bị cải tiến qui trình công nghệ, đa dạng hoá sản
phẩm hàng hoá. Muốn vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn. Nhu cầu
về vốn đã trở thành động lực và là yêu cầu cấp bách đối với tất cả các
doanh nghiệp. Nó quyết định cơ cấu đầu tư, đảm bảo sự sống cho doanh
nghiệp.
Tuy nhiên, có đủ lượng vốn kinh doanh nhưng vấn đề sử dụng sao cho
hiệu quả vẫn đang là vấn đề mà tất cả các nhà quản trị tài chính doanh
nghiệp hết sức quan tâm.
4-Chi phí vốn của doanh nghiệp:
Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, phần thứ nhất của bảng thể
hiện những tài sản của doanh nghiệp. Xếp theo thứ tự tính giảm dần và
tương tự phần thứ hai của bảng là các nguồn vốn. Cũng như các yếu tố đầu
vào khác, muốn có vốn để sử dụng thì chúng ta phải trả chi phí. Như vậy có
thể hiểu một cách khái quát chi phí vốn tức là chi phí trả cho việc huy động
và sử dụng vốn.
Ai cũng biết rằng chi phí của việc sử dụng lao động đo bằng tiền lương (
tiền công). Tiền công suy cho cùng chính là giá của lao động và giá trị hàng
hoá sức lao động lại được đo bằng giá cả của các tài liệu sinh hoạt phục vụ
cho việc tái sản xuất sức lao động. Còn vốn chính là tư bản, là tiền dùng
với mục đích sinh lợi. Giá của tiền được đo bằng lãi suất, tiền lại có giá trị
Hoàng Ngọc Tuyển 7 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
theo thời gian và tỉ lệ sinh lời cần thiết là cơ sở nền tảng của thị trường vốn
và nó cũng đo lường chi phí cơ hội của các nguồn tiền. Các nhà đầu tư sẽ
đồng ý cung cấp vốn cho doanh nghiệp bởi họ cho rằng không thể kiếm
được phần lãi suất cao hơn nếu đầu tư vào chỗ khác với cùng rủi ro.
Như vậy chi phí vốn chính là tỉ lệ sinh lời cần thiết của khoản tiền mà
doanh nghiệp.
1-Quan Điểm về hiệu quả sử dụng vốn.
Bất kỳ hoạt động nào của con người, hoạt động nói chung và kinh doanh
nói riêng đều mong muốn đạt được kết quả hữu ích nào đó. Nhu cầu của
con người bao giờ cũng lớn hơn khả năng tạo ra sản phẩm của họ. Bởi vậy
họ cần phải cần quan tâm đến việc làm so với khả năng hiện có có thể làm
ra nhiều sản phẩm nhất. Từ đó nảy sinh vấn đề là phải lựa chọn xem xét
cách nào để đạt hiệu quả nhất. Khi tiến hành đánh giá hoạt động kinh
doanh không chỉ dừng lại ở các kết quả mà phải đánh giá cả chất lượng
hoạt động kinh doanh để tạo ra sản phẩm đó.
Do đó hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực xã hội để đạt được kết quả cao nhất với chi phí nguồn lực ít
nhất.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, lợi nhuận cũng là mục tiêu cao nhất, để
thực hiện được mục tiêu này, các doanh nghiệp phải chú trọng nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cách thức đo lường chính xác nhất, thể hiện
rõ nhất hiệu quả đó là sử dụng thước đo tiền tệ để lượng hoá các đầu ra và
đầu vào, đánh giá quan hệ giữa chúng của quá trình sản xuất kinh doanh
đó. Hiệu quả kinh doanh xác định bằng thước đo tiền tệ gọi là hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp.
Như vậy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là quan hệ giữa đầu ra
và đầu vào hay là quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh với chi phí cho
quá trình kinh doanh đó.
Hoàng Ngọc Tuyển 9 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
Ngoài ra hiệu quả sử dụng nguồn vốn ở các doanh nghiệp còn được thể
hiện ở các chỉ tiêu hiệu quả theo mức thu nhập, khả năng thanh toán, chỉ
tiêu về sử dụng vốn và phân bổ vốn.
2-Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Mục đích của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là lợi nhuận.
