LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn là Thạc sĩ Nguyễn Thị Thúy đã
giúp đỡ em tận tình, chu đáo. Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các anh chị
trong Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế - Chi nhánh Hà Nội đã giúp em rất
nhiều trong quá trình thực tập cũng như thu thập tài liệu, nghiên cứu tại Chi nhánh, để
em có thể hoàn thành bài khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Huyền
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
BĐS Bất động sản
CVTD Cho vay tiêu dùng
GDV Giao dịch viên
KH Khách hàng
NH Ngân hàng
NHNN Ngân hàng Nhà Nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCKT Tổ chức kinh tế
TMCP Thương mại cổ phần
TSĐB Tài sản đảm bảo
USD Đô la Mỹ
VND Việt Nam đồng
DANH MỤC CÁC BẢNGDANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quy trình Cho vay tiêu dùng trực tiếp Error: Reference source not found
Sơ đồ 1.2: Quy trình Cho vay tiêu dùng gián tiếp Error: Reference source not found
- Hệ thống lại những vấn đề cơ bản liên quan đến mở rộng hoạt động cho vay
tiêu dùng
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Quốc Tế – Chi nhánh Hà Nội thời gian qua, từ đó rút ra các vấn
đề còn tồn tại.
- Dựa trên quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển của Chi nhánh và
Ngân hàng TMCP Quốc Tế, đưa ra một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay
tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế - Chi nhánh Hà Nội.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của bài khóa luận là: Khóa luận nghiên cứu những lí
luận cơ bản, thực trạng về hoạt động cho vay tiêu dùng, giải pháp mở rộng hoạt động
cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế - Chi nhánh Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu là: Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Quốc Tế - Chi nhánh Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2010.
Kết cấu bài khóa luận:
Bài khóa luận ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, khóa luận được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại
cổ phần Quốc Tế - Chi nhánh Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Quốc Tế - Chi nhánh Hà Nội.
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1Hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại.
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng nhất
trong nền kinh tế thị trường, đóng vai trị là “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người
có nhu cầu về vốn. Nhờ sự hiện hữu của NHTM mà các doanh nghiệp, công ty được
Tuy các định nghĩa về ngân hàng thương mại có khác nhau về ngôn từ, cách
diễn đạt, song vẫn có một số nội dung về cơ bản cùng phản ánh hoạt động của ngân
hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ - tín dụng, dịch vụ ngân hàng khác. Từ đó có
thể định nghĩa ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ - tín
dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ
ngân hàng cho nền kinh tế.
1.1.2 Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người
tiêu dùng, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn
tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc
sống như: nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế trước
khi họ có đủ khả năng tài chính để hưởng thụ.
1.1.3 Đặc điểm cho vay tiêu dùng
- Quy mô hợp đồng vay thường nhỏ nhưng số lượng vay lớn
Các khách hàng khi tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng thường có
nhu cầu vốn không cao, ví dụ như vay để mua ô tô, mua, sửa chữa nhà ở, nhu cầu vay
về y tế, giáo dục, du lịch, còn đối với những tài sản có giá trị lớn, thông thường thì
ngân hàng sẽ yêu cầu người đi vay phải có tích lũy từ trước, dẫn đến quy mô của từng
hợp đồng cho vay thường nhỏ. Mặt khác, do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao hơn lãi
suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp nên ngân hàng
cũng thường thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay căn cứ vào khả năng
trả nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng. Song nếu xét về quy mô thì nhu cầu vay tiêu
dùng là khá lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ
những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp với
nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng.
