BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ
CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI CÁT LỢI
GV HƯỚNG DẪN : TH.S LÊ THỊ HỒNG SƠN
SV THỰC HIỆN : LÊ THỊ PHƯƠNG
MSSV : 11005276
LỚP : CDKT13ATH
THANH HÓA, THÁNG 05 NĂM 2014
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
LỜI CẢM ƠN
Trong những năm ngồi trên ghế nhà trường, là những thời gian khó quên trong
quãng đời sinh viên của chúng em. Thầy cô đã tận tình giảng dậy trang bị hành trang
để chúng em có đủ tự tin bước vào đời. Với những kiến thức nhận được trong thời gian
học tập tại trường Đại Học Công Nghiệp TP. Hồ Chí Minh với những hiểu biết thực
tiễn có được qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Cát
Lợi đã giúp chúng em có cái nhìn toàn diện và thực tế hơn. Để có đuợc kết quả này
chúng em chân thành cảm ơn thầy cô trường Đại Học Công Nghiệp TP.Hồ Chí Minh
đã hết lòng truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm qúy báu cho chúng em trong suốt thời
gian học tập tại trường.
Chúng em xin ghi nhận tất cả những giá trị cao quý ấy xin gửi lòng biết ơn sâu
sắc đến toàn thể quý thầy cô trường Đại Học Công Nghiệp TP.Hồ Chí Minh và hơn
thế nữa em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Giảng viên: Th.S Lê Thị Hồng Sơn,
người đã tận tình giảng dạy truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm để em hoàn
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Thanh Hóa, Ngày …. Tháng … năm 2014
GIẢNG VIÊN
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: 11005276: - Lớp: CDKT13ATH Trang:iii
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG
VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
1.1.NHỮNG VẤN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC
KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 3
1.1.1.Một số khái niệm liên quan đến kế toán tiền lương và các khoản trích
theo lương
1.1.2. Đặc điểm của kế toán tiền lương
1.1.3. Vai trò và nhiệm vụ của tiền lương:
1.1.3.1. Vai trò
1.1.3.2. Nhiệm vụ
1.1.4.Các hình thức tiền lương
1.1.4.1 Tiền lương trả theo thời gian
1.1.4.2. Tiền lương trả theo sản phẩm
1.1.5. Điều kiện ghi nhận tiền lương
1.2.KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG THEO QUY ĐỊNH CỦA CHUẨN MỰC KẾ
TOÁN HIỆN HÀNH 13
1.2.1.Hình thức tiền lương theo thời gian:
1.2.2.Hình thức tiền lương theo sản phẩm:
1.2.3.Qũy lương và các khoản trích theo lương:
1.2.3.1.Qũy lương:
1.2.3.2.Các khoản trích theo lương
1.3.KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
THEO CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN HIỆN HÀNH 19
1.3.1.Hạch toán lao động:
1.3.2.Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: 11005276: - Lớp: CDKT13ATH Trang:v
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
3.2. MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TIỀN LƯƠNG
VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CP SX&TM
CÁT LỢI: 70
3.2.1. Về thủ tục và các chứng từ khi tiến hành tính lương:
3.2.2.Về tài khoản kế toán:
3.2.3.Về vấn đề công nghệ, nhân lực:
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: 11005276: - Lớp: CDKT13ATH Trang:vii
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ta hiện nay, các tổ chức
kinh tế, doanh nghiệp có quyền tổ chức và thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình một cách độc lập tự chủ theo qui định của pháp luật. Họ phải tự hạch toán và
đảm bảo doanh nghiệp mình hoạt động có lợi nhuận, và phát triển lợi nhuận đó, từ đó
nâng cao lợi ích của doanh nghiệp, của người lao động. Đối với nhân viên, tiền lương
là khoản thù lao của mình sẽ nhận được sau thời gian làm việc tại công ty. Còn đối với
công ty đây là một phần chi phí bỏ ra để có thể tồn tại và phát triển được.Một công ty
sẽ hoạt động và có kết quả tốt khi kết hợp hài hoà hai vấn đề này.