+Hàm lượng vốn cố định
=
DT tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu hay lợi nhuận thì cần
bao nhiêu đồng VCĐ. Bởi vậy, trong doanh nghiệp chỉ tiêu này càng nhỏ
càng tốt.
Lợi nhuận ròng trong kỳ
+Hiệu quả sử dụng vốn cố định =
VCĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng VCĐ tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận nên chỉ tiêu này
càng cao càng tốt. Ngoài ra để đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ, người ta
sử dụng một số chỉ tiêu khác như kết cấu TSCĐ, kết cấu nguồn vốn đầu tư
cho TSCĐ và các chỉ tiêu:
Công suất thực tế
+Hệ số sử dụng công suất TSCĐ
=
Công suất thiết kế
TCL của TSCĐ tại thời điểm kiểm tra
+Hệ số hao mòn TSCĐ=
NGTSCĐ tại thời điểm kiểm tra
DT tiêu thụ sản phẩm hh trong kỳ
+Hiệu suất sử dụng TSCĐ=
TSCĐ sử dụng bình quân
Hoàng Ngọc Tuyển 11 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
Trong đó:
NG đầu kỳ + NG cuối kỳ
TSCĐ sử dụng bình quân=
Tổng số VLĐ sử dụng bình quân 4 quý
VLĐ bình quân năm=
4
Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển VLĐ trong năm. Nếu số vòng
quay tăng chứng tỏ tốc độ luân chuyển của VLĐ tăng và ngược lại.
Thời gian một lần Thời gian của kỳ phân tích
luân chuyển =
Số vòng quay của VLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để cho VLĐ quay được một vòng,
thời gian này càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn, đảm bảo nguồn
vốn lưu động tránh bị hao hụt mất mát trong quá trình sản xuất kinh doanh.
VLĐ bình quân trong kỳ
Hệ số đảm nhiệm VLĐ =
Tổng số doanh thu thuần
Hệ số này này nhỏ càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn
tiết kiệm được càng nhiều. Qua đó, ta biết được để tạo ra một đồng doanh
thu thì phải cần bao nhiêu đồng VLĐ.
Ngoài việc xem xét hiệu quả kinh doanh dưới góc độ TSCĐ và TSLĐ thì
khi phân tích cần xem xét hiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ sinh lời. Đây
là một trong những nội dung phân tích được các nhà đầu tư, tín dụng đặc
biệt quan tâm. Để đánh giá khả năng sinh lợi của vốn, người phân tích
thường tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau:
Hoàng Ngọc Tuyển 13 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
Hệ số doanh lợi của Lợi nhuận
vốn kinh doanh =
Vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng
của CHLB Đức. Đến ngày 09/07/1992 do yêu cầu đổi mới trong công tác
quản lý và sản xuất Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà máy thiết bị Giáo dục
Trung Ương I hợp nhất với một số đơn vị nhỏ lẻ khác trong Bộ như: Trung
tâm hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ, xí nghiệp Sứ mỹ nghệ, Trung
tâm tin học, Trung tâm vi sinh của Bộ giáo dục để thành lập Liên Hiệp hỗ
trợ phát triển khoa học công nghệ với chức năng chủ yếu là sản xuất và
cung ứng thiết bị giáo dục cho khu vực Miền Bắc nước ta. Đến ngày
19/08/1996, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ra quyết định số 3411/QĐ và số
4197/QĐ về việc sáp nhập liên hiệp hỗ trợ phát triển khoa học và công
nghệ với Tổng Công ty cơ sở vật chất và thiết bị trường học để thành lập
Hoàng Ngọc Tuyển 15 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
công ty cổ phần Thiết Bị Giáo Dục I ngày nay. Công ty Cổ phần Thiết bị
Giáo dục I là doanh nghiệp nhà nước, hoạch toán kinh doanh độc lập, tự
chủ về tài chính, có tư cách pháp nhân và chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, các Bộ, Ngành có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Công
ty.
Tên Công ty: Công ty Cổ Phần Thiết Bị Giáo Dục I
Trụ sở Giao dịch: Số 18, Ngõ 30- Tạ Quang Bửu-Hai Bà Trưng-Hà Nội
2-Chức năng và nhiệm vụ của Công ty Thiết bị Giáo dục I
2.1.Chức năng của Công ty:
Là một đơn vị với chức năng chủ yếu là sản xuất và cung ứng thiết bị, đồ
dùng dạy học cho mọi cấp học. Tư vấn, thiết kế hỗ trợ kỹ thuật cho các lĩnh
vực tin học, phần mềm giáo dục, thiết bị thí nghiệm chuyên ngành giáo dục
61 tỉnh thành trong cả nước.