- Cho vay tiêu dùng thường phụ thuộc vào chu kì kinh tế
Khi nền kinh tế mở rộng, chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng
cao, người dân lạc quan hơn về tương lai, ưa thích một cuộc sống hưởng thụ thì họ sẽ
có nhu cầu vay NH nhiều hơn để cải thiện và nâng cao mức sống. Do đó, nền kinh tế
càng phát triển, số lượng các khoản vay tiêu dùng sẽ càng nhiều. Ngược lại, khi nền
KH là doanh nghiệp (kết thúc một năm đều công khai kết quả kinh doanh và lợi nhuận
đạt được thông qua báo cáo tài chính), dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không
cân xứng. Các cá nhân, hộ gia đình có thể tìm cách trốn tránh không trả các khoản vay
cho dù có khả năng thanh toán, gây thiệt hại cho NH.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí cho vay khá lớn
Do số lượng món vay tiêu dùng nhiều, KH lớm và đa dạng nhưng quy mô mỗi
khoản vay lại nhỏ, NH phải huy động nhiều nhân lực cho hoạt động cho vay, từ khâu
tiếp nhận hồ sơ, thẩm định KH, quyết định cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát và
thu nợ đối với KH sau khi cho vay. Mặt khác, NH cũng gặp không ít khó khăn để quản
3
lý các khoản CVTD với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn do đối với khách hàng cá nhân,
thông tin về tình hình tài chính thường không công khai minh bạch như ở các công ty
lớn. Tất cả những điều này kiến chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ CVTD cao hơn so
với các loại hình cho vay khác.
- Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có khả năng sinh lời cao nhất
Do các khoản vay tiêu dùng thường được định giá cao, theo ước tính chỉ khi
nào lãi suất vay vốn trên thị trường và tỉ lệ tổn thất tín dụng tăng lên đáng kể thì hầu
hết các khoản tín dụng tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận. Việc định giá cao là
do CVTD có chi phí lớn và rủi ro cao, hơn nữa là do tâm lý người vay không quan tâm
tới lãi suất phải trả, họ thường quan tâm tới khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là lãi
suất. Mặt khác, nếu như trong kinh doanh, người ta phải hạch toán lãi lỗ thì trong tiêu
dùng người ta đặt yếu tố thỏa mãn lên hàng đầu dự có phải trả chi phí lớn hơn. Do vậy
mà khả năng sinh lời từ các khoản CVTD cao, mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng.
1.1.4 Phân loại cho vay tiêu dùng
Việc phân loại cho vay tiêu dùng được dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau.
1.1.4.1 Căn cứ vào mục đích vay
Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua
sắm, xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở của KH là cá nhân, hộ gia đình.
Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải
các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch.
theo một số các phương pháp sau:
Phương pháp gộp: là phương pháp thường áp dụng trong CVTD trả góp, do
tính chất đơn giản và dễ hiểu của nó.
Công thức tính toán như sau:
T =
Với: L = V x r x n
Trong đó: T là số tiền phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kỳ hạn
L là chi phí tài trợ bao gồm cả lãi vay phải thanh toán, các chi phí
khác có liên quan
V là vốn gốc
n là số kỳ hạn
r là lãi suất tính cho mỗi kỳ hạn
Để bảo vệ quyền lợi của người vay, khi tính toán theo phương pháp này, pháp
luật ở các nước thường yêu cầu ngân hàng phải quy đổi lãi suất tính toán sang lãi suất
hiệu dụng và niêm yết để người vay dễ dàng cân nhắc chi phí vay mượn mà mình sẽ
phải trả cho ngân hàng, từ đó có những quyết định hợp lý.
Phương pháp lãi đơn: Theo phương pháp này thì vốn gốc người đi vay phải trả
từng định kỳ được tính đều nhau, bằng cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kỳ hạn
thanh toán. Còn lại phải trả mỗi định kỳ được tính trên số tiền khách hàng thực sự còn
thiếu ngân hàng.
5
Phương pháp hiện giá: Theo phương pháp này, số tiền gốc và lãi người đi vay
phải thanh toán tính theo phương pháp hoàn trả kim niên
Công thức tính như sau:
a =
Trong đó:
a là số tiền gốc và lãi phải trả theo từng kỳ nhất định
V là số vốn gốc ban đầu
i là lãi suất cho vay
n là số kỳ hạn trả nợ
Với i là lãi suất, n là kỳ hạn thanh toán
- Tiền gốc (C) được thanh toán vào kỳ cuối cùng của thời hạn trả, còn tiền lãi
mỗi kỳ (Ck) được thanh toán đều đặn theo từng kỳ hạn, trong đó:
Ck = C × i
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó ngân
hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép
thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng
được thỏa thuận trước, căn cứ theo nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ,
KH được NH cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo
một hạn mức tín dụng.