Do vậy, việc hạch toán tiền lương là một trong những công cụ quản lý quan trọng
của doanh nghiệp. Hạch toán chính xác chi phí về lao động có ý nghĩa cơ sở, căn cứ để
xác định nhu cầu về số lượng, thời gian lao động và xác định kết quả lao động. Qua đó
nhà quản trị quản lý được chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm. Mặt khác công
tác hạch toán chi phí về lao động cũng giúp việc xác định nghĩa vụ của doanh nghiệp
đối với nhà nước. Đồng thời nhà nước cũng ra nhiều quyết định liên quan đến việc trả
lương và các chế độ tính lương cho người lao động. Trong thực tế, mỗi doanh nghiệp
có đặc thù sản xuất và lao động riêng, cho nên cách thức hạch toán tiền lương và các
được xác định bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường lao động.
Ở việt nam, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương là một phần thu
nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ được nhà nước phân phối có kế hoạch
cho người lao động mà họ đã cống hiến.
Trong kinh tế thị trường, sức lao động được coi là hàng hóa do vậy tiền lương
được coi là giá cả sức lao động, được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng
lao động và người lao động, do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được
trả theo năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc.
Như vậy tiền lương phản ánh nhiều quan hệ kinh tế xã hội khác nhau. Đối với chủ
doanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí sản xuất - kinh doanh cho nên tiền lương
luôn được tính toán và quản lý chặt chẽ.
Còn đối với người lao động, tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ,
là phần thu nhập chủ yếu có ảnh hưởng đến mức sống của đại đa số người lao động.
Do đó phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích, là động lực để người lao động phát
triển trình độ và khả năng lao động của mình.
Trong điều kiện của một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần như ở nước ta
hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vực
kinh tế.
Trong thành phần kinh tế nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp, tiền lương
là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các xơ quan tổ chức nhà nước trả cho
người lao động theo cơ chế và chính sách của nhà nước và được thể hiện trong hệ
thống tháng lương, bảng lương, do nhà nước quy định.
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH Trang:
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
Đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tiền lương chịu sự tác động, chi phối
rất lớn của thị trường và thị trường lao động nhưng vẫn phải nằm trong khuôn khổ
pháp luật.
Đó là những giao dịch trực tiếp giữa chủ và thợ, là những mặc cả cụ thể giữa bên làm
thuê và bên đi thuê.
Quá trình tái sản xuất sức lao động được thực hiện bởi việc trả công cho người lao
động thông qua lương. Bản chất của sức lao động là sản phẩm lịch sử luôn được hoàn
thiện và nâng cao nhờ thường xuyên được khôi phục và phát triển, còn bản chất của tái
sản xuất sức lao động là có được một tiền lương sinh hoạt nhất định để họ có thể duy
trì và phát triển sức lao động mới (nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ sau), tích luỹ kinh
nghiệm và nâng cao trình độ, hoàn thiện kỹ năng lao động.
+ Chức năng là công cụ quản lý của doanh nghiệp:
Mục đích cuối cùng của các nhà quản trị là lợi nhuận cao nhất. Để đạt được mục
tiêu đó họ phải biết kết hợp nhịp nhàng và quản lý một cách có nghệ thuật các yếu tố
trong quá trình kinh doanh. Người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra giám
sát, theo dõi người lao động làm việc theo kế hoạch, tổ chức của mình thông qua việc
chi trả lương cho họ, phải đảm bảo chi phí mà mình bỏ ra phải đem lại kết quả và hiệu
quả cao nhất. Qua đó nguời sử dụng lao động sẽ quản lý chặt chẽ về số lượng và chất
lượng lao động của mình để trả công xứng đáng cho người lao động.
+ Chức năng kích thích lao động ( đòn bẩy kinh tế):
Với một mức lương thoả đáng sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển tăng
năng xuất lao động. Khi được trả công xứng đáng người lao động sẽ say mê, tích cực
làm việc, phát huy tinh thần làm việc sáng tạo, họ sẽ gắn bó chặt chẽ trách nhiệm của
mình với lợi ích của doanh nghiệp. Do vậy, tiền luơng là một công cụ khuyến khích
vật chất, kích thích người lao động làm việc thực sự có hiệu quả cao.
