LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Tăng cường hoạt động huy động vốn tại ngân
hàng thương mại cổ phần Đại Tín chi nhánh Hà nội” là công trình nghiên cứu
riêng của tôi.
Các số liệu trong chuyên đề được sử dụng trung thực. Kết quả nghiên cứu
được trình bày trong chuyên đề này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình
nào khác.
Hà Nội ngày 09 tháng 06 năm 2013
Sinh viên
Lưu Thị Dung
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1 NHTM Ngân hàng thương mại
2 NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
3 NH Ngân hàng
4 DN Doanh nghiệp
5 NHTW Ngân hàng trung ương
6 VHĐ Vốn huy động
7 Trustbank Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín
8 XHCN Xã hội chủ nghĩa
9 CSH Chủ sở hữu
10 TCTD Tổ chức tín dụng
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
STT Tên bảng biểu, đồ thị, sơ đồ
Trang
1 Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ tổ chức của NHTMCP Đại Tín chi nhánh Hà Nội
2 Bảng 2.1 : Tổng nguồn vốn huy động
3 Bảng 2.2 : Tình hình sử dụng vốn
4 Bảng 2.3: Lợi nhuận trước thuế
5 Bảng 2.4:Tăng trưởng nguồn vốn huy động của chi nhánh
6 Bảng 2.5:cơ cấu vốn huy động theo loại tiền
7 Bảng 2.6: cơ cấu nguồn vốn theo tiền gửi kỳ hạn và không kỳ hạn
doanh của ngân hàng
Theo nhận định của các nhà kinh tế thì vốn nằm trong dân cư và các tổ chức
kinh tế còn nhiều, trong khi NHTM vẫn còn thiếu vốn. Trong những năm gần đây,
thị trường tài chính tiền tệ của nước ta tồn tại thực trạng: tốc độ tăng trưởng vốn huy
động luôn thấp hơn tăng trưởng tín dụng, nguồn vốn được huy động về với chi phí
cao, tính ổn định thấp, kết cấu sử dụng vốn không phù hợp về quy mô…Điều này, sẽ
làm hạn chế khả năng sinh lời, đồng thời đặt NH trước những rủi ro như rủi ro thanh
khoản, rủi ro lãi suất…, có thể dẫn đến sự mất ổn định trong toàn hệ thống NH.
Chính vì vậy, tăng cường huy động vốn có mức chi phí hợp lý, tính ổn định cao, phù
hợp với sử dụng vốn là yêu cầu hết sức cấp thiết của các NHTM Việt Nam. Không
nằm ngoài quỹ đạo chung ấy, NHTMCP Đại Tín chi nhánh Hà Nội cũng đang nỗ
lực cố gắng trong công cuộc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trên địa bàn. Chi nhánh
cũng có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt
trong hoạt động kinh doanh của mình. Do đó, vấn đề đặt ra đối với chi nhánh nói
riêng và cả ngân hàng TMCP Đại Tín nói chung hiện nay là làm thế nào để giữ chân
khách hàng, làm thế nào để tăng trưởng huy động vốn?
Xuất phát từ thực tiễn trên, em đã lựa chọn đề tài “ Tăng cường hoạt động
huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín chi nhánh Hà Nội ” với
hy vọng cung cấp được một cái nhìn tổng quát nhất về thực trạng hoạt động huy
động vốn ở một chi nhánh và từ đó đưa ra những đánh giá, kiến nghị về hoạt động
huy động vốn, đồng thời đưa ra những biện pháp nhằm tăng cường hoạt động huy
động vốn của chi nhánh nói riêng và cả ngân hàng nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn
trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Lý giải các lý luận về hoạt động huy động vốn cùng với việc nghiên cứu các
chỉ tiêu đánh giá hiểu quả hoạt động huy động vốn.
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn tại NHTMCP Đại Tín
chi nhánh Hà Nội
Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động huy động
hình thức mà ngân hàng thương mại sử dụng để thực hiện thu hút nguồn vốn nhàn
rỗi từ dân cư, TCKT nhằm đáp ứng nhu cầu tiết kiệm hoặc thanh toán của các chủ
thể trong nền kinh tế.
1.1.1.2 Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
Vốn là cơ sở nền tảng để NHTM hoạt động kinh doanh
Như đã đề cập ở trên, bất kỳ một DN nào hoạt động đều cần phải có vốn,
ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Hơn nữa hoạt động kinh doanh chính
của ngân hàng lại là huy động để cho vay nên vốn lại càng giữ một vai trò hết sức
quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Không có vốn thì ngân hàng
không thể thực hiện các nghiệp vụ cho vay để sinh lời của mình.
