Hệ thống xã hội tộc người của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long - Pdf 23

1

DẪN LUẬN
1. Lý do chọn ñề tài:
Người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long là một trong 54 dân tộc cùng
sinh sống trên ñất nước Việt Nam. Họ là một dân tộc ít người có mặt sớm ở ñồng
bằng sông Cửu Long. Người Khmer ñã trải qua nhiều biến ñộng về kinh tế và xã
hội. Bên cạnh cơ chế quản lý và vận hành xã hội hiện ñại, những thiết chế chính trị
xã hội truyền thống vẫn tồn tại và phần nào ảnh hưởng ñến quá trình phát triển của
tộc người Khmer. Tính dân chủ và tính cộng ñồng của thiết chế chính trị xã hội
truyền thống vẫn còn có những giá trị nhất ñịnh trong xã hội hiện ñại của các tộc
người, trong ñó có người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long.
Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, hệ thống tổ chức xã hội của người
Khmer ñã có nhiều biến ñổi, nhưng một số yếu tố truyền thống vẫn ñược bảo tồn
và phát huy trong cộng ñồng. Với sự ñam mê nghiên cứu về xã hội truyền thống,
cũng như sự tác ñộng của nó ñến văn hoá tộc người nói chung và người Khmer nói
riêng, tác giả mong muốn góp thêm một phần rất nhỏ ñối với chính sách dân tộc.
Tuy nhiên, luận án không ñi sâu giải quyết tất cả các vấn ñề liên quan ñến hệ
thống xã hội tộc người như: phum, sóc, hôn nhân – gia ñình. Để tránh sự trùng lắp
với các công trình nghiên cứu trước ñây như: Phum sóc Khmer ở ñồng bằng sông
Cửu Long của tác giả Nguyễn Khắc Cảnh; Hôn nhân và gia ñình của người
Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long tác giả Đặng Thị Kim Oanh. Tác giả luận
án chỉ tập trung vào nghiên cứu hệ thống thân tộc – dòng họ và tổ chức tôn giáo
với hy vọng tìm ra “sợi dây hay chất” kết dính trong cộng ñồng của xã hội tộc
người Khmer. Đó cũng chính là lý do tác giả chọn ñề tài: “Hệ thống xã hội tộc
người của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long” làm luận án tiến sĩ ngành
Dân tộc học.
2. Mục ñích nghiên cứu:
- Nhằm góp phần tìm hiểu về hệ thống xã hội tộc người Khmer trong lịch
sử và xã hội truyền thống của người Khmer. Đồng thời làm rõ các mối quan hệ
trong hệ thống xã hội tộc người của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long (mối

dựa trên kết quả khảo sát ở một số lĩnh vực như văn hóa, kinh tế, xã hội. Các
thông tin này ñược phân tích, lý giải nhằm minh chứng cho các nhận ñịnh hệ
thống xã hội tộc người của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long.
Kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp emic, etic
phân tích các dạng tài liệu thư tịch, tư liệu ñiền dã ñồng thời ñưa tiếng nói của
người trong cuộc chứng minh cho các nhận ñịnh trong luận án. Bên cạnh ñó,
người nghiên cứu bày tỏ ý kiến của mình với những nhận ñịnh của người trong
cuộc.
5. Kết quả nghiên cứu:
Về giá trị khoa học: Tổng hợp và hệ thống các thông tin liên quan ñến ñề
tài, qua ñó làm rõ cấu trúc, chức năng của hệ thống xã hội tộc người, làm phong
phú thêm những hiểu biết về xã hội tộc người của người Khmer ñồng bằng sông
Cửu Long.
3

Về giá trị thực tiễn: Tìm hiểu, phân tích sự vận hành và ñặc ñiểm của hệ
thống xã hội tộc người. Đề tài làm rõ hơn về mối quan hệ thân tộc trong hệ thống
xã hội tộc người của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long. Góp thêm tài liệu
tham khảo cho sinh viên trong các trường Đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội
và nhân văn.
6. Bố cục của luận án: Ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục và tài liệu
tham khảo, luận án gồm 3 chương chính (gồm 161 trang chính văn)
Chương 1: Những tiền ñề lý thuyết và tổng quan về người Khmer ở ñồng
bằng sông Cửu Long. Nội dung chương này trình bày hai vấn ñề: Thứ nhất là
những tiền ñề lý luận cho việc nghiên cứu. Trong ñó làm rõ các khái niệm liên
quan như hệ thống, hệ thống xã hội, tộc người, hệ thống xã hội tộc người, hôn
nhân gia ñình, thân tộc, công xã; và ñưa ra các hướng nghiên cứu, các lý thuyết ñể
áp dụng cho việc phân tích, giải quyết vấn ñề. Thứ hai là một số vấn ñề chung về
người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long như: ñặc ñiểm cư trú, dân số, kinh tế
ñóng vai trò là cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu về cơ cấu tổ chức xã hội của

mà tập trung là con người (cá nhân) và tập hợp người (cộng ñồng) có mối quan hệ
với nhau, là hệ thống con người có tác ñộng ñến con người, cùng những gì liên
quan ñến con người. Ngoài ra còn có mối quan hệ giữa hệ thống xã hội và môi
trường tự nhiên.
* Mạng lưới xã hội: ñược hiểu như là mối liên hệ giữa các cá nhân, các
nhóm xã hội khác nhau trong một thực thể xã hội nhất ñịnh dù ñó là chính thống
hay phi chính thống.
* Tộc người (ethnic) là một tập hợp người xuất hiện trong quá trình lịch sử
của loài người, là kết quả của một quá trình lịch sử và sự thích ứng với tự nhiên.
Giữa các thành viên trong cùng tộc người, có mối liên hệ ổn ñịnh trên nhiều lĩnh
vực như quan hệ huyết thống, khu vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa…
* Hệ thống xã hội tộc người (Social system ethnic) là một tập hợp nhiều
thành tố tạo mọi liên kết giữa các thành viên cộng ñồng của một tộc người, ñảm
bảo sự tồn tại và phát triển tộc người, thông qua cơ chế tổ chức, quản lý xã hội, sự
vận hành… Hệ thống xã hội tộc người trong diễn trình lịch sử có những thay ñổi
cấu trúc cùng các mối liên hệ giữa các thành tố.
* Quan hệ (relationship) là sự tiếp xúc trao ñổi lẫn nhau giữa các thành tố
trong hệ thống hoặc giữa các hệ thống với nhau. Thường những quan hệ này có
hai chiều, tích cực và tiêu cực và tác ñộng ñến sự cân bằng ổn ñịnh của hệ thống.
Mối quan hệ này ñôi khi cũng diễn ra trong tình trạng lệ thuộc, phụ thuộc lẫn
nhau.
* Công xã là một hình thái xã hội dưới chế ñộ cộng sản nguyên thủy. Đặc
ñiểm là sử dụng chung tư liệu sản xuất, tự quản một phần hay toàn bộ, có truyền
thống ñoàn kết nội bộ, mang tính chất khép kín. Công xã còn là ñơn vị hành chính
– lãnh thổ có tính tự quản và là cộng ñồng xã hội ñược xây dựng theo những ý
tưởng tiến tới xã hội tốt ñẹp trên cơ sở bác bỏ chế ñộ tư hữu.
* Công xã thị tộc: Thị tộc là tổ chức xã hội thời nguyên thủy, bao gồm
những người cùng dòng máu, do một tộc trưởng ñứng ñầu. Từ bầy người nguyên
thủy chuyển sang thị tộc là một bước nhảy vọt trong tiến trình lịch sử nhân loại.
Thị tộc là một tập thể cùng sống và lao ñộng chung, gắn bó với nhau bởi huyết

như ở thành phố.
* Thân tộc là tổ chức xã hội cơ bản mà trong ñó mối quan hệ của các thành
viên ñược xác lập thông qua các mối quan hệ dòng tộc, hôn nhân và gia ñình. Đây
là mối quan hệ nổi trội nhất trong tất cả các mối quan hệ của xã hội của con người
và có tác ñộng ảnh hưởng rất lớn ñối với các mối quan hệ khác như chính trị, kinh
tế, văn hóa, tộc người…
* Dòng họ là một phần quan trọng trong thân tộc và gia ñình. Dòng họ là
một ñơn vị xã hội trường tồn mà các thành viên của nó tự cho là xuất thân từ một
6

tổ tiên xác ñịnh căn cứ vào quan hệ phả hệ tổ tiên và con cháu ñược nhận biết rõ
ràng.
1.1.2. Những lý thuyết tiếp cận của luận án
* Thuyết cấu trúc:
Không có trường phái lý thuyết nào mà gần như chỉ gắn với tên tuổi một cá
nhân giống trường phái Cấu trúc Pháp và Claude Lévi-Strauss. Nhà nhân học có
thể ñược coi là người ñầu tiên, làm cho mối quan tâm ñến thuyết cấu trúc lan tỏa
rộng khắp. Lévi-Strauss tập trung vào nghiên cứu cấu trúc trí tuệ/tinh thần nằm
dưới các hành vi xã hội.
* Lý thuyết chức năng
Thuyết chức năng xuất hiện vào nửa ñầu thế kỷ XX gắn liền với tên tuổi
của Bronislaw Malinowski (1884-1942) và sau ñó là Arthur Reginald Radcliffe
Brown (1881 – 1955). Có ba ñịnh nghĩa khác nhau về khái niệm chức năng về các
tập tục xã hội.
1.1.3. Lịch sử nghiên cứu vấn ñề:
Về người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long ñã có nhiều công trình
nghiên cứu, sách, bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nước ñề cập ñến một số
khía cạnh liên quan ñến tổ chức xã hội, hôn nhân gia ñình, nguồn gốc, sự di
chuyển của người Khmer từ Campuchia sang Việt Nam ñịnh cư và khai khẩn vùng
ñất ở ñồng bằng sông Cửu Long cũng như ñời sống kinh tế, xã hội, văn hoá vật

1.2.2. Các hoạt ñộng kinh tế của người Khmer
Người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long sinh sống với nghề nông. Canh
tác lúa nước là sinh hoạt sản xuất chủ yếu, chiếm hầu hết dân số lao ñộng và ña số
diện tích ñất canh tác và cung cấp 90% nguồn lương thực thực phẩm cho con
người cũng như chăn nuôi gia súc của ñồng bào.
Hoạt ñộng thủ công: thực hiện theo qui mô nhỏ trong từng gia ñình và theo
thời vụ. Sản phẩm chủ yếu là cung cấp những vật dụng trong sinh hoạt.
Chăn nuôi: nuôi gia súc, gia cầm phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống.
Nghề ñánh bắt thuỷ sản phát triển ở những ñịa bàn nhiều kênh rạch, ven bờ
biển và gần sông Tiền, sông Hậu.
Thương mại và dịch vụ của người Khmer Nam Bộ không phát triển.
Nền kinh tế của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long ngoài cơ cấu bó
hẹp trong phạm vi phum sóc, còn mang nặng tính chất tự cung tự cấp.
1.2.3. Văn hoá tộc người của người Khmer
* Văn hóa vật thể (vật chất):
Ẩm thực, người Khmer trồng giống lúa tẻ và nếp. Bữa ăn của họ rất phong
phú và ña dạng. Người Khmer chế biến các món ăn từ những nguyên vật liệu có
sẵn trong vườn nhà. Rượu thốt nốt chua là loại ñặc sản. Ngoài ra, người Khmer
còn có rượu nếp và rượu gạo. người Khmer ñã biết trồng những cây thuốc lá ñể
lấy lá “thuốc rê”.
Trang phục của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long không hoàn toàn
giống như người Khmer ở Campuchia. Ở nhiều vùng, ñồng bào Khmer mặc trang
phục như người Việt. Riêng người Khmer thuộc tỉnh An Giang và Kiên Giang khu
vực sát biên giới vẫn quấn xà rông hoặc vận xàm pốt. Phụ nữ Khmer mặc áo “tầm
8

vông”. Họ quấn xà rông hoặc vận xàm pốt và quấn khăn khi ñi ra ngoài. Ở nhà, họ
thường mặc áo ngắn và quần ñáy nem. Phụ nữ Khmer thích những vật trang sức.
Nam giới Khmer mặc quần lá nem hoặc vận xam pốt, áo bà ba ñen hoặc xám khi
ra khỏi nhà (Riêng thầy cúng hay mặc áo màu xanh hoặc trắng). Ngày nay, nam

Văn hóa dân gian, người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện
cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân
khấu truyền thống như: Rô băm, Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc
9

ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp ñược coi
là di sản ñặc sắc nhất của văn hoá Khmer.
Vấn ñề giáo dục người Khmer có một hệ thống văn tự rất sớm. Hệ thống
giáo dục do các nhà sư trong chùa ñảm nhiệm.
Lễ hội và phong tục tập quán của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu
Long thường hòa quyện vào nhau. Ở mỗi nghi thức cụ thể ñều có sự ñan xen giữa
yếu tố tôn giáo và tín ngưỡng dân gian. Các lễ hội của người Khmer gắn với sinh
hoạt thường ngày.
* Kết chương 1:
Người Khmer là một cộng ñồng dân cư sinh sống từ lâu ñời ở ñồng bằng
sông Cửu Long. Cư trú dưới 2 hình thức: tập trung hoặc phân tán xen kẽ. Ở một số
vùng họ sống xen kẻ với người Việt và người Hoa. Trong số các tỉnh thuộc ñồng
bằng sông Cửu Long, người Khmer tập trung ñông nhất ở 3 tỉnh Sóc Trăng, Trà
Vinh và Kiên Giang. Đặc ñiểm phân bố dân cư của người Khmer vừa chịu tác
ñộng của lịch sử tộc người, ñiều kiện ñịa lý môi sinh và sự phân bố dân cư chung
của cả vùng ñồng bằng sông Cửu Long. Người Khmer rất cần cù, chịu khó, hoạt
ñộng kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Người Khmer Nam Bộ có gần 200
giống lúa trong sản xuất nông nghiệp. Họ biết xây dựng hệ thống thủy lợi cung
cấp nguồn nước canh tác.
Phật giáo ñóng vai trò quan trọng và có vị trí cao nhất trong mọi lĩnh vực
của ñời sống người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long. Nói cách khác, người
Khmer vừa là “kon sóc” và họ cũng là “con Phật” ngay từ khi mới chào ñời. Nông
nghiệp cũng gắn liền với những tàn dư tín ngưỡng và các nghi lễ mang sắc thái
riêng của người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long. Tín ngưỡng thờ Arak và
Neak tà rất phổ biến ñối với ñồng bào Khmer. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp

xử ngang nhau. Việc thừa kế tài sản, cha mẹ chia ñều cho các con.
Trong quan hệ hôn nhân, ña số người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long
thường lấy vợ lấy chồng ở cùng một ñịa phương, gần nhất là cùng phum, sóc hoặc
cùng xã. Hiện tượng tương ñối phổ biến là các cuộc hôn nhân hỗn hợp giữa người
Khmer với người Việt hoặc người Hoa. Có một số gia ñình Khmer có cả ba dòng
máu trên qua nhiều thế hệ.
2.1.2. Tổ chức thân tộc của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long
* Mô hình dòng họ của người Khmer:
Về họ, người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long trước ñây không có họ
như người Việt. Vua Gia Long ñặt 5 nhánh họ: KIM, THẠCH, SƠN, LÂM,
DANH ñể người Khmer ñặt tên con cháu hầu dễ tra tầm gia phả. Trước ñây, người
cha ñặt họ cho con bằng tên của mình và ñứa con sau này lấy tên của nó làm họ
cho con nó (phụ tử liên danh). Năm họ trên ñây ñược người Khmer gìn giữ cho
ñến ngày nay. Trên thực tế, khó xác ñịnh ñược họ của người Khmer.
Về quan hệ dòng họ của người Khmer rất ñặc biệt, tất cả bà con họ hàng
bên cha cũng như bà con họ hàng bên mẹ ñều ñược quan niệm và ñối xử giống
nhau. Hệ thống thân tộc của người Khmer có ñiểm khác biệt với người Việt và
người Hoa. Người Khmer không có người làm trưởng tộc trong dòng họ (Trong
phum, sóc, các vị Acha là người có vị trí quan trọng). Người Khmer cũng không
11

có quan hệ “chi trên, chi dưới” như người Việt, người Hoa. Trong mối quan hệ
thân tộc của người Khmer không tạo thành những tộc họ truyền thừa
*Mô hình thân tộc của người Khmer:
Thuật ngữ thân tộc của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long
Mỗi tộc người ñều có thuật ngữ thân tộc riêng dùng ñể gọi những người bà
con của mình. Đó là những từ ngữ xưng và hô liên quan hoặc nhằm thể hiện mối
quan hệ huyết thống giữa các cá nhân với nhau. Thông qua các thuật ngữ của
người Khmer khó có thể phân biệt ñược ñâu là bên nội và ñâu là bên ngoại.
Sơ ñồ hệ thống thân tộc của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long:

8. Bon srây/On srây
- Chị gái ruột = Bon srây
- Em gái ruột = On srây
Biệt xưng theo tuổi tác và giới tính
Ở thế hệ thứ 3: Hợp xưng nội ngoại, nhưng có sự biệt xưng về trực hệ và
bàng hệ
Thế hệ thứ 4
9. Con trai/con gái của anh/chị/em họ/ruột của Ego = Kho muôi/Kh’muôi
(Hợp xưng)
10. Con trai/con gái của Ego = Kon/Kôn
Ở thế hệ này có sự biệt xưng giữa trực hệ và bàng hệ
13

Hệ thống thân tộc của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long
- Ở thế hệ thứ 1 giống như hệ thống thân tộc Hawaii, mỗi thuật ngữ thân tộc
dùng ñể gọi chung cho tất cả những người cùng giới tính
- Ở thế hệ thứ 3 anh em họ song song bên cha = anh em họ song song bên
mẹ; anh em họ chéo bên cha = anh em họ chéo bên mẹ. Chính vì thế có sự hợp
xưng nội ngoại (giống hệ thống thân tộc Iroquois)
- Ở thế hệ thứ 4: không có sự phân biệt anh/chị/em họ chéo với anh/chị/em
họ song song mà gọi tất cả họ bằng một thuật ngữ như ở hệ thống thân tộc Eskimo
Hiện nay, hệ thống thuật ngữ thân tộc của người Khmer vùng ñồng bằng
sông Cửu Long có khuynh hướng giản lược hóa do ảnh hưởng ngôn ngữ của
tiếng Việt (về cấu trúc) ñơn tiết hóa lược bớt phần ñầu hoặc phần cuối ví như:
P’ôn/ Pa on/ On brot (prôs)/ On Kh’mếch chỉ còn lại On (em: chỉ người nhỏ
hơn Ego)… Người Khmer chỉ sử dụng thuật ngữ ghép (Pu, Miênh/Y, Thum…)
ñể làm rõ vai vế thông qua việc “phân biệt” tuổi tác… Sự biến ñổi này nhằm
thích ứng hôn nhân ngoại tộc (chủ yếu là người Hoa) trong quá trình cộng cư
và thiết lập mối quan hệ hôn nhân.
Thân tộc của người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long

na” ñể chỉ người thường ñứng ra phụ trách những việc hiếu hỷ khi có ai hỏi về
trưởng tộc.
- Anh chị em họ gần vẫn ñược lấy nhau. Trong mối quan hệ hôn nhân cùng
huyết thống (thân tộc), con cô con cậu là phổ biến nhất. Con chú con bác vẫn ñược
phép lấy nhau nhưng ít phổ biến hơn. Anh chị em ruột tuyệt ñối không ñược lấy
nhau. Trong gia ñình người Khmer, quan niệm anh chị em họ ñược phép kết hôn
và ñược cộng ñồng tộc người Khmer ủng hộ. Họ cho rằng, anh em cùng thân tộc
lấy nhau vẫn tốt hơn người ngoài dòng tộc.
Trường hợp kết hôn ngoài dòng tộc, những gia ñình có con gái thường xem
gia ñình nhà trai có “môn ñăng hộ ñối” với nhà mình không. Ngày xưa, người
Khmer thường hay “ngó lên” cho nên trong gia ñình nếu con cái cãi lời thì không
cho bất kỳ tài sản gì và “từ luôn”.
Đối với người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long, cách tính mối quan hệ
thân thuộc “không hẳn về phía cha cũng không nghiêng về phía mẹ”. Về việc cư
trú sau khi kết hôn phổ biến là bên gia ñình nhà vợ. Sau này, tập tục cư trú bên vợ
không bắt buộc. Đôi vợ chồng trẻ có thể ở bên vợ hoặc chồng với ñiều kiện bên ñó
thuận lợi hơn về mặt kinh tế.
Trước kia, những người Khmer có cùng quan hệ huyết thống thường sống
tập trung trong cùng một phum, sóc. Nhưng từ sau thời kỳ ñổi mới, sự phát triển
của kinh tế, xã hội ñã làm thay ñổi tập quán cư trú ñã có của ñồng bào Khmer. Do
ñó, cấu trúc, chức năng của phum lỏng lẻo hơn. Chức năng ñối nội, ñối ngoại của
mê phum ngày càng thu hẹp so với xã hội truyền thống.
2.2. Tổ chức xã hội tự quản theo cư trú:
Để tồn tại và phát triển, duy trì truyền thống văn hoá tộc người, người Khmer
ñồng bằng sông Cửu Long ñã tập hợp lại thành những khu vực cư trú và tổ chức thành
những ñơn vị xã hội tự quản truyền thống với hai thiết chế xã hội là “phum” và “sóc”
(srok). Phum là ñơn vị xã hội nhỏ nhất, sóc là ñơn vị xã hội của người Khmer do nhiều
15

phum hợp thành. Về mặt hành chính, xã ấp là những ñơn vị quản lý hành chính ở cơ

mọi năng lực sáng tạo nghệ thuật trong cộng ñồng người Khmer ñều ñược cống
hiến xây dựng ngôi chùa của Sóc.
* Ngôi chùa ñối với ñồng bào Khmer:
Chùa là trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng, giáo dục và sinh hoạt văn hóa
truyền thống của cư dân. Do ñạo Phật ảnh hưởng rất lớn trong sinh hoạt xã hội của
người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long nên tầng lớp sư sãi và trí thức Khmer
16

có vị trí ñặc biệt trong quan hệ xã hội, ảnh hưởng mạnh và chi phối sâu sắc ñời
sống kinh tế - xã hội của người Khmer.
Chùa là ngôi trường truyền thống của ñồng bào Khmer
Chùa là nơi linh thiêng của ñồng bào Khmer ñể tổ chức lễ hội
* Sự tham dự của các nhà sư Khmer trong ñời sống phum, sóc:
Theo phong tục tập quán của người Khmer, những người con trai phải vào
chùa tu học khi ñến tuổi 11, 12 (tu trả hiếu cho ông bà cha mẹ). Sau thời gian tu
học, người tu có thể trở lại cuộc sống ñời thường hoặc ở lại chùa tiếp tục việc tu
học. Họ chính là tầng lớp Sadi (tập sự tu). Đến năm 21 tuổi, các Sadi ñược “lên
chức” Tỳ Kheo (Tỳ Khưu) với ñiều kiện họ phải qua “kỳ thi sát hạch” và ñược sự
nhận xét của Sư cả là “học ñạo ñã ñạt”.
Luk cả (sư cả) là người ñứng ñầu trong chùa Khmer. Đồng thời, ông là
người chi phối ñến tất cả bà con phum, sóc (trong những dịp lễ cúng tại chùa).
Đồng bào trong phum, sóc muốn ñi ñâu hay có ý ñịnh làm gì ñều ñến chùa xin ý
kiến của Sư cả. Mọi ñề xuất của sư cả ñưa ra ñối với bà con trong phum, sóc
Khmer gần giống như “mệnh lệnh”.
Luk phó (sư phó) trong các chùa Khmer do các sư và Ban quản trị chùa tự
bầu chọn thường xuyên giải quyết công việc liên quan ñến chùa trong lúc sư cả
vắng mặt. Bên cạnh ñó, họ giúp sư cả quán xuyến chùa và “quan tâm chăm sóc”
ñến bà con trong bổn sóc.
Trước kia, hầu hết các chùa Khmer không có Hòa thượng (Up ta khe). Hiện
nay, chùa Khmer cũng có các vị Hòa thượng giống như chùa Phật Bắc Tông (chức

giềng. Bộ máy tự quản cổ truyền là mê phum, mê sóc. Xét về cấu trúc xã hội, tính
chất và chức năng thì phum, sóc của người Khmer hầu như không thay ñổi ở các
vùng. Đây chính là yếu tố quan trọng giúp cho người Khmer bảo lưu và gìn giữ
ñược truyền thống văn hóa của tộc người của mình. Tập quán cư trú trong khuôn
viên phum sóc Khmer trên ñất giồng từ bao ñời nay ñã ít nhiều bị phá vỡ. Do ñó,
cơ cấu, chức năng của phum lỏng lẻo hơn. Chức năng ñối nội, ñối ngoại của mê
phum ngày càng thu hẹp so với xã hội truyền thống.
Đối với ñồng bào Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long, Phật giáo Nam
Tông Khmer Nam bộ ñóng một vai trò quan trọng trong ñời sống. Ngôi chùa mang
một tình cảm thiêng liêng và sâu sắc. Chùa là biểu tượng tinh thần của cộng ñồng
dân cư cũng như ñối với từng cá nhân trong sóc. Phật giáo ñã tạo cho cộng ñồng
người Khmer ñức tính chân thật, hiền hòa, mộc mạc… Phật giáo còn mang ñến
cho cộng ñồng Khmer những giá trị văn hóa nghệ thuật ñộc ñáo, phong phú và
sinh ñộng biểu hiện qua những nét ñẹp của phong tục tập quán, lối sống, kho tàng
văn hóa dân gian.
Tầng lớp sư sãi có vị trí ñặc biệt trong quan hệ xã hội, ảnh hưởng và chi
phối sâu sắc ñến ñời sống kinh tế - xã hội của người Khmer. Tầng lớp này ñược
cộng ñồng quí trọng và sùng bái. Mặc dù, họ không tham gia trực tiếp quản lý
phum, sóc nhưng tiếng nói và những ý kiến của họ có ý nghĩa quan trọng ñối với
việc ñiều hành sinh hoạt của cộng ñồng.
Chương 3:
Đặc tính của hệ thống xã hội tộc người Khmer ở ñồng bằng sông Cửu Long
18

Trong chương này, chúng tôi trình bày 3 phần: Cơ sở vận hành xã hội
truyền thống; Mối quan hệ giữa tổ chức xã hội quan phương và phi quan phương;
Đặc tính của hệ thống xã hội tộc người Khmer.
3.1. Cơ sở vận hành xã hội truyền thống
3.1.1. Chế ñộ sở hữu ñất ñai của người Khmer và sự phân tầng xã hội
* Hình thức sở hữu ruộng ñất vùng nông thôn Khmer trước năm 1975

Nông dân là giai cấp chiếm ña số ở vùng nông thôn Khmer ñồng bằng sông
Cửu Long. Họ là những người cần cù, chịu thương chịu khó, dầm sương dãi nắng.
Nông dân Khmer xuất hiện hai bộ phận rõ rệt Trung nông và Bần nông.
Địa chủ do sự phân hoá tự phát trong cơ cấu kinh tế xã hội ñã xuất hiện
những người có nhiều ruộng ñất và họ “phát canh thu tô” cho dân sóc. Trong quá
trình cạnh tranh, một số trung nông lớp trên nhờ làm ăn phát ñạt ñã hình thành nên
tầng lớp phú nông trong xã hội nông thôn Khmer.
Bên cạnh các giai cấp và các tầng lớp xã hội chủ yếu, xã hội Khmer còn có
tầng lớp sư sãi ñóng một vai trò nhất ñịnh trong sinh hoạt xã hội. Mặc dù họ
không trực tiếp tham gia sản xuất và quản lý phum sóc, nhưng tiếng nói và ý kiến
của họ có ý nghĩa quan trọng ñối với việc ñiều hành những sinh hoạt của phum
sóc.
Tầng lớp trí thức ở vùng nông thôn Khmer bao gồm những người am hiểu
giáo lý Phật giáo, các vị chức sắc ñã hoàn tục, các giáo viên nông thôn ñược học
trường chùa và một số có bằng cấp tiếng Việt, Pháp, các vị Acha, Maha là những
người thông hiểu văn hoá, tập tục truyền thống của người Khmer. Phần ñông, trí
thức Khmer ñều tham gia sản xuất.
Phân hoá giai cấp và các tầng lớp xã hội: thực trạng phân bố ruộng ñất và
xu hướng tư hữu hoá ruộng ñất ñã ñưa ñến hậu quả là sự phân hoá xã hội ngày
càng gay gắt, sự cách biệt giữa các giai cấp và các tầng lớp xã hội ngày càng sâu
sắc. Xã hội hình thành các tầng lớp: người nghèo, người giàu, tôi tớ và những
người làm nghề ma thuật, tín ngưỡng (nghề bói toán, lên ñồng, thầy cúng…)
3.1.3. Cơ chế quản lý xã hội truyền thống của người Khmer
Người Khmer ở vùng ñồng bằng sông Cửu Long thuộc cư dân của nền văn
minh nông nghiệp trồng lúa nước. Phum, sóc của người Khmer gần giống với các
làng xóm của người Việt. Ở góc ñộ nào ñó, sóc của ñồng bào Khmer giống như
những công xã nông thôn trong lịch sử.
Tại thời ñiểm ñịnh cư ban ñầu, chế ñộ sở hữu ruộng ñất của người Khmer
ñã tạo nên một tính cách ñặc biệt cho các quan hệ trong cộng ñồng phum, sóc. Đó
là quan hệ bình ñẳng và hợp tác giữa các thành viên trong phum, sóc. Chính trên

Phong tục tập quán
Cá nhân (thành viên của phum, sóc)
Gia ñ
ình

Ban quản lý sóc
Mê sóc, Mê phum
Giáo lý Phật giáo
Lục Krou, Sư sãi
Ban quản trị chùa
Wêl

Wêl
: tùy theo phạm vi của phum, sóc số lượng Wêl của các chùa khác nhau, có
chùa lên ñến 20 Wêl. Ở mỗi Wêl có một Mê Wêl ñảm trách việc ñôn ñốc “con
sóc” những việc liên quan ñến chùa. Đa phần, Mê Wêl là những Acha.
21

Mạng và các ñời vua Nguyễn kế tiếp ñã dần dần thay thế các viên quan ñịa
phương người Khmer bằng các quan lại người Việt.
Thời thuộc Pháp, chính phủ Pháp ñã áp dụng một chính sách cai trị mang
tính chất “chia ñể trị”, tách người Khmer ra khỏi cộng ñồng các dân tộc Việt Nam.
Điều ñó ñã làm cho thiết chế chính trị xã hội vùng nông thôn Khmer ñồng bằng
sông Cửu Long có sự thay ñổi nhất ñịnh.
Từ năm 1960, Chính quyền Sài Gòn ñã tiến hành tập trung người Khmer
trong các “ấp chiến lược”, “khu dồn dân” ñể cách ly người Khmer với lực lượng
yêu nước. Dưới thời Ngô Đình Diệm, nhiều ñịa phương gốc Khmer ñược ñổi tên
sang tiếng Việt. Chính quyền Sài Gòn tìm cách kiểm soát chặt chẽ hơn người
Khmer. Thiết chế xã hội truyền thống của phum sóc rõ ràng không tương thích với
cơ chế quản lý quận, phường của chính quyền Sài Gòn.

tâm linh mà còn là sự gắn bó, cộng cảm của tập hợp người. Lễ hội cũng là không
gian thích hợp nhất ñể các thành viên cộng ñồng cùng tham dự vào việc trao
truyền và sáng tạo văn hóa tộc người.
3.2.4. Những biến ñộng lịch sử ñối với xã hội người Khmer
* Cộng ñồng người Khmer với chính sách dân tộc của triều Nguyễn
- Cộng ñồng người Khmer dưới triều Nguyễn:
Dưới thời Gia Long (1802-1820), toàn bộ lãnh thổ miền Nam tương ñối ổn
ñịnh, cộng ñồng người Khmer hưởng qui chế tự trị. Sang thời Minh Mạng, chính
sách ñồng hóa (về văn hóa), dưới tên gọi "nhất thị ñồng nhơn” ñược áp dụng
chung cho tất cả các sắc tộc. Chính sách ñồng hóa này gây bất mãn trong cộng
ñồng người Khmer.
Từ sau 1842, Cộng ñồng người Khmer tại ñồng bằng sông Cửu Long bị cô
lập hoàn toàn với triều ñình Chân Lạp. Đồng bằng sông Cửu Long ñã ñược tổ
chức rất nề nếp, mỗi ñịa phương quan trọng ñều có một quan gốc Việt cai trị.
- Chính sách dân tộc của triều Nguyễn ñối với người Khmer
Dưới thời Chúa Nguyễn chính sách dân tộc mới ở trạng thái manh nha,
chưa với tay ñến ñược vùng sâu, vùng xa. Các Chúa Nguyễn dùng chính sách vỗ
về, thu phục nhân tâm là chính, ñể quy tụ các dân tộc thiểu số vào vòng ảnh hưởng
của mình. Chính sách dân tộc thực sự ra ñời với Vương triều Nhà Nguyễn trong
một quốc gia thống nhất ña dân tộc, nổi bật dưới thời vua Minh Mạng.
* Chính sách ñối với người Khmer của thực dân Pháp
Thực dân Pháp ñã tìm cách mua chuộc, lợi dụng lòng tin của các sư sãi với
“chiêu bài nâng ñỡ” nhưng thực chất nhằm khống chế Phật giáo. Mục ñích chính
của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhằm ñào tạo tầng lớp tay sai mới có sự hiểu biết về
văn hóa ñồng thời có uy tín về mặt tôn giáo, những kẻ trực tiếp thi hành chính
sách thực dân của chúng trong nhân dân Khmer Nam Bộ. Thực dân Pháp thực
hiện một cách khá hoàn hảo chiêu bài “ngu dân”, nhằm kìm hãm ñồng bào Khmer
và gây chia rẽ giữa các dân tộc phá hoại khối ñoàn kết của ñại gia ñình các dân tộc
Việt Nam.


Nam cư trú ở ñồng bằng sông Cửu Long. Người Khmer thuộc nền văn minh nông
nghiệp trồng lúa nước, cư trú theo dạng công xã. Người Khmer có một nền văn
hóa truyền thống phong phú ñặc sắc, ảnh hưởng ñậm nét văn hóa Ấn Độ và Phật
giáo. Người Khmer là một cộng ñồng dân cư sinh sống từ lâu ñời ở ñồng bằng
sông Cửu Long. Họ là những người nông dân sống ở nông thôn. Người Khmer
ñồng bằng sông Cửu Long cư trú tập trung. Tuy nhiên, ở một số vùng họ sống xen
kẻ với người Việt và người Hoa. Người Khmer có mặt hầu khắp các tỉnh thuộc
ñồng bằng sông Cửu Long. Nhưng người Khmer sống tập trung ñông nhất ở 3 tỉnh
Sóc Trăng, Trà Vinh và Kiên Giang.
24

Phật giáo ñóng vai trò quan trọng và có vị trí cao nhất trong mọi lĩnh vực
của ñời sống người Khmer ñồng bằng sông Cửu Long. Ngôi chùa mang một tình
cảm rất thiêng liêng và sâu sắc. Chùa là biểu tượng tinh thần của cộng ñồng dân
cư cũng như ñối với từng cá nhân trong sóc. Tín ngưỡng thờ Arak và Neak tà rất
phổ biến ñối với ñồng bào Khmer. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp ñược xem là
di sản ñặc sắc của văn hóa Khmer.
Cấu thành hệ thống xã hội tộc người của người Khmer ñồng bằng sông Cửu
Long bao gồm những tập hợp người từ gia ñình, dòng họ ñến phum sóc là những
thiết chế xã hội truyền thống. Chức năng quan trọng nhất của những cấu thành này
là duy trì, cố kết tộc người, bảo vệ văn hóa tộc người. Phật giáo là nhân tố ảnh
hưởng rất lớn ñến những cấu thành của hệ thống xã hội tộc người của người
Khmer ñồng bằng sông Cửu Long.
Gia ñình và phum sóc ñóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giữ gìn và
bảo lưu các giá trị truyền thống văn hóa tốt ñẹp của người Khmer. Ở ñây mỗi gia
ñình là một ñơn vị kinh tế và xã hội ñộc lập, có nhà ở riêng, có cơ sở kinh tế như:
ruộng ñất, trâu bò, dụng cụ sản xuất…
Về quan hệ dòng họ của người Khmer có ñiểm khác với người Việt và
người Hoa. Người Khmer không có người làm trưởng tộc trong dòng họ và cũng
không có quan hệ “chi trên, chi dưới”. Chính vì vậy, thông qua các thuật ngữ thân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status