1.1.3.2. Nhiệm vụ
Trong một doanh nghiệp, để công tác kế toán hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
và trở thành một công cụ đắc lực phục vụ công tác quản lý toàn doanh nghiệp thì
nhiệm vụ của bất kỳ công tác kế toán nào đều phải dựa trên đặc điểm, vai trò của đối
tượng được kế toán. Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương cũng không
nằm ngoài qui luật này. Tính đúng thù lao lao động và thanh toán đầy đủ tiền lương
và các khoản trích theo lương cho người lao động một mặt kích thích người lao động
quan tâm đến thời gian lao động, đến chất lượng và kết quả lao động mặt khác góp
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH Trang:
Chuyên đề tốt nghiệp
tạm thời).
-Khi công việc đòi hỏi tính chính xác và chất lượng cao.
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH Trang:
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
-Khi sản xuất có những gián đoạn ngưng trệ mà chưa thể khắc phục được.
-Áp dụng cho những công việc có tính chất đặc biệt đòi hỏi tính sáng tạo cao.
-Khi công việc ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của người khác.
Ưu điểm của hình thức trả lương theo thời gian:
-Trả lương theo thời gian rất dễ tính toán và bảo đảm cho nhân viên một khoản
tiền thu nhập nhất định trong thời gian làm việc.
Ngày nay tiền lương trả theo thời gian được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới vì
yếu tố chất lượng và độ chính xác ngày càng được chú trọng cũng như mức độ cơ giới
hóa và tự động hóa ngày càng cao.
Hạn chế:
Tiền lương trả theo thời gian chưa thực sự gắn chặt giữa thu nhập với kết quả lao
động. Nó làm nảy sinh các yếu tố bình quân chủ nghĩa trong trả lương.
Để khắc phục hạn chế trên người ta áp dụng hình thức tiền lương có thưởng. Tiền
thưởng đóng vai trò khuyến khích người nhân viên nâng cao hiệu năng làm việc. Bên
cạnh đó cần tăng cường công tác quản lý thường xuyên kiểm tra đôn đốc việc thực
hiện công việc của nhân viên.
1.1.4.2. Tiền lương trả theo sản phẩm
Là hình thức tiền lương mà tiền lương người lao động phụ thuộc vào số lượng
sản phẩm (hay khối lượng công việc) họ làm ra và đơn giá trả cho một đơn vị sản
phẩm.
Hình thức tiền lương này tạo sự kích thích cao đối với người lao động, động viên
mạnh mẽ họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nó cũng khuyến khích nhân viên học
tập, nâng cao trình độ lành nghề … để qua đó tăng năng suất lao động nhờ đó mà tiền
lương được trả cao .
Tuy nhiên tiền lương trả theo sản phẩm có thể không khuyến khích việc tiết kiệm
Chế độ tiền lương này gắn trực tiếp tiền lương của từng cá nhân với kết quả lao
động của bản thân họ, do đó tạo ra sự khuyến khích cao đối với người lao động nhằm
nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên chế độ tiền lương bộc lộ rõ nhất những nhược
điểm của hình thức trả lương theo sản phẩm. Đó là: công nhân ít quan tâm đến việc
bảo vệ máy móc thiết bị, không chú ý đến tiết kiệm vật tư, nguyên vật liệu, và không
quan tâm đến kết quả chung của tập thể .
Vì vậy khi áp dụng chế độ tiền lương này doanh nghiệp cần phải có những quy
định chặt chẽ nhằm hạn chế những ảnh hưởng không tốt của chế độ tiền lương này.
b. Chế độ tiền lương sản phẩm có thưởng
Đây là chế độ tiền lương sản phẩm cá nhân kết hợp với hình thức tiền thưởng khi
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH Trang:
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
công nhân hoàn thành vượt mức sản lượng quy định.
Tiền lương sản phẩm có thưởng được xác định như sau :
Lspthưởng = Lsp + ( mh/100 x Lsp )
Trong đó:
h: là phần trăm hoàn thành vượt mức sản lượng .
m: là % tiền thưởng so với lương sản phẩm cho 1% hoàn thành vượt mức sản
lượng .