Trên thực tế, ngân hàng nào có khối lượng vốn lớn hơn thì ngân hàng đó sẽ
có thế mạnh cạnh trạnh trong kinh doanh hơn các ngân hàng khác
Vốn quyết định quy mô hoạt kinh doanh của NHTM
Vốn của ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp tín
dụng, hoạt động bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ hay trong hoạt động thanh toán của
các NHTM. So với các ngân hàng nhỏ thì các ngân hàng lớn có khoản mục về đầu
tư và cho vay đa dạng hơn. Hơn nữa, do lượng vốn hạn hẹp nên các NHTM nhỏ sẽ
không phản ứng nhanh nhạy trước tình huống biến động về lãi suất thị trường, từ đó
tác động đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và thành phần kinh
tế. Vì vậy, với một ngân hàng có nguồn vốn lớn thì khả năng thu hút vốn tăng, khi
khả năng tăng vốn của NHTM dồi dào thì chắc chắn ngân hàng sẽ mở rộng và đáp
ứng nhu cầu vay, có điều kiện để mở rộng thị trường tín dụng, tăng khả năng thanh
toán và các dịch vụ ngân hàng.
Vốn quyết định khả năng cạnh tranh của NHTM
Đối với một ngân hàng thì sự hiện đại hóa của trang thiết bị, cơ sở vật chất và
sự đa dạng về các hình thức dịch vụ mới là điều không thể thiếu. Ngân hàng có quy
mô vốn càng lớn thì nguồn lực đầu tư cho cơ sở vật chất càng nhiều thì càng nâng
tầm và vị thế của ngân hàng, tăng sức cạnh tranh đối với các ngân hàng khác. Đồng
thời, khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng
quan hệ tín dụng với tổ chức kinh tế xã hội trong nền kinh tế.
chủ động sử dụng nguồn tiền này một cách chủ động và có kế hoạch. Mức lãi suất
cụ thể phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách
hàng trên cơ sở xem xét mức độ an toàn của ngân hàng cũng như quan hệ cung cầu
về vốn tại thời điểm đó. Tuy nhiên để tạo tính lỏng cho loại tiền gửi này thì khách
hàng có thể được rút trước hạn và sẽ được hưởng lãi thấp hơn quy định.
Tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm là tiền để dành của dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm
mục đích hưởng lãi. Ở nước ta, các hình thức tiền gửi tiết kiệm phổ biến là:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi
nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi được rút ra sau một thời hạn
nhất định. Tuy nhiên nếu khách hàng muổn rút trước hạn thì ngân hàng vẫn đáp ứng
nhưng sẽ được hưởng lãi suất thấp thậm chí không được hưởng lãi.
Tiền gửi tiết kiệm có mục đích:
Thường là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm mục đích xây dựng nhà
ở. Những người tham gia loại hình tiết kiệm này ngoài việc hưởng lãi còn được ngân
hàng cho vay nhằm mục đích bổ sung thêm vốn cho xây dựng nhà ở.
1.1.2.2 Vốn vay
Các ngân hàng thương mại có thể vay vốn từ NHTW, vay các ngân hàng
trung gian tài chính khác hoặc vay từ công chúng.
Phát hành chứng từ có giá
Trong hình thức này ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ để huy động
vốn thường nhằm mục đích đã định, ví dụ phát hành kỳ phiếu nhằm cho vay mua
nông sản, để đầu tư vào một dự án…Việc huy động vốn dưới hình thức phát hành kỳ
phiếu được áp dụng theo hai phương thức: phát hành theo mệnh giá và phát hành
dưới hình thức chiết khấu.
Vay của Ngân hàng Trung ương
Bất kỳ ngân hàng thương mại nào khi được NHTW cho phép thành lập hoạt
động đều được hưởng quyền vay vốn từ NHTW trong trường hợp cần bổ sung nhu
cầu vốn khả dụng. Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng thương
đi vào hoạt động, được ghi trong văn bản pháp quy. Theo Nghị định
141/2005/2006/NĐ-CP quy định mức vốn pháp định áp dụng cho đến năm 2008 là
1.000 tỷ đồng và áp dụng cho đến năm 2010 là 3.000 tỷ đồng.
Các quỹ dự trữ được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm bổ sung vào vốn tự có:
quỹ dự trữ để bổ sung vốn pháp định và quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi
ro.
Vốn coi như vốn tự có: gồm lợi nhuận chưa chia, các quỹ khác chưa sử dụng
có thể xem là phần vốn coi như tự có của ngân hàng thương mại vì đó là những
khoản tiền mà ngân hàng phải sử dụng vào mục đích nhất định nhưng chưa sử dụng.
Vốn CSH ngân hàng thường mang tính chất ổn định, nó thường chiếm một tỷ
trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (khoảng 10%) nhưng nó có một vị trí
quan trọng, quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở đẻ ngân hàng tiến
hành kinh doanh, huy động và cho vay. Người ta ví nó như một cái đệm để chống đỡ
sự giảm giá trị của những tài sản có của ngân hàng mà có thể đẩy ngân hàng đến
tình trạng thiếu khả năng chi trả và phá sản.
1.1.3 Nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại
Vốn huy động của ngân hàng thương mại được xem là những giá trị tiền tệ
mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội
thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay và một số nguồn khác,
được dùng làm vốn kinh doanh.
Đặc điểm của vốn huy động
• Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử
dụng và phải hoàn trả đúng gốc, lãi khi đến hạn hoặc sẽ hoàn trả khi các chủ thể có
nhu cầu rút vốn.
• Vốn huy động là nguồn chủ yếu và quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, bởi đặc trưng cơ bản của ngân hàng thương mại là “ đi vay để cho vay”.
• Vốn huy động luôn luôn biến động vì phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người gửi
tiền. Bởi vì họ có thể gửi vào và rút ra bất cứ khi nào.
1.1.4 Các hình thức huy động vốn của NHTM
1.1.4.1 Huy động vốn từ tiền gửi
toán và đảm bảo an toàn. TG của các TCKT chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh
của doanh nghiệp, khả năng thanh toán, tình hình cung ứng tiền tệ và chính sách của
ngân hàng trong từng thời kỳ.
Huy động vốn từ tiền gửi của các TCTD khác
Nhằm cung cấp các tiện ích ngân hàng cho khách hàng một cách hoàn hảo và
để phát triển hệ thống liên kết giữa các ngân hàng với nhau, các NHTM mở tài
khoản thanh toán lẫn nhau.
1.1.4.2 Huy động từ phát hành giấy tờ có giá
Bên cạnh việc huy động vốn từ tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá cũng là một
kênh huy động vốn phổ biến của các NHTM.
Giấy tờ có giá là giấy tờ chứng nhận của ngân hàng phát hành để huy động
vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một khoảng thời gian
nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa ngân hàng và khách
hàng. Căn cứ theo thời hạn, giấy tờ có giá được chia thành hai loại: Giấy tờ có giá
ngắn hạn và giấy tờ có giá dài hạn.
Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá thường đượcc các NHTM
thực hiện theo từng đợt, tùy vào kế hoạch và nhu cầu của Ngân hàng và phải được
sự cho phép của NHNN. Hình thức huy động này thường có chi phí cao hơn huy
động từ tiền gửi khách hàng do lãi suất huy động cao hơn để hấp dẫn khách hàng,
cộng thêm các chi phí quảng cáo, in ấn, tiếp thị… Tuy nhiên ưu điểm của hình thức
huy động này là Ngân hàng có thể tập trung được một khối lượng vốn lớn trong một
khoảng thời gian nhất định và chủ động sử dụng do nguồn vốn này có tính ổn định
cao
1.1.4.3 Huy động vốn qua đi vay
Vay các TCTD khác: Là hình thức các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay
các TCTD khác trên thị trường liên Ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ vượt
yêu cầu do có sự gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay có
thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại,
các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo khả
năng thanh khoản. Như vậy, nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng
từ các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt như séc trong quá trình chi trả, tiền
ký quỹ bảo lãnh, ký quỹ mở LC, tiền chuyển đến Ngân hàng đầu mối từ các Ngân
hàng thành viên trong hoạt động tài trợ… Đây thường là các khoản vốn với lãi suất
thấp (không có lãi hoặc lãi suất không kỳ hạn) nhưng mức độ ổn định không cao.
1.1.5 Nguyên tắc và mục tiêu huy động vốn trong NHTM:
1.1.5.1 Nguyên tắc huy động vốn trong ngân hàng thương mại
Nguyên tắc thứ nhất: Việc huy động vốn phải trên cơ sở nhu cầu cho vay.
Ngân hàng phải tính toán nhu cầu cho vay để xác định số vốn cần huy động. Phải
đảm bảo cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn về qui mô, về thời hạn để nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng.
Nguyên tắc thứ hai: Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng (bao gồm các
Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, các cơ quan nhà nước, đoàn thể xã
hội và các tầng lớp dân cư) phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn
lẫn lãi theo thoả thuận trước giữa Ngân hàng và khách hàng.
Nguyên tắc thứ ba: Ngân hàng không được phát hành trái phiếu mà việc phát
hành trái phiếu đó tạo cho các chủ sở hữu giành được quyền quản lý trực tiếp và
gián tiếp đối với ngân hàng.
1.1.5.2Mục tiêu huy động vốn trong ngân hàng thương mại
Một là, tìm kiếm nguồn vốn rẻ
Chi phí trả lãi được coi là chi phí lớn nhất trong các chi phí của ngân hàng.
Trong đó lớn nhất là chi phí trả lãi đầu vào cho tiền gửi có kỳ hạn, trả lãi trái phiếu
và kỳ phiếu Về nguyên tắc, những nguồn vốn có thời hạn càng ngắn và tính ổn
định thấp thì chi phí nguồn vốn cũng phải thấp tương ứng. Tuy nhiên nguồn rẻ thì
lại đồng nghĩa với giảm tính cạnh tranh của ngân hàng. Vì vậy mà các nhà quản lý
cần phải tính toán để cân đối được chi phí và số lượng huy động được nhằm đảm
bảo doanh thu bù đắp chi phí và thu được tỷ lệ thu nhập mong đợi.
Hai là tạo ra nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp
Cơ cấu vốn cần đa dạng thể hiện ở việc duy trì một tỷ lệ giữa vốn huy động
ngắn hạn và dài hạn, giữa vốn nội tệ và ngoại tệ. Một ngân hàng có chất lượng huy
động vốn cao sẽ có nguồn vốn dồi dào và cơ cấu vốn cân đối, tránh cho ngân hàng
quyết định đến khả năng thanh toán cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh và uy
tín của ngân hàng
Quy mô NVHĐ là tổng khối lượng vốn huy động mà ngân hàng huy động
được trong một thời gian nhất định. Một ngân hàng huy động vốn hiệu quả khi quy
mô nguồn vốn phải không ngừng tăng trưởng và có cơ cấu vốn huy động hợp lý .
Tốc độ tăng trưởng NVHĐ
=
=
NVHĐ năm t – NVHĐ (t-1)
NVHĐ năm (t-1)
Cơ cấu nguồn VHĐ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài sản và quyết định chi
phí của ngân hàng. Cơ cấu nguồn vốn được đánh giá thông qua chỉ tiêu:
Tỷ trọng từng nguồn vốn
huy động
=
=
Nguồn vốn huy động loại i
Tổng nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh nguồn vốn nào mà ngân hàng huy động được nhiều
nhất, ít nhất. Từ đó ngân hàng tìm ra được những nguyên nhân, biện pháp phù hợp
để đưa ra cơ cấu huy động vốn hợp lý nhất.Ngoài ra, chỉ tiêu này còn cho thấy mức
độ ổn định hay không ổn định của nguồn vốn huy động. Thông thường các ngân
hàng thường tính toán tỷ trọng nguồn vốn huy động theo thời hạn huy động, theo
loại tiền huy động, theo đối tượng huy động
1.1.6.2 Chi phí huy động vốn
Chi phí huy động vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
hiệu quả huy động vốn. Chi phí huy động vốn thể hiện ngân hàng phải bỏ ra bao
nhiêu đồng chi phí để có một đồng vốn huy động. Nguồn vốn huy động được gọi là
có hiệu quả khi có chi phí huy động thấp và đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn một
cách kịp thời nhất. Vì vậy, việc xác định chi phí huy động là một việc làm rất cần
ánh dựa trên các khía cạnh sau:
Đầu tiên, đó là về quy mô: Quy mô phải đủ lớn để đáp ứng những nhu cầu về tín
dụng, thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng. Quy mô được
mở rộng góp phần nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn.
Tiếp theo, đó là về kỳ hạn: Kỳ hạn là một chỉ tiêu phản ánh tính ổn định của nguồn
vốn và cũng có liên quan tới kỳ hạn sử dụng nguồn vốn đó. Thông thường các ngân
hàng vẫn sử dụng một phần nguồn vốn có thời hạn ngắn để đầu tư vào các tài sản có
thời hạn dài nhưng chỉ một tỷ lệ nhất định (theo quy định hiện tại là 30% nguồn vốn
ngắn hạn được cho vay dài hạn), nếu cho vay quá nhiều thì sẽ ảnh hưởng tới khả
năng thanh khoản của ngân hàng, bởi nguồn cho vay thì chưa thu được trong khi
nguồn đi vay thì đã đến hạn. Ngược lại ngân hàng sử dụng nguồn vốn dài hạn để cho
vay ngắn hạn thì sẽ khó đảm bảo chênh lệch lãi suất và sẽ không hiệu quả vì nguồn
vốn dài hạn có chi phí huy động cao hơn trong khi cho vay ngắn hạn thường thấp
hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn.
Và về lãi suất: Về nguyên tắc, lãi suất trên tài sản phải cao hơn lãi suất trên nguồn
vốn huy động có cùng kỳ hạn và các loại tài sản có thời hạn dài hơn phải có lãi suất
cao hơn để bù đắp chi phí trả lãi cao hơn bên nguồn vốn.
Nhìn chung, đối với mỗi ngân hàng cần phải có những cách xác định khác
nhau để đánh giá hiệu quả của hoạt động huy động vốn, góp phần tăng cường hoạt
động huy động vốn nhằm mang lại lợi nhuận cao và sự an toàn cho ngân hàng.
1.2 Nhân tố tác động tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1 Nhân tố khách quan:
Môi trường chính trị - pháp lý:
Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt – tiền tệ, do đó
chịu tác động bởi các chính sách, quy định của Chính Phủ và đặc biệt là chịu sự
giám sát chặt chẽ của ngân hàng nhà nước.
Với bất cứ một ngân hàng nào thì một môi trường chính trị ổn định, không có
bạo động sẽ là một điều kiện thuận lợi để hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt
động huy động vốn nói riêng sẽ ngày càng phát triển hơn nữa.
Các ngân hàng thương mại hiện nay huy động vốn tiền gửi sau đó lại cho vay
người dân có thói quen chi tiêu bằng tiền mặt hoặc mua vàng, ngoại tệ cất trữ, chính
vì thế mà các ngân hàng vẫn chưa huy động được hết nguồn vốn tiềm tàng còn trong
dân cư. Hơn nữa đại bộ phận dân cư ở vùng nông thôn cũng gặp khó khăn về vật
chất trình độ dân trí còn thấp nên đang còn khá xa lạ đối với các sản phẩm dịch vụ
của ngân hàng, điều này làm cho hoạt động huy động vốn của các ngân hàng gặp
khá nhiều khó khăn.
Sự cạnh tranh từ các đối thủ
Đối thủ của một NHTM trong việc huy động vốn không chỉ là những ngân
hàng khác, những tổ chức tín dụng có cùng nghiệp vụ nhận tiền gửi hay phát hành
giấy tờ có giá. NHTM còn phải cạnh tranh với các công ty Bảo hiểm và thị trường
chứng khoán để thu hút vốn từ các chủ thể trong nền kinh tế. Khác với thị trường
chứng khoán, các công ty bảo hiểm cạnh tranh với Ngân hàng ngay cả trong điều
kiện nền kinh tế phát triển cao.
Điểm hạn chế của hình thức gửi tiền ngân hàng so với Bảo hiểm là không
mang tính bảo vệ trong khi những hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vẫn có tính tiết kiệm
như gửi tiền ngân hàng. Kết quả là một dòng vốn không nhỏ không tới các NHTM
nữa mà chuyển sang các công ty Bảo hiểm. Do vậy mà các ngân hàng gặp không ít
khó khăn, hướng giải quyết như thế nào để thu hút được nguồn vốn là điều mà các
cấp quản lý ngân hàng quan tâm.
1.2.2 Nhân tố chủ quan:
Quan điểm của lãnh đạo Ngân hàng về huy động vốn
Vai trò và tính quyết định của các nhà lãnh đạo trong một Ngân hàng là
không thể phủ nhận. Họ có nhiệm vụ hoạch định chính sách đối với từng hoạt động
của ngân hàng. Những chính sách này được áp dụng vào thực tiễn thông qua việc
thực hiện các biện pháp, nghiệp vụ cụ thể.
Huy động vốn giữ vị trí nhất định trong chính sách của các nhà lãnh đạo ngân
hàng, tuỳ thuộc vào quan điểm của họ về hoạt động này cũng như về các hình thức
huy động vốn khác nhau. Huy động tiền gửi tiết kiệm từ dân cư có thể được chú
trọng nhưng cũng có thể tiền gửi từ các doanh nghiệp và tổ chức mới là vấn đề được
ưu tiên. Điều đó không chỉ khác nhau giữa các ngân hàng mà còn thay đổi với một