2.2.Nhiệm vụ của công ty:
Nhiệm vụ của công ty là sản xuất và cung ứng, kể cả nhập khẩu đồ dùng
dạy học, các thiết bị nhà trường nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học
tập trong nhà trường cho mọi cấp học.
Tổ chức tiếp nhận, lưu thông, phân phối các loại vật tư chuyên dùng
thiết bị thí nghiệm, học cụ cho các trường học. Bước đầu, công ty đã có
những thành công, một số sản phẩm của công ty đã thay thế được hàng
nhập ngoại mà vẫn đảm bảo yêu cầu chất lượng dạy và học và hạ được giá
thành sản xuất.
3-Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của công ty và
chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban.
a.Cơ cấu bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của công ty.
Tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh là một việc rất quan trọng, để thực
hiện tốt chức năng, nhiệm vụ do Bộ Giáo dục và Đào tạo, công ty đã hoàn
thiện công tác bộ máy như sau:
Công ty tổ chức bộ máy quản lý theo hình thức trực tuyến chức năng,
đứng đầu là Giám đốc công ty. Giám đốc công ty là người lãnh đạo cao
Hoàng Ngọc Tuyển 17 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
nhất của công ty, chịu trách nhiệm trước nhà nước, trước tập thể về kết quả
sản xuất kinh doanh của công ty theo quy định của pháp luật, chịu trách
nhiệm quản lý, sử dụng và bảo toàn vốn của nhà nước. Giúp việc cho Giám
đốc là một phó Giám đốc và một kế toán trưởng. Phó Giám đốc giúp việc
cho Giám đốc trong lĩnh vực được Giám đốc phân công là phục trách và
giải quyết công việc theo sự uỷ quyền của Giám đốc. Kế toán trưởng là
người trực tiếp thực hiện pháp lệnh về kế toán thống kê và điều lệ kế toán
của công ty.
Hoàng Ngọc Tuyển 18 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty
Bộ máy quản lý và hạch toán sản xuất kinh doanh của công ty gồm có các
phòng ban sau:
+Phòng tổ chức hành chính: Gồm các bộ phận tổng hợp từ tổ lao động- tiền
thuỷ
tinh
xưởng
cơ khí
T.T
chế
bản
T.T
nội
thất
T.T
đồ
chơi
T.TC/G
công
nghệ
T.T
tin
học
phòng tổ
chức
hành
chính
Giám dốc
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
+Phòng kế hoạch kinh doanh: Có nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch kinh
doanh ngắn hạn và dài hạn, tiếp thị kinh doanh các mặt hàng thiết bị giáo
dục và khai thác hàng ngoài, cùng với các bộ phận nghiệp vụ khác xây
dựng các định mức về số lượng, chất lượng sản phẩm cũng như chi phí bán
hàng, tiếp thị.. Đồng thời, đảm nhận và cung cấp thông tin đầy đủ kịp thời
xưởng:
+Xưởng mô hình chất dẻo: Sản xuất các loại mô hình sinh vật, mô hình về
giải phẫu sinh lý người và động vật.
+Xưởng nhựa: Sản xuất các loại thước kẻ, eke, bàn tính, các chi tiết bằng
nhựa trong các thiết bị giáo dục theo yêu cầu của sản xuất.
+Xưởng thuỷ tinh: Sản xuất các loại học cụ bằng thuỷ tinh như dụng cụ
trong phòng thí nghiệm như các mô hình các loại máy phát điện, các bộ lắp
ghép kỹ thuật. Các xưởng sản xuất của công ty đều sản xuất theo đơn dặt
hàng của công ty và là một đơn vị hạch toán phụ thuộc.
+Trung tâm chế bản-in: Có nhiệm vụ sản xuất các bộ học chữ cho học sinh
tiểu học, in các loại tranh ảnh phục vụ cho giảng dạy và học tập của
nghành.
+Trung tâm nội thất học đường: chuyên sản xuất bảng chống bụi, bàn ghế.