Chế độ tiền lương khuyến khích cao công nhân hoàn thành vượt mức quy định,
nhờ vậy mà được hưởng thêm tiền thưởng vượt mức.
Chế độ tiền lương này khi áp dụng cần tính cho cả tháng để tránh tình trạng trong
tháng công nhân không đạt mức mà vẫn được hưởng tiền thưởng.
c. Chế độ tiền lương lũy tiến
Chế độ tiền lương này thì đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm sẽ được
tăng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vượt quy định .
Công thức tính tiền lương của chế độ này như sau:
Lsplt = ĐG xQ + ĐGlt x (Q – Msl)
Trong đó:
Khi thực hiện chế độ tiền lương này cần lưu ý 2 vấn đề:
-Tính tiền lương sẩn phẩm chung của tập thể:
Lsptt = ĐG x Q
Trong đó:
ĐG – là tiền lương trả cho tập thể lao động khi thực hiện một đơn vị sản phẩm.
Q – là Sản lượng chung của tập thể .
Đơn giá sản phẩm trả cho tập thể có thể tính theo 2 cách
ĐG = Tổng Lcb nhóm / Msl nhóm
ĐG = Mtg x MLbq
Ở đây : MLbq – Mức lương bình quân của nhóm .
-Phân phối lương cho các thành viên trong nhóm
Tiền lương của mỗi công nhân được tính toán dựa vào các yếu tố sau đây:
-Lương cấp bậc mà công nhân đảm nhận
-Thời gian làm việc thực tế của từng công nhân
Có những phương pháp chia lương cụ thể như sau:
+Phương pháp: Dùng hệ số điều chỉnh
+Phương pháp dùng giờ hệ số
f. Chế độ tiền lương khoán
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH Trang:
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
Chế độ tiền lương này thường được áp dụng cho những công việc mà nếu giao
từng chi tiết, bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng công việc cho
người lao động trong một khoảng thời gian nào đó phải hoàn thành mới có hiệu quả.
Chế độ tiền lương này thường được áp dụng trong các nghành như xây dựng cơ bản,
nông nghiệp …
Về thực chất chế độ tiền lương khoán là một dạng đặc biệt của hình thức tiền
lương sản phẩm.
Đơn giá khoán có thể được tính cho 1m² diện tích (trong xây dựng cơ bản), cho
1hec-ta (trong nông nghiệp)…
-Mức độ cạnh tranh của sản phẩm bán.
Trên đây là là những hình thức, chế độ tiền lương chủ yếu mà các doanh nghiệp
thường áp dụng. Tuy nhiên trong thực tế các phương pháp trả công thường đa dạng và
các doanh nghiệp có thể áp dụng một cách linh hoạt tùy thuộc vào những điều kiện cụ
thể của mỗi doanh nghiệp .Có thể nói sẽ không thể có một phương pháp trả công nào
được coi là hoàn hảo, vì vậy mỗi doanh nghiệp cần xuất phát từ thực tế của mình để
lựa chọn các hình thức, chế độ trả lương sao cho tối ưu.
1.1.5. Điều kiện ghi nhận tiền lương
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH Trang:
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
1.2.KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG THEO QUY ĐỊNH CỦA CHUẨN MỰC KẾ
TOÁN HIỆN HÀNH.
Ở nước ta hiện nay việc trả lương cho người lao động trong các DN chủ yếu được
tiến hành theo 2 hình thức: Hình thức tiền lương theo thời gian và hình thức tiền
lương theo sản phẩm.
1.2.1.Hình thức tiền lương theo thời gian:
• Tiền lương theo thời gian là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm việc,
cấp bậc kỹ thuật và thang lương người lao động.
• Đơn vị tính lương thời gian là lương tháng, lương ngày hoặc lương giờ.
