Full câu hỏi và trả lời môn kiến thức chung về quản lý nhà nước ôn thi công chức - Pdf 23

http://123doc.vn/trang-ca-nhan-907198-charlie-cuc-cu.htm
Page 1

I/ Trình bày chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của hệ thống các cơ quan
trong bộ máy NN của nước ta hiện nay?
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
I/ Trình bày nội dung chủ yếu về định hướng XHCN trong nền kinh tế thị
trường nước ta hiện nay? (hoặc Trình bày đặc trưng của nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN nước ta hiện nay?)
II/ Trình bày sự cần thiết khách quan phải giữ vững định hướng XHCN
cho nền kinh tế thị trường ở nước ta?
III/ Trình bày sự cần thiết khách quan của QLNN đối với nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở VN?
IV/ Trình bày nội dung chủ yếu của QLNN về kinh tế ở nước ta hiện nay?
V/ Phương pháp QLNN về kinh tế
VI/ Các chức năng quản lý kinh tế của NN
VII/ Các nguyên tắc cơ bản trong QLNN về kinh tế
VIII/ Cơ chế kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế
IX/ QLNN đối với các DN
X/ QLNN đối với kinh tế đối ngoại
XI/ QLNN đối với các dự án đầu tư
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
I/ Trình bày sự cần thiết khách quan phải QLNN về tài chính tiền tệ trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN?
II/ Trình bày chức năng của tài chính tiền tệ trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN của nước ta hiện nay?
III/ Trình bày mục tiêu và nhiệm vụ QLNN về tài chính tiền tệ của nước
ta hiện nay?
IV/ Trình bày yêu cầu QLNN về tài chính tiền tệ
V/ Trình bày nội dung chủ yếu QLNN về tài chính tiền tệ của nước ta
hiện nay?

II.Trình bày phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng
III. Hãy trình bày phương pháp khấu trừ thuế
IV.C
C
á
á
c
cn
n
g
g
u
u
y
y
ê
ê
n
nt
t


ếG
G
T
T
G
G
T

đ


u
uv
v
à
à
o
o
V.Thuế suất thuế GTGT 0% áp dụng cho HH, DV nào?

3

quan trong bộ máy NN của nước ta hiện nay?
Theo Hiến pháp năm 1992, ở nước ta có các loại cơ quan trong bộ máy
NN sau đây:
- Các cơ quan quyền lực NN (quốc hội là cơ quan quyền lực NN cao nhất.
HĐND là cơ quan quyền lực NN ở địa phương)
- Các cơ quan hành chính NN gồm: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, các UBND cấp tỉnh, huyện, xã và các cơ quan chuyên
môn thuộc UBND.
- Các cơ quan xét xử (TAND tối cao, Toà án quân sự, các TAND địa
phương, Toà án đặc biệt và các Toà án khác do luật định).
- Các cơ quan kiểm sát (VKS nhân dân tối cao, VKS quân sự, Viện Kiển
sát nhân dân địa phương)
Chủ tịch nước là 1 chức vụ NN, 1 cơ quan đặc biệt thể hiện sự thống nhất
của quyền lực, có những hoạt động thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp, nên khống xếp vào bất kỳ 1 loại cơ quan nào.
Tất cả các cơ quan NN tạo thành bộ máy NN. Nhưng bộ máy NN ko phải
là 1 tập hợp đơn giản các cơ quan NN mà là 1 hệ thống thống nhất các cơ quan
có mối liên hệ ràng buộc qua lại chặt chẽ với nhau vận hành theo 1 cơ chế đồng
bộ.
1. Quốc hội
Vị trí của Quốc hội trong bộ máy NN được ghi nhận trong Hiến pháp.
Điều 83, Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, cơ quan quyền lực NN cao nhất của nước CH XHCN VN”.
Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Quốc hội do cử tri cả nước
bầu ra theo chế độ bầu cử phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
* Là cơ quan quyền lực NN cao nhất của nước CH XHCN VN, thống nhất
3 quyền lập pháp, hiến pháp và tư pháp nhưng ko phải là cơ quan độc quyền.
Quốc hội có các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định.

5


6
Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng
và thành viên khác của Chính phủ.
8. Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ của
Chính phủ thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương; thành lập và giải thể các đơn vị hành chính - kinh tế
đặc biệt.
9. Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;
10. Quyết định đại xá
11. Quy định hàm cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm cấp
ngoại giao và những hàm cấp NN khác; quy định huân chương, huy chương và
các danh hiệu vinh dự NN;
12. Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng
khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác nhằm bảo đảm quốc phòng và an ninh
quốc gia;
13. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các
điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch
nước;
14. Quyết định việc trưng cầu ý dân.
2. Chủ tịch nước
Chủ tịch nước là người đứng đầu NN, thay mặt NN CH XHCN VN về đối
nội và đối ngoại.
Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ
quốc hội. Khi cần thiết, Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của
Chính phủ, Chủ tịch nước có quyền đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét
lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua;
nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban Thường vụ quốc hội biểu quyết tán thành mà

Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn.
- Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan
thuộc Chính phủ, UBND các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ
máy hành chính NN từ TW đến cơ sở hướng dẫn, kiểm tra HĐND thực hiện các

8
văn bản của cơ quan NN cấp trên; tạo điều kiện để HĐND thực hiện nhiệm vụ
và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ
viên chức NN;
- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan NN, tổ
chức kinh tế, tổ chức XH, đơn vị vũ trang và công dân, tổ chức và lãnh đạo công
tác tuyên truyền, giáo dục. Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;
- Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Uỷ ban
thường vụ Quốc hội;
- Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân, phát
triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, các dịch vụ công; quản lý
và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; thực hiện kế
hoạch phát triển kinh tế-XH và NSNN, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia.
- Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của
mình, bảo vệ tài sản lợi ích của NN và của XH, bảo vệ môi trường.
- Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, bảo
đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn XH, xây dựng các lực lượng vũ trang
nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện
pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước.
- Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của NN; công tác thanh
tra và kiểm tra Nhà nuớc, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy NN; công
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
- Thống nhất quản lý công tác đối ngoại; đàm phán, ký kết Điều ước quốc
tế nhân danh NN CH XHCN VN, trừ trường hợp do Chủ tịch nước ký với người

dẫn các cơ quan NN và các tổ chức kinh tế, văn hoá, XH thi hành; kiểm tra và
bảo đảm sự chấp hành thống nhất pháp luật của NN trong hoạt động của các Bộ
và các cấp về lĩnh vực mình quản lý, đồng thời có trách nhiệm phục vụ và tạo
điều kiện thuận lợi cho Bộ quản lý ngành hoàn thành nhiệm vụ. Bộ quản lý theo
lĩnh vực chỉ quản lý 1 mặt hoạt động nào đó có liên quan tới hoạt động của các
Bộ, các ngành, các cấp chính quyển, cơ quan, tổ chức. Vì vậy, chỉ có quyền

10

kiểm tra về mặt hoạt động thuộc lĩnh vực do mình quản lý, ko can thiệp vào
những mặt hoạt động khác của các cơ quan, tổ chức đó.
5. HĐND: là cơ quan quỳen lực NN ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra,
chịu trách nhiệm trước ND địa phương và cơ quan NN cấp trên.
HĐND là 1 thiết chế hoạt động có chức năng QLNN ở địa phương, “căn
cứ vào hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan NN cấp trên, HĐND ra Nghị quyết
về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh hiến pháp và pháp luật ở địa
phương và kế hoạch phát triển kinh tế-XH và ngân sách về quốc phòng, an ninh
ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn
thành mọi nhiệm vụ mà cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước”
(Điều 120 Hiến pháp 1992).
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cấp mình và xuất phát từ
lợi ích chung của đất nước; của nhân dân địa phương, HĐND quyết định những
chủ trương, biện pháp để xây dựng và phát triển địa phương về mọi mặt kinh tế,
văn hoá-XH, y tế, giáo dục làm tròn nghĩa vụ của địa phương với cả nước.
HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND,
UBND, TAND, VKSND cùng cấp; giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của
HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan NN, tổ chức kinh tế, tổ
chức XH, đơn vị vũ trang ND và của công dân ở địa phương.
Hiến pháp và Luật tổ chức HĐND và UBND quy định nhiệm vụ quyền

quyết định. UBND thực hiện chức năng quản lý NN ở địa phương, góp phần bảo
đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính NN từ TW tới cơ
sở.
7. Toà án nhân dân: thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp luật thông qua hoạt
động xét xử.
Hệ thống TA ở VN gồm có TAND tối cao, các TAND địa phương, các
TA quân sự và các TA khác do luật định. Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có
thể q’định thành lập TA đbiệt.
TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước CH XHCN VN, thực
hiện quyền giám đốc việc xét xử của tòa án nhân dân địa phương và các toà án
quân sự, giám đốc việc xét xử của toà án đặc biệt và các toà án khác; trừ trường

12

hợp Quốc hội quy định khác khi thành lập toà án đó. Nhiệm vụ, quyền hạn của
TAND tối cao được quy định tại Điều 19, 20 Luật Tổ chức TAND năm 2002.
TAND các cấp có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao
động, hôn nhân gia đình, hành chính.
- Hoạt động xét xử của các TA có đặc điểm:
+ Nhân danh NN VN, căn cứ vào pháp luật của NN đưa ra phán xét quyết
định cuối cùng nhằm kết thúc vụ án.
+ Xét xử là kiểm tra hành vi pháp lý của các cơ quan NN, các CBCC
trong BMNN trong quá trình giải quyết các vụ việc có liên quan đến việc bảo vệ
các quyền tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản của con người, bảo vệ quyền làm
chủ của ND.
+ Xét xử nhằm ổn định trật tự pháp luật, giữ vững kỷ cương, xã hội, tự do
an toàn của con người, làm lành mạnh hoá các quan hệ XH.
+ Xét xử mang nội dung giáo dục pháp luật cho mỗi cá nhân, tạo tinh thần
tích cực đấu tranh của công dân chống các hành vi VPPL.
- Các nguyên tắc xét xử của TAND:

* VKS thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng các công tác sau:
+ Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra vấcc cơ quan khác được
giao nhiệm vụ tiến hành 1 số hoạt động điều tra;
+ Điều tra 1 số loại tội phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là các
cơ quan tư pháp;
+ Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc xét xử các vụ án hình sự;
+ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành
chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
+ Kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý
và giáo dục người chấp hành án phạt tù.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
Câu I/ Trình bày nội dung chủ yếu về định hướng XHCN trong nền
kinh tế thị trường nước ta hiện nay? (hoặc Trình bày đặc trưng của nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN nước ta hiện nay?)

14

Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN là 1 kiểu tổ chức nền kinh tế mà trong đó,
sự vận hành của nó vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của bản thân hệ
thống kinh tế thị trường, lại vừa bị chi phối bởi những nguyên tắc và những quy
luật phản ánh bản chất XH hoá-XHCN. Do đó, nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN vừa mang tính chất chung, phổ biến đó là “tính kinh tế thị trường”
vừa mang tính đặc thù đó là “tính định huớng XHCN”.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN có các đặc trưng sau đây:
1. Về hệ thống mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Tính định hướng XHCN trong phát triển kinh tế-XH quy định quá trình
phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là quá trình thực hiện mục tiêu phát triển

hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp. Các thành phần kinh tế
đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh
tế NN giữ vai trò chủ đạo, kinh tế NN cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân “(Văn kiện Đại học IX của
Đảng, tr 87).
3. Về cơ chế vận hành kinh tế.
Cơ chế vận hành nền kinh tế trước hết phải là cơ chế thị trường để đảm
bảo phân bổ hợp lý các lợi ích và nguồn lực, kích thích phát triển các tiềm năng
kinh doanh và các lực lượng sản xuất, tăng hiệu quả và tăng năng suất lao động
XH. Đồng thời, ko thể phủ nhận vai trò của NN XHCN-đại diện lợi ích chính
đáng của nhân dân lao động và XH thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với kinh tế
thị trường trên cơ sở học tập, vận dụng kinh nghiệm có chọn lọc cách quản lý
kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa, điều chỉnh cơ chế kinh tế. giáo dục đạo
đức kinh doanh phù hợp; thống nhất điều hành, điều tiết và hướng dẫn sự vận
hành nền kinh tế cả nước theo đúng mục tiêu phát triển kinh tế XH.
4. Về hình thức phân phối.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều hình thức phân
phối đan xen, vừa thực hiện theo nguyên tấc phân phối của kinh tế thị trường và
nguyên tắc phân phối của CNXH. Trong đó, các ưu tiên phân phối theo lao
động, theo vốn, theo tài năng và hiệu quả, đồng thời bảo đảm sự phân phối công

16

bằng và hạn chế bất bình đẳng XH. điều này vừa khác với phân phối theo tư bản
của kinh tế thị trường thông thường, lại vừa khác với phân phối theo lao động
mang tính bình quân trong CNXH cũ.
5. Về nguyên tắc giải quyết các mặt, các mối quan hệ chủ yếu.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải kết hợp ngay từ đầu giữa
lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, bảo đảm giải phóng lực lượng sản xuất,

- Định hướng XHCN về bản chất là nhân văn, nhân đạo, công bằng, văn
minh, đó là mục tiêu xây dựng và phát triển của XH ta mà Đảng và NN đã chọn.
- Định hướng XHCN là nguyện vọng của nhân dân ta và nguyện vọng của
nhân loại tiến bộ. Nói cách khác, chúng ta theo đuổi định hướng XHCN vì nó
hợp với thời đại.
- Định hướng XHCN đã và đang trở thành hiện thực nhiều mặt ở nước ta,
là động lực lý tưởng cho nhiều thế hệ cách mạng VN.
- Kinh tế thị trường là mô hình phát triển kinh tế phù hợp với sự vận động
của các quy luật kinh tế và XH trong đó có quy luật giá trị; thúc đẩy sản xuất
phát triển, tạo ra nhiều của cải thoả mãn nhu cầu vật chất và văn hoá của nhân
dân. Vì vậy, trong đổi mới kinh tế, Đảng và NN đã lựa chọn kinh tế thị trường
thay cho mô hình phát triển kinh tế cũ.
Câu III/ Trình bày sự cần thiết khách quan của QLNN đối với nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở VN?
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN là nền kinh tế thị trường
có điều tiết-nền kinh tế thị trưuờng có sự quản lý vĩ mô của NN theo định hướng
XHCN. Điều đó có nghĩa là, nền kinh tế nước ta chịu sự điều tiết của thị trường
và chịu sự điều tiết của NN (sự quản lý của NN). Sự QLNN đối với nền kinh tế
thị trường theo định hướng XHCN ở VN là sự cần thiết khách quan, vì những
lý do sau đây:
Thứ nhất, phải khắc phục những hạn chế của việc điều tiết của thị
trường, bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế XH đã đề ra.
Sự điều tiết của thị trường đối với sự phát triển kinh tế thật kỳ diệu nhưng
vẫn có những hạn chế cục bộ. Ví dụ như về mặt phát triển hài hoà của XH, thì
bộc lộ tính hạn chế sự điều tiết của thị trường.
Thị trường ko phải là nơi có thể đạt được sự hài hoà trong việc phân phối
thu nhập XH, trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống XH, trong việc phát

18



19

XH. Chỉ có NN mới có thể giải quyết được các mâu thuãn đó, điều hoà lợi ích
của các bên.
Thứ ba, tính khó khăn phức tạp của sự nghiệp kinh tế
Để thực hiện bất kỳ 1 hoạt động nào cũng phải giải đáp các câu hỏi: Có
muốn làm ko? Có biết làm ko? Có phương tiện để thực hiện ko? Có hoàn cảnh
để làm ko? Nghĩa là, cần có những điều kiện chủ quan và khách quan tương
ứng. Nói cụ thể và để hiểu, làm kinh tế nhất là làm giầu phải có ít nhất các điều
kiên: ý chí làm giàu, trí thức làm giàu, phương tiện sản xuất kinh doanh và môi
trường kinh doanh. Ko phải công dân nào cũng có đủ các điều kiện trên để tiến
hành làm kinh tế, làm giàu. Sự can thiệp của NN rất cần thiết trong việc hỗ trợ
công dân có những điều kiệncần thiết thực hiện sự nghiệp kinh tế.
Thứ tư, tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của NN
NN hình thành từ khi XH có giai cấp. NN bao giừ cũng đại diện lợi ích
của giai cấp thống trị nhất định trong đó có lợi ích kinh tế. NN XHCN VN đại
diện cho lợi ích dân tộc và nhân dân, NN của ta là NN của dân, do dân và vì dân.
Mục tiêu phát triển kinh tế - XH do NN ta xác định và quản lý chỉ đạo là nhằm
cuối cùng đem lại lợi ích vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tuy vây, trong nền
kinh tế nhiều thành phần, mở cửa với nước ngoài, ko phải lúc nào lợi ích kinh tế
của các bên cũng luôn luôn nhất trí. Vì vậy, xuất hiện xu hướng vừa hợp tác, vừa
đấu tranh trong quá trình hoạt động kinh tế trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ
quản lý, quan hệ phân phối.
Trong cuộc đấu tranh trên mặt trận kinh tế, NN ta phải thể hiện bản chất
giai cấp của mình để bảo vệ lợi ích của dân tộc và của nhân dân ta. Chỉ có NN
mới có thể làm được điều đó. Như vậy là, trong quá trình phát triển kinh tế, NN
ta đã thể hiện bản chất giai cấp của mình.
Bốn lý do chủ yếu trên đây chính là sự cần thiết khách quan của NN
đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN.

- Hệ thống pháp luật theo chủ thể hoạt động kinh tế như Luật Doanh
nghiệp NN, Luật Hợp tác xã, Luật doanh nghiệp tư nhân và công ty,v.v… Loại
hình pháp luật này thực chất là Luật tổ chức các đơn vị kinh tế, theo đó, sân
chơi kinh tế được xác định trước các loại chủ thể tham gia cuộc chơi do NN làm
trọng tài.
- Hệ thống pháp luật theo khách thể như Luật Tài nguyên môi trường,
được NN đặt ra cho mọi thành viên trong XH, trong đó chủ yếu là các doanh

21

nhân, có tham gia vào việc sử dụng các yếu tố nhân tài, vật lực và tác động vào
môi trường thiên nhiên.
Dạng bài tập tiếng anh thi công chức
http://123doc.vn/share-dang-bai-tap-tieng-anh-thi-cong-chuc/NTU2MjE=
4. Tổ chức hệ thống các doanh nghiệp
4.1. Tổ chức và ko ngừng hoàn thiện tổ chức hệ thống doanh nghiệp
NN cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển của đất nước, bao
gồm:
- Đánh giá hệ thống doanh nghiệp NN (DNNN) hiện có, xác định những
mặt tốt, mặt xấu của hệ thống hiện hành.
- Loại bỏ các mặt yếu kém bằng phương thức thích hợp: cổ phần hóa, bán,
khoán, cho thuê, giao…
- Tổ chức xây dựng mới các DNNN cần thiết.
- Củng cố các DNNN hiện còn cần tiếp tục duy trì nhưng yếu kém về mặt
này, mặt khác, nâng cấp để các DNNN này ngang tầm vị trí được giao.
4.2. Xúc tiến các hoạt động pháp lý và hỗ trợ để các đơn vị kinh tế
dân doanh ra đời
- Thực hiện các mặt về pháp luật cho các hoạt động của doanh nhân trên
thương trường: xét duyệt, cấp phép đầu tư, kinh doanh…
- Thực hiện các hoạt động hỗ trợ về tư pháp, thông tin, phương tiện…

tiêu quản lý của NN.
Trong thực tế tổ chức và quản lý đối với nền kinh tế, NN có thể và cần
phải thực hiện các biện pháp chủ yếu, đó là: phương pháp hành chính, phương
pháp kinh tế, phương pháp giáo dục thuyết phục.
1. Phương pháp hành chính
1.1. Khái niệm: Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp
của NN thông qua các quyết định dứt khoát và có tính bắt buộc trong khuôn khổ
luật pháp lên các chủ thể kinh tế, nhằm thực hiện các mục tiêu của NN trong
những tình huống nhất định.
1.2. Đặc điểm: Phương pháp này mang tính bắt buộc và tính quyền lực.
- Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý (các doanh nghiệp, các
doanh nhân…) phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác động hành chính, nếu vi
phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng.

23

- Tính quyền lực đòi hỏi các cơ quan QLNN chỉ đựoc phép đưa ra các tác
động hành chính đúng thẩm quyền của mình.
Thực chất của phương pháp này là sử dụng quyền lực NN để tạo sự phục
tùng của đối tượng quản lý (các doanh nghiệp, doanh nhân…) trong hoạt động
quản lý của NN.
1.3. Hướng tác động
- Tác động về mặt tổ chức: NN xây dựng và ko ngừng hoàn thiện khung
pháp luật , tạo ra 1 hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia vào hoạt động
của nền kinh tế. NN ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về mặt
tổ chức hoạt động của các chủ thể kinh tế và những quy định về mặt thủ tục
hành chính buộc tất các những chủ thể từ cơ quan NN đến các doanh nghiệp đều
phải tuân thủ.
- Tác động điều chỉnh hành động, hành vi của các chủ thể kinh tế là
những tác động bắt buộc của NN lên quá trình hoạt động sản suất kinh doanh

phát triển sản xuất theo hướng ích nước, lợi nhà.
- Sử dụng chính sách ưu đãi kinh tế.
2.4. Trường hợp áp dụng phương pháp kinh tế.
Phương pháp kinh tế được dùng khi cần điều chỉnh các hành vi ko có
nguy cơ gây hậu quả xấu cho cộng đồng, cho NN hoặc chưa đủ điều kiện để áp
dụng phương pháp hành chính cưỡng chế. Trên thực tế, có những hành vi mà
nếu ko có sự điều chỉnh của NN, sẽ ko diễn ra theo chiều hướng có lợi cho NN
và cho cộng đồng, nhưng cũng ko có nghĩa là nó gây ra những thiệt hại cần phải
điều chỉnh tức thời. Chẳng hạn, NN muốn các nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ
vốn đầu tư vào các vùng miền núi, biên cương, hải đảo để cải thiện đời sống dân
cư ở các vùng này, song nếu ko có những ưu đãi hay khuyến khích của NN, các
nhà đầu tư chỉ muốn đầu tư vào các vùng đồng bằng, đô thị. Hành vi đầu tư này
rõ ràng là trái với lợi ích mà NN mong muốn, nhưng ko phải vì thế mà gây tác
hại cho các nhà đầu tư hoạt động theo hướng có lợi cho mình, NN phải chia sẻ
lợi ích kinh tế với họ bằng các hình thức như: giảm thuế, miễn thuế thu nhập,
cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ về kĩ thuật,…
3. Phương pháp giáo dục

25

3.1. Khái niệm: Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của NN vào
nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và
nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
3.2. Đặc điểm: Phương pháp giáo dục mang tính thuyết phục cao, ko
dùng sự cưỡng chế, ko dùng lợi ích vật chất mà là tạo ra sự nhận thức về tính tất
yếu khách quan đẻ đối tượng quản lí tự giác thi hành nhiệm vụ.
3.3. Hướng tác động.
- Giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và NN.
- Giáo dục ý thức lao động sáng tạo, hiệu quả.
- Xây dựng tác phong lao động trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status