Lãi phải trả mỗi kỳ có thể tính dựa trên một trong ba cách sau:
- Lãi tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh: Theo phương pháp này, số dư
nợ được dựng để tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ hạn sau khi KH đã thanh
toán nợ cho ngân hàng.
- Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh: Theo đó, số dư
nợ dựng để tính lãi là số dư nợ mỗi kỳ có trước khi khoản nợ được thanh toán.
- Lãi được tính trên cơ sở dư nợ bình quân
1.1.4.3 Căn cứ theo nguồn gốc trả nợ
Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó
ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng của mình, thẩm định và đánh giá nhu
cầu vay vốn của khách hàng và việc thu hồi vốn vay cũng được tiến hành trực tiếp bởi
chính ngân hàng.
Sơ đồ 1.1: Quy trình Cho vay tiêu dùng trực tiếp
(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký hợp đồng tín dụng với nhau.
(2) Người tiêu dùng trả trước cho nhà cung cấp một phần số tiền mua hàng hoá.
7
Ngân hàng Nhà cung cấp
Người tiêu dùng
(5) (4)(2)
(3)
Người tiêu dùng
(6) (3)(2)
(1)
(5)
(4)
(1) Ngân hàng và công ty bán lẻ kí hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng,
ngân hàng đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán
chịu tối đa và loại tài sản bán chịu.
(2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng kí kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá.
Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản.
(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4) Công ty bán lẻ bán toàn bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng.
(5) Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
(6) Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có những ưu điểm như giúp NH tiếp cận được với
đối tượng có nhu cầu vay cao, tiết kiệm được chi phí liên quan đến việc thẩm định và
đánh giá KH (do có sự trợ giúp của phía nhà bán lẻ), gia tăng uy tín và mở rộng quan
hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác. Từ đó cho phép NH dễ dàng tăng
doanh số CVTD. Tuy nhiên, CVTD gián tiếp cũng sẽ làm tăng rủi ro đối với ngân
hàng do ngân hàng không thể tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, thiếu sự kiểm soát
của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng hóa. Không những thế,
kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao. Do vậy mà những ngân hàng
khi tham gia vào hoạt động CVTD gián tiếp thường có các cơ chế kiểm soát tín dụng
rất chặt chẽ.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức sau:
- Tài trợ truy đòi toàn bộ: Khi bán cho NH các khoản nợ mà người tiêu dùng đã
mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ
nếu khi đến hạn người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng.
- Tài trợ truy đòi hạn chế: Trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với các khoản nợ
người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất
nghiệp hoặc nơi công tác. Xét theo đặc điểm phân loại trên, chúng ta có các nhóm
khách hàng sau:
- Những khách hàng làm công ăn lương
- Những người có công việc kinh doanh riêng
- Những người hành nghề chuyên nghiệp
- Những người lao động tự do
Theo cách phân loại trên thì trên thực tế những người thuộc nhóm 3 đầu có thu
nhập ổn định và cao hơn so với nhóm cuối và nhu cầu vay tiêu dùng phân theo tình
trạng công tác hay lao động cũng chủ yếu xuất phát từ những nhóm đó.
1.1.5 Vai trò cho vay tiêu dùng
1.1.5.1 Đối với người tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng đối với các cá nhân, hộ gia đình khi có
các nhu cầu phát sinh như mua sắm nhà cửa, đất đai, ô tô, sửa chữa, xây dựng nhà ở,…
mà chưa có đủ khả năng tài chính. CVTD cũng đáp ứng kịp thời các nhu cầu cấp bách
về y tế, giáo dục hay ngay cả nhu cầu về du lịch,…
Đối với cuộc sống của mỗi người, của cải được tích lũy dần theo thời gian. Mỗi
người đều có những điều kiện, hoàn cảnh kinh tế khác nhau nhưng hầu như mọi người
đều phải mất một khoảng thời gian dài để mua sắm đầy đủ các tiện nghi cho cuộc
10
sống. Khi đó lợi ích có thể cảm nhận được từ việc thụ hưởng có xu hướng giảm dần.
Do vậy, người tiêu dùng sẽ khéo léo kết hợp giữa thoả mãn nhu cầu ở hiện tại với khả
năng thanh toán ở hiện tại và tương lai. Khi đó, ngân hàng đóng vai trị quan trọng,
giúp người tiêu dùng thỏa mãn nhu cầu trong việc mua sắm hàng hóa thiết yếu, hàng
hóa có giá trị cao nhằm nâng cao giá trị cuộc sống.
Chính những lí do trên nên việc ngân hàng thực hiện mở rộng hoạt động CVTD
sẽ đem đến cho người tiêu dùng những lợi ích nhất định. Có thể khẳng định rằng người
tiêu dùng là người được hưởng lợi trực tiếp và nhiều nhất những lợi ích mà hoạt động
CVTD mang lại. Tuy nhiên, nếu người tiêu dùng quá lạm dụng việc đi vay để tiêu
dùng thì cũng rất tai hại vì nó có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho
phép, làm giảm khả năng tiết kiệm hoặc chi tiêu trong tương lai, hoặc nghiêm trọng
hàng không ngừng khai thác tối đa thị trường tín dụng, nghĩa là đáp ứng tốt nhất nhu
cầu tín dụng của nền kinh tế. Hoạt động CVTD của ngân hàng đối với các cá nhân tuy
có quy mô nhỏ nhưng số lượng khách hàng tiềm năng và sự đa dạng của nhu cầu lại
rất lớn. Từ đó giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, làm tăng khả năng
huy động các loại tiền gửi cho ngân hàng. Tuy hoạt động CVTD có rủi ro và chi phí
cao nhưng đồng thời cũng tạo ra lợi nhuận lớn hơn nhiều trên một đồng vốn bỏ ra so
với các hình thức cho vay khác, tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, phân
tán rủi ro cho ngân hàng. CVTD cũng giúp ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng
sử dụng thêm các dịch vụ khác của ngân hàng, bởi vì thông thường khi cho vay tiêu
dùng, ngân hàng thường có ràng buộc khách hàng phải chuyển tiền hoặc sử dụng trả
lương qua tài khoản tại ngân hàng… Tuy nhiên, khách hàng cũng có xu hướng sử
dụng kèm các dịch vụ ngân hàng cá nhân tại ngân hàng mình đã có quan hệ tín dụng.
Đây cũng là điều kiện tiên quyết giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh và hội
nhập với xu thế quốc tế.
1.1.5.4 Đối với nền kinh tế
Một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của xã hội là mức
sống của người dân. Hoạt động CVTD giúp người dân nâng cao cuộc sống bằng cách
sử dụng các hàng hóa, dịch vụ khi chưa có đủ khả năng thanh toán. Từ đó có tác dụng
rất tốt cho việc kích cầu, tạo yếu tố kích thích sản xuất phát triển, nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước, từ đó hỗ trợ nhà nước
trong việc đạt được các mục tiêu xã hội như xóa đói, giảm nghèo, giải quyết công ăn
việc làm, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội, nâng cao mức sống cho người dân, góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng nếu CVTD không được dựng để tài trợ cho
các chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ trong nước thì nhiều khi làm giảm khả năng tiết
kiệm trong nước.
Tóm lại, CVTD là một hoạt động thiết yếu, phù hợp với sự phát triển của xã
hội. Dù là người tiêu dùng, hay người sản xuất, là NHTM hay cả nền kinh tế nói chung
đều được hưởng lợi ích từ hoạt động CVTD. Hoạt động CVTD đóng vai trị quan trọng
trong đời sống xã hội hiện nay.
12
yêu cầu của khách hàng. Từ đó, uy tín của Ngân hàng được nâng cao, nhiều KH sẽ tìm
đến Ngân hàng yêu cầu cho vay. Ngược lại, nếu chất lượng các hợp đồng cho vay
không tốt thì Ngân hàng không những không giữ được các khách hàng truyền thống
mà còn không có khả năng thu hút thêm các khách hàng mới. Khi đó, việc duy trì hoạt
13
động cho vay của Ngân hàng cũng trở nên khó khăn, khả năng mở rộng cho vay gần
như là không thể.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh mở rộng cho vay tiêu dùng
1.2.2.1 Các chỉ tiêu định tính
- Thủ tục cho vay: Thời gian gần đây thị trường cho vay tiêu dùng phát triển
rất nhanh, nhiều ngân hàng đã rất quan tâm đến thị trường này. Vì vậy để tăng khả
năng cạnh tranh và phát triển, mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng thì Ngân hàng
cần quan tâm và chú ý nhiều đến thủ tục cho vay, một trong những chỉ tiêu đầu
tiên và quan trọng để mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng. Nếu Ngân hàng áp
dụng một quy trình cho vay linh hoạt, đơn giản, nhanh gọn và thuận tiện, tiết kiệm
được thời gian đi lại và chi phí giao dịch cho KH mà vẫn đảo bảo an toàn cho ngân
hàng thì Ngân hàng đó sẽ không những làm hài lòng những KH hiện tại của Ngân
hàng, mà còn thu hút nhiều hơn nữa các KH tìm đến Ngân hàng với nhu cầu vay
vốn tiêu dùng. Một thủ tục cho vay hấp dẫn với KH yêu cầu Ngân hàng cần thiết
kế các thủ tục cho vay phù hợp với từng nhóm khách hàng, từng loại vay, cũng
như kỹ thuật tín dụng nhằm cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, nhưng không
gây phiền hà cho khách hàng, đồng thời tiết kiệm thời gian cho cả hai như rút ngắn
thời gian xử lý hồ sơ, hướng dẫn làm hồ sơ tại nhà. Điều này sẽ giúp khách hàng
cảm thấy thoải mái khi tham gia vay vốn Ngân hàng. Bởi lẽ, trước nay người dân
Việt Nam thường quan niệm việc đến vay vốn Ngân hàng là rất rườm rà, phức tạp
nên họ chỉ tìm đến Ngân hàng khi cần lượng vốn lớn như để sản xuất kinh doanh,
mua nhà. Điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay du học, sửa chữa nhà
cửa, y tế, của Ngân hàng, bởi những hoạt động này thường có nhu cầu vay vốn
thấp. Do vậy, khi thủ tục cho vay của Ngân hàng nhanh gọn, thuận lợi, đơn giản sẽ
xóa dần sự ngần ngại của KH tìm đến Ngân hàng khi có nhu cầu vay vốn tiêu
Những ngân hàng lớn thường được ưu tiên hơn những ngân hàng nhỏ. Việc cho vay
thỏa mãn nhu cầu của KH, tỷ lệ thu hồi nợ của ngân hàng cao, bảo hiểm tiền gửi làm
tăng độ an toàn, năng lực vốn lớn mạnh, lợi nhuận hàng năm tăng… tất cả các hoạt
động ngân hàng đều có thể làm tăng uy tín, tăng niềm tin của KH đối với NH. Những
NH có uy tín luôn chiếm được lòng tin của KH cũng là tiền đề để Ngân hàng phát
triển, mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng của mình.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng
Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá việc mở rộng hoạt động CVTD:
- Doanh số cho vay tiêu dùng: Là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng tiêu
dùng của ngân hàng đối với nền kinh tế. Doanh số CVTD là chỉ tiêu tuyệt đối phản
ánh tổng số tiền Ngân hàng cho KH (bao gồm cá nhân, hộ gia đình) vay trong một
khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Từ đó thấy được khả năng mở
rộng CVTD của Ngân hàng qua các năm.
Tỷ trọng doanh số CVTD (%) = × 100
- Tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng: Là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền
ngân hàng cấp cho nền kinh tế nhằm mục đích tiêu dùng tại một thời điểm nhất định.
15
Dư nợ cho vay
tiêu dùng năm
nay
=
Dư nợ cho
vay tiêu dùng
năm trước
+
Doanh số cho
vay tiêu dùng
năm nay
-
Doanh số thu nợ
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn nợ
đã được cơ cấu lại.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày.
16
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo
thời hạn nợ đã được cơ cấu lại.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn nợ
đã được cơ cấu lại.
Quyết định cũng quy định nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 là nợ xấu. Nợ từ 6 đến 12
tháng là nợ có vấn đề, nợ quá hạn trên 12 tháng được gọi là nợ khó đòi.
- Vòng quay vốn tín dụng CVTD: Là chỉ tiêu phản ánh tần suất sử dụng vốn,
đánh giá khả năng quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu
cầu khách hàng. Vòng quay vốn tín dụng càng cao thì chứng tỏ nguồn vốn của Ngân
hàng có tốc độ luân chuyển nhanh. Qua đấy thấy được khả năng quản lý vốn tín dụng
của Ngân hàng, từ đó đánh giá hiệu quả của hoạt động CVTD.
Vòng quay vốn tín dụng (%) = × 0 - Thu nhập từ
hoạt động CVTD: Là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của các khoản CVTD, phần
lợi nhuận thu được của Ngân hàng ở đây được hiểu là phần chênh lệch giữa lãi suất
huy động và thu nhập từ lãi suất cho vay của các khoản tín dụng. Đây là chỉ tiêu rất
quan trọng đối với các Ngân hàng bán lẻ, phát triển dịch vụ KH cá nhân
Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động VTD = × 10
1.2.3 Ý nghĩa của mở rộng cho vay tiêu dùn
Ngân hàng là một ngành kinh tế đặc thù trong nền kinh tế thị trường, với các
hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán nhằm
phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi thương mại, tác động lớn đến nhiều
lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội. Chính vì lí do đó, các NHTM cần phải nỗ lực
không ngừng để mở rộng, phát triển các hoạt động của mình, đặc biệt là trong hoạt
ngoại ngữ tốt, vi tính thành thạo, nhiệt tình, có đạo đức trong công việc sẽ tạo được
những ấn tượng tốt đẹp đối với khách hàng. Từ đó tạo được lòng tin, sự an tâm của
khách hàng đối với ngân hàng. Hơn nữa, nếu cán bộ tín dụng có mối quan hệ xã hội
rộng rãi cũng có thể thu hút được nhiều khách hàng tìm đến ngân hàng. Càng nhiều
khách hàng đến với ngân hàng thì không chỉ các hoạt động CVTD mà các hoạt động
khác của ngân hàng càng có khả năng mở rộng, phát triển hơn
- ữa.
Năng lực tài chính của ngân hàng: Đây là một trong những nhân tố quan trọng,
được các nhà lãnh đạo ngân hàng quan tâm, xem xét khi đưa ra các quyết định cho
hoạt động ngân hàng, trong đó có hoạt động CVTD. Một số chỉ tiêu để đánh giá năng
lực tài chính của ngân hàng có tốt hay không như tỷ lệ phần trăm lợi nhuận của năm
18
sau so với năm trước, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, số lượng vốn chủ sở hữu, khả
năng huy động vốn,… Đối với một ngân hàng có số vốn chủ sở hữu lớn, nợ quá hạn
thấp, lợi nhuận năm sau lớn hơn năm trước, có khả năng khả năng huy động vốn lớn
trong một thời gian ngắn, có nghĩa năng lực tài chính của ngân hàng là rất mạnh. Khi
ngân hàng có sức mạnh về tài chính, ngân hàng hoàn toàn có thể tăng đầu tư vào các
danh mục hoạt động kinh doanh mà ngân hàng quan tâm. Hoạt động CVTD nhờ đó có
cơ hội mở rộng, phát triển hơn. Ngược lại, nếu năng lực tài chính của ngân hàng thấp
sẽ hạn chế việc đầu tư vào các hoạt động của ngân hàng do thiếu số vốn cần thiết để tài
trợ. Do đó, hoạt động CVTD cũng ít có cơ hội để mở
- ộng.
Chính sách tín dụng của ngân hàng: Là hệ thống các chủ trương, định hướng
quy định chi phối hoạt động tín dụng do hội đồng quản trị đưa ra nhằm sử dụng hiệu
quả nguồn vốn để tài trợ cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân. Một chính
sách tín dụng thông thường bao gồm các khoản mục sau: hạn mức tín dụng, các loại
hình cho vay mà ngân hàng thực hiện, quy định về tài sản đảm bảo, kỳ hạn của các
khoản tín dụng, hướng giải quyết phần tín dụng vượt quá hạn mức cho vay, cách thức
thanh toán nợ… Một chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý sẽ vạch ra cho các cán bộ
tín dụng hướng đi và khung tham chiếu rõ ràng về những căn cứ để xem xét nhu cầu