+Trung tâm đồ chơi: Sản xuất các loại đồ chơi, học cụ phục vụ cho lứa tuổi
mẫu giáo bằng gỗ, nhựa, các loại tranh ảnh.
+Trung tâm chuyển giao công nghệ: Có nhiệm vụ cung ứng, lắp đặt các
thiết bị thí nghiệm chuyên dùng cho các trường Cao Đẳng Sư phạm.
+Trung tâm tin học: Có nhiệm vụ cung ứng các thiết bị tin học cho ngành
như cung ứng và lắp đặt các phòng máy tính, phòng học ngữ âm cũng như
các trang thiết bị khác như máy photo, máy in cho các trường, các Sở trong
cả nước. Các trung tâm đều tự chủ về tài chính và hạch toán kinh doanh
độc lập theo hình thức hạch toán đơn vị nội bộ của công ty.
Hoàng Ngọc Tuyển 21 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
4-Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất-quy trình công nghệ sản xuất
kinh doanh của công ty.
+Quy trình sản xuất đồ chơi bằng nhựa:
Gia nhiệt cắt tỉa
và ép đóng gói
bàn
ghế
mộc
thành phẩm
Bản thảo IN thành phẩm
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
-Nhóm thiết bị thí nghiệm vật lý: Mô hình, thiết bị thí nghiệm ( sản xuất và
nhập ngoại), tranh ảnh và băng hình.
-Nhóm thiết bị thí nghiệm, minh hoạ sinh vật: mô hình, tranh ảnh, thiết bị
thí nghiệm, giải phẫu.
-Nhóm thiết bị thí nghiệm hoá học: hoá chất, dụng cụ thuỷ tinh, tranh ảnh ,
băng hình.
-Nhóm thiết bị dạy môn toán tiểu học: bàn tính , bộ số, tranh, bảng tính,
thước...
-Nhóm thiết bị dạy môn tiếng việt: Bộ chữ, tranh....
-Nhóm phụ trợ cho giảng dạy: bàn ghế , bảng chống loá, phòng thí
nghiệm,....
II-Thực trạng quản lý và sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Thiết bị
Giáo dục I.
1-Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong hai năm gần đây.
Hoàng Ngọc Tuyển 23 Lớp Thương Mại KV16-K46
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân,Hà Nội
Biểu 1: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty TBGDI năm 2005-2006
Đơn vị tính: đồng
TT
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006
So sánh
số tiền tỷ lệ %
1 Doanh thu BH và ccdv 159.654.125.603 188.508.699 28.854.750.069 18,07
2 Doanh thu thuần 159.654.125.603 188.508.699 28.854.750.069 18,07
công ty đã phát huy khả năng sáng tạo của cán bộ công nhân viên, giảm giá
thành sản xuất, tiết kiệm được thời gian trong sản xuất. Cũng trong năm
này, Công ty đã nộp vào ngân sách Nhà nước được 2.314.698.400 đồng đạt
0,10% so với kế hoạch.
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính tăng lên tỷ lệ tăng doanh thu tăng lên
với tỷ lệ cao hơn tỷ lệ tăng chi phí tài chính. Cụ thể là (83,15%-so với
17,52%). Từ số liệu của hai năm cho ta thấy hoạt động tài chính của công
ty là có hiệu quả khi thu nhập hoạt động tài chính luôn lớn hơn chi phí
hoạt động tài chính. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đều
tăng lên đáng kể (tỷ lệ tăng tương ứng là 3,58% và 12,31%). Nguyên nhân
là do công ty đẩy mạnh công tác tiêu thụ về thay đổi bao bì sản phẩm, chi
phí quảng cáo, chi phí cho đại lý bán hàng tăng lên. Lợi nhuận sau thuế
tăng 82,18% tương ứng 1.005.687.644 đồng, tuy nhiên lợi nhuận khác của
công ty năm 2006 tăng lên so với năm 2005 là 23.247.144 đồng tương ứng
với tỷ lệ tăng là 16,50% lợi nhuận đã góp phần đáng kể vào việc bù đắp các
khoản chi phí chung cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Như vậy, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tương đối tốt, mức độ
tăng của doanh thu cao hơn mức độ tăng của chi phí.
2-Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty.
a-Cơ cấu tài sản:
đơn vị tính: đồng
Hoàng Ngọc Tuyển 25 Lớp Thương Mại KV16-K46