• Công thức:
Tiền lương
theothời gian
=
Thời gian làm việc
thực tế
x
Đơn giá tiền lương
thời gian
• Trả lương theo thời gian giản đơn:
Công thức:
Tiền lương thời gian có thưởng =
Tiền lương thời gian
giản đơn
+
Tiền thưởng có
tính chất lương
Ưu điểm: dễ làm, dễ tính đến thời gian làm việc thực tế có thể lập bảng tính sẵn.
Nhược điểm: Chưa đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động vì hình thức này
chưa tính đến một cách đầy đủ chất lượng lao động, chưa phát huy hết khả năng sẵn có
của người lao động nên không khuyến khích được người lao động quan tâm đến kết
quả lao động.
Vì vậy để khắc phục bớt những hạn chế này ngoài việc tổ chức theo dõi ghi chép
đầy đủ thời gian làm việc của công nhân viên, DN cần phải thường xuyên kiểm tra tiến
độ làm việc và chất lượng công việc của công nhân viên kết hợp với chế độ khen
thưởng hợp lý.
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH Trang:
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
1.2.2.Hình thức tiền lương theo sản phẩm:
Theo hình thức này tiền lương tính trả cho người lao động căn cứ vào kết quả lao
động, số lượng và chất lượng sản phẩm công việc lao vụ đã hoàn thành và đơn giá tiền
lương cho một đơn vị sản phẩm, công việc và lao vụ đó.
Các hình thức tiền lương sản phẩm như sau:
-Hình thức trả lương sản phẩm trực tiếp: Được áp dụng chủ yếu đối với công nhân
trực tiếp sản xuất căn cứ vào số lượng sản phẩm mà họ hoàn thành đúng quy cách,
phẩm chất và đơn giá của mỗi đơn vi SP.
Công thức:
Tiền lương SP = Khối lượng SP hoàn thành x Đơn giá tiền lương
-Hình thức trả lương sản phẩm gián tiếp: Đây là tiền lương trả cho công nhân viên
họ sẽ nhận được sau khi hoàn thành công việc kịp thời gian được giao. Căn cứ vào
khối lượng từng công việc hoặc khối lượng sản phẩm và thời gian cần thiết để hoàn
thành mà DN tiến hành khoán quỹ lương.
1.2.3.Qũy lương và các khoản trích theo lương:
1.2.3.1.Qũy lương:
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương mà doanh nghiệp trả cho
tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý. Thành phần quỹ tiền lương bao gồm nhiều
khoản như lương thời gian (tháng, ngày, giờ), lương sản phẩm, phụ cấp (chức vụ, đắt
đỏ, khu vực. . .), tiền thưởng trong sản xuất.Quỹ tiền lương(hay tiền công) bao gồm
nhiều loại, tuy nhiên về hạch toán có thể chia thành tiền lương lao động trực tiếp và
tiền lương lao động gián tiếp, trong đó chi tiết theo tiền lương chính và tiền lương phụ.
1.2.3.2.Các khoản trích theo lương.
* Bảo hiểm xã hội (BHXH):
Quỹ BHXH được hình thành do trích lập và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp theo quy định nhà nước. Theo quy định hiện hành hằng tháng đơn vị
tiến hành trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương cấp bậc phải
chi trả cho CNV trong một tháng và phân bổ cho các đối tượng liên quan đến việc sử
dụng lao động.
Người sử dụng lao động phải trích một tỷ lệ nhất định trên tổng số quỹ lương cấp
bậc và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, còn một tỷ lệ do người lao động trực tiếp
đóng góp và được khấu trừ vào thu nhập trực tiếp của họ.
Quỹ BHXH được thiết lập nhằm tạo ra nguồn tài trợ cho CNV trong trường hợp
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, nghỉ hưu. Theo chế độ hiện hành nguồn quỹ BHXH
do cơ quan chuyên trách quản lý và chi trả các trường hợp nghỉ hưu, mất sức lao động,
tai nạn, tử tuất, ở tại doanh nghiệp được phân cấp trực tiếp chi trả các trường hợp như
ốm đau, thai sản và tổng hợp chi tiêu để quyết toán với cơ quan chuyên trách.
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH Trang:
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
Việc hình thành nên quỹ BHXH còn do một số nguồn khác như doanh nghiệp làm
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH Trang: