309 Nâng cao tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Vĩnh long giai đoạn 2005-2010 - Pdf 23



Trang 1
MỤC LỤC
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU-------------------------------------------------------------------------------------------- 1
CHƯƠNG I: DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI
CHÍNH TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM ----- 4
1.1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa: ------------------------------------------------------- 4
1.1.1. Khái niệm về DNNVV--------------------------------------------------------------------- 4
1.1.2. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thò trường ----------------------------------- 6
1.1.3. Những ưu thế và hạn chế của DNNVV trong nền kinh tế thò trường ----------- 9
1.2. Vai trò của chính sách tài chính trong việc phát triển DNNVV----------------------------11
1.3. Các chính sách hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam từ phía nhà nước:---------------------------12
1.3.1. Chính sách tài chính tín dụng -----------------------------------------------------------12
1.3.2. Chính sách thuế----------------------------------------------------------------------------14
1.3.3. Chính sách thương mại -------------------------------------------------------------------14
1.3.4. Chính sách đầu tư -------------------------------------------------------------------------15
1.3.5. Chính sách đất đai-------------------------------------------------------------------------15
1.3.6. Chính sách công nghệ và đào tạo -----------------------------------------------------15
1.4. Kinh nghiệm của một số nước trong việc sử dụng chính sách tài chính hỗ trợ
phát triển DNNVV: ---------------------------------------------------------------------------------16
1.4.1. Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở một số nước ------------------16
1.4.2. Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam---------------------------------------24
CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG VIỆC HỖ TR PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở TỈNH VĨNH LONG HIỆN NAY ----------------------------27
2.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Tỉnh Vónh Long -----------------------27
2.2. Đặc điểm của DNNVV ở Tỉnh Vónh Long: -----------------------------------------------------33
2.2.1. Tình hình phát triển DNNVV ở Tỉnh Vónh Long:-------------------------------------33
a. Về số lượng-----------------------------------------------------------------------------------33
b. Đóng góp cho ngân sách nhà nước của các DNNVV ------------------------------37

3.1.3. GDP bình quân đầu người --------------------------------------------------------------71
3.2. Đònh hướng chiến lược phát triển DNNVV ở Tỉnh Vónh Long đến năm 2010: ---------71
3.2.1. Hỗ trợ phát triển DNNVV là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh -----------------------------------------------------------72
3.2.2. Ưu tiên phát triển DNNVV ở nông thôn là bộ phận quan trọng nhất của
chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn -------73
3.2.3. Ưu tiên phát triển DNNVV trong hoạt động sản xuất công nghiệp đối với
một số lónh vực, ngành mà DNNVV có khả năng và ưu thế---------------------73
3.2.4. Phát triển DNNVV trong mối liên kết công nghiệp bền vững, chặt chẽ với
các DN lớn, nhằm tạo ưu thế và nâng cao năng lực cạnh tranh của
DNNVV nói riêng và DN TỉnhVónh Long nói chung--------------------------------74 Trang 3
3.2.5. Trước tiên tập trung hóa DNNVV ở một số đòa bàn trọng điểm, một số thò
xã, thò trấn, các khu công nghiệp------------------------------------------------------74
3.3. Giải pháp tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở Tỉnh Vónh Long giai đoạn 2005-
2010: --------------------------------------------------------------------------------------------------74
3.3.1. Các giải pháp về thuế --------------------------------------------------------------------74
a. Hợp lý hóa thuế thu nhập cá nhân ------------------------------------------------------75
b. Đối với thuế thu nhập DN -----------------------------------------------------------------75
c. Tiếp tục cải cách thuế giá trò gia tăng --------------------------------------------------79
d. Cần giải quyết các vướng mắc về thuế của DNNVV -------------------------------81
3.3.2. Giải pháp tạo vốn cho các DNNVV: ---------------------------------------------------82
a. Tạo vốn qua hình thức tín dụng ----------------------------------------------------------82
b. Cải cách và đổi mới các đònh chế tài chính -------------------------------------------85
c. Tạo vốn vay hình thức liên doanh, liên kết --------------------------------------------87
d. Coi trọng và tạo thuận lợi để hỗ trợ các DNNVV tiếp cận các nguồn vốn
ngoài ngân sách Nhà nước --------------------------------------------------------------87
3.3.3. Phát triển thò trường chứng khoán (tập trung và phi tập trung), tạo điều

giờ hết. Sau hơn 15 năm đổi mới, ý thức được tầm quan trọng đó, chính phủ
Việt Nam đã có những chính sách khuyến khích phát triển DNNVV. Những
chính sách này đã đem lại những kết quả nhất đònh như: tạo công ăn việc làm
cho người lao động, gia tăng khối lượng sản phẩm, khai thác các tiềm năng
trong nhân dân, làm cho nền kinh tế năng động hơn, tăng thu cho ngân sách
nhà nước …
Ở tỉnh Vónh Long hiện nay, số lượng DNNVV chiếm tỷ lệ áp đảo, trên 99%
tổng số DN toàn tỉnh, các DNNVV đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, cũng như tình hình chung của cả
nước, các DNNVV của tỉnh vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong
quá trình hoạt động SXKD như: thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, trình độ lao
động thấp, trình độ cán bộ quản lý yếu kém, thiếu mặt bằng sản xuất, thông
tin thương mại … ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các DNNVV trên thò
trường trong nước, khu vực và thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập
hiện nay. Do đó, bên cạnh những nỗ lực của bản thân các DNNVV, sự hỗ trợ
từ phía chính quyền đòa phương là vô cùng cần thiết và quan trọng, đặc biệt là
hỗ trợ về tài chính để phát triển các DNNVV, góp phần tăng trưởng kinh tế
của tỉnh Vónh Long ổn đònh và bền vững.
Các chính sách hỗ trợ trong thời gian qua, sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung
vẫn chưa hoàn thiện để thực sự tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển Trang 5
mạnh mẽ. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Giải pháp tài chính hỗ trợ phát triển
DNNVV tỉnh Vónh Long giai đoạn 2005-2010” để nghiên cứu, từ đó đưa ra một
số kiến nghò về giải pháp nhằm góp phần giải quyết các vấn đề vướng mắc
trong chính sách hỗ trợ DNNVV trên đòa bàn tỉnh Vónh Long.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá thực trạng các DNNVV và chính sách tài chính hỗ trợ phát
triển DNNVV ở tỉnh Vónh Long hiện nay.

triển DNNVV ở Việt Nam.
Chương II: Thực trạng chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở
tỉnh Vónh Long hiện nay.
Chương III: Giải pháp tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở tỉnh Vónh Long
giai đoạn 2005 - 2010. Trang 7
CHƯƠNG I
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ VAI TRÒ
CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

Nhật < 100 trong buôn bán. < 30 triệu Yên Trang 8
< 50 trong bán lẻ
< 300 trong các ngành khác
< 10 triệu Yên
< 100 triệu Yên
Mexico < 250 < 7 triệu USD
Philippines < 200 < 100 triệu Peso
Singapore < 100 < 499 triệu USD
Myanmas < 100
Thái Lan < 100 < 20 triệu Baht
Mỹ < 500

Ở Việt Nam, các đòa phương, các ngành, các tổ chức có các cách xác
đònh DNNVV khác nhau:
- Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI ) xác đònh:
+ Đối với ngành công nghiệp: những DN có vốn từ 5–10 tỷ đồng và số
lao động trung bình hàng năm từ 200-500 người là DN vừa, DN có vốn dưới 5 tỷ
đồng và số lao động trung bình dưới 200 người là DN nhỏ.
+ Đối với ngành thương mại: những DN có vốn từ 5-10 tỷ đồng và số
lao động trung bình hàng năm từ 50-100 người là DN vừa, DN có vốn dưới 5
tỷ đồng và lao động trung bình dưới 50 người là DN nhỏ.
- Trung tâm phát triển ngoại thương và đầu tư (FTDC) căn cứ vào dự
án của Liên Hiệp Quốc nghiên cứu về DNNVV ở Việt Nam xác đònh: DN vừa
là những DN có quy mô vốn từ 1 tỷ đến 4 tỷ đồng và có công nhân từ 30 đến
200 người, DN nhỏ là DN có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng và số công nhân dưới
30 người.
- Ngân Hàng Công Thương Việt Nam xác đònh DNNVV là những DN có số

Đây là thế mạnh rõ rệt của DNNVV và là nguyên nhân chủ yếu khiến
ta phải đặc biệt chú trọng phát triển DNNVV ở nước ta hiện nay.
Giải quyết công ăn việc làm luôn là vấn đề bức xúc của hầu hết các nước
trên thế giới. Phát triển DNNVV là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề thất
nghiệp. Lý do đơn giản là DNNVV thường được dễ dàng tạo lập với một lượng
vốn không lớn, và thường xuyên đáp ứng được những thay đổi của thò trường. Vì
vậy, mặc dù số lượng lao động trong một DNNVV không nhiều, nhưng theo quy Trang 10
luật số đông, một số lượng lớn DNNVV trong nền kinh tế sẽ tạo ra phần lớn công
ăn việc làm cho xã hội.
Theo thống kê của Tổng Cục Thống Kê, năm 2000 cả nước có
1.447.000 người trong độ tuổi lao động không có việc làm, trong đó khu vực
thành thò chiếm 48%, khu vực nông thôn chiếm 52%. Dự báo từ nay đến năm
2010, mặc dù dân số có thể tăng chậm lại nhưng nguồn lao động vẫn tăng
nhanh liên tục do tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng (mỗi năm
có thêm khoảng 1,8 triệu người bước vào tuổi lao động), đòi hỏi giải quyết
việc làm cấp bách.
Khu vực DNNVV thuộc các thành phần kinh tế hiện thu hút khoảng 25-
26% lực lượng lao động phi nông nghiệp cả nước nhưng triển vọng thu hút
thêm lao động rất lớn vì suất đầu tư cho một chỗ làm việc ở đây thấp hơn rất
nhiều so với DN lớn, chủ yếu là do chi phí thấp và thu hút được các nguồn vốn
rải rác trong dân, là nơi có nhiều thuận lợi nhất để tiếp nhận số lao động ở
nông thôn tăng thêm mỗi năm, số lao động từ các DNNVV dôi ra qua việc cổ
phần hóa, bán, khoán, cho thuê,…
- DNNVV cung cấp một khối lượng lớn, đa dạng phong phú về sản
phẩm, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế:
Với số lượng đông đảo trong nền kinh tế, DNNVV tạo ra một khối lượng
sản phẩm đáng kể cho xã hội. Mặt khác, do đặc tính linh hoạt, mềm dẻo,

- Góp phần vào sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa:
Ở các nước cũng như ở Việt Nam, các DN lớn thường tập trung ở các
thành phố và các trung tâm công nghiệp, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển,
nhưng lại không đáp ứng được tất cả yêu cầu của nền kinh tế như lưu thông
hàng hóa, dòch vụ, phát triển ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp,
giải quyết lao động … gây mất trạng thái cân đối nghiêm trọng về trình độ
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thò với nông thôn, giữa các vùng
trong một quốc gia.
Chính sự phát triển DNNVV là phương tiện quan trọng trong việc tạo
lập sự cân đối giữa các vùng. Nó giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng nông
thôn có thể khai thác được tiềm năng của vùng, đòa phương để phát triển các Trang 12
ngành sản xuất, dòch vụ, góp phần chuyển dòch cơ cấu kinh tế giữa các thành
phần kinh tế, giữa các ngành và các vùng lãnh thổ, đặt biệt là khu vực nông
nghiệp và nông thôn.
1.1.3. Những ưu thế và hạn chế của DNNVV trong nền kinh tế thò trường:
a. Một số ưu thế của DNNVV:
- Dễ khởi nghiệp, ban đầu không đòi hỏi gì nhiều mọi mặt như vốn, số
lượng nhân công, mặt bằng SXKD,… chính vì vậy mà DNNVV tồn tại và phát
triển ở hầu hết các ngành, các lónh vực và chiếm tỷ lệ lớn trong các thành
phần kinh tế.
- Bộ máy quản lý gọn nhẹ, giàu tính mềm mại, linh hoạt, năng động,
thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường thể chế, chế độ kinh tế -
xã hội.
- Có khả năng chuyển hướng kinh doanh nhanh và ít bò tổn thất khi thò
trường có biến động do vốn đầu tư ít, thu hồi nhanh.
- Đặc biệt thích nghi với việc phát huy mọi tiềm năng của đòa phương và

- Rất khó trong việc tập hợp thành một lực lượng thống nhất và mạnh để
có vò thế chi phối về kinh tế, chính trò, xã hội vì số lượng quá lớn mà rải rác
khắp mọi nơi.
1.2. VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN
DNNVV:
1.2.1. Kích thích thúc đẩy các tầng lớp dân cư bỏ vốn đầu tư trực tiếp tạo lập
DN mới hoặc mở rộng qui mô hoạt động của DNNVV, góp phần tích
cực vào việc phát triển nên kinh tế:
Bằng chính sách ưu đãi thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế, chính sách
tín dụng ưu đãi, chính sách đầu tư bảo lãnh tín dụng…, nhà nước đã khuyến
khích các tầng lớp dân cư bỏ vốn thành lập DN mới hoặc khuyến khích DN
đang hoạt động mở rộng qui mô SXKD.
1.2.2. Góp phần thúc đẩy tăng khả năng tự tích lũy và mở rộng khả năng huy
động vốn từ bên ngoài, giúp cho DNNVV tăng cường tài chính để phát
triển SXKD:
Hạn chế lớn nhất của các DNNVV là vốn ít, từ đó hạn chế đến việc
trang bò máy móc, thiết bò và công nghệ tiên tiến, đồng thời cũng rất khó khăn
trong việc mở rộng qui mô SXKD. Với chính sách tín dụng ưu đãi của nhà Trang 14
nước đã giúp DN tăng thêm vốn kinh doanh. Khi nhà nước cho vay vốn với lãi
suất thấp trên thực tế là đã thực hiện một khoản trợ cấp tài chính cho
DNNVV. Mặt khác, cho vay vốn với lãi suất thấp được xem như một cách
giảm chi phí đầu tư, nâng cao khả năng thu lợi nhuận, khả năng tích lũy cho
DN.
1.2.3. Góp phần quan trọng hướng dẫn và điều tiết các hoạt động của
DNNVV vào các ngành nghề và khu vực cần phát triển theo đònh
hướng của nhà nước:
Nhà nước sử dụng chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế, chính sách tín

động hỗ trợ các DNNVV trong việc lập dự án SXKD đủ tiêu chuẩn vay vốn
ngân hàng.
Tuy nhiên do quy mô vốn và uy tín của các DNNVV trên thò trường còn
hạn chế nên khó tiếp cận rộng rãi đến các nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Khắc phục điểm này, Chính phủ đã thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV
để bảo lãnh cho các DNNVV khi không đủ tài sản thế chấp, cầm cố, vay vốn
của các tổ chức tín dụng. Theo qui đònh của pháp luật, để được bảo lãnh tín
dụng, các DN này phải có dự án đầu tư, phương án SXKD khả thi và đủ khả
năng hoàn trả vốn vay, các DN phải có tổng giá trò tài sản thế chấp, cầm cố
tại tổ chức tín dụng tối thiểu gần 30% giá trò khoản vay; đồng thời tình hình tài
chính lành mạnh, không có các khoản nợ đọng thuế, nợ quá hạn tại các tổ
chức tín dụng hoặc các tổ chức kinh tế khác. Quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ cấp
bảo lãnh tín dụng tối đa bằng 80% phần chênh lệch giữa giá trò khoản vay và
giá trò tài sản thế chấp, cầm cố của DNNVV tại tổ chức tín dụng. Phí bảo lãnh
tín dụng bằng 0,8%/năm tính trên số tiền được bảo lãnh. Tuy rằng phí bảo
lãnh cộng với lãi suất tiền vay có thể cao hơn so với chi phí tiền vay của các
tổ chức tín dụng, nhưng điều quan trọng là trước mắt các DNNVV vay được
vốn ngân hàng mà không đòi hỏi phải có tài sản thế chấp nhiều.
Chính phủ khuyến khích, thành lập các tổ chức, các quỹ, chương trình
hỗ trợ DNNVV như chương trình cho vay của ngân hàng thế giới được quản lý
thông qua ngân hàng nhà nước Việt Nam (WB- SB) trong lónh vực công
nghiệp hóa nông thôn, hay Quỹ phát triển DNNVV do EU tài trợ (SMEDF) cho
vay thông qua các ngân hàng thương mại Việt Nam…Nhằm phát triển sản
xuất và tạo công ăn việc làm cho xã hội. Trang 16
Ngoài ra việc đầu tư của ngân sách vào cải tạo khôi phục và đầu tư
mới các cơ sở hạ tầng kỹ thuật trọng yếu của nền kinh tế như đường xá, cầu
cống, viễn thông, sân bay, bến cảng,… cũng hỗ trợ đáng kể trong việc giảm

phần chi phí cho DNNVV khảo sát, học tập, trao đổi hợp tác và tham dự hội chợ,
triển lãm giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm thò trường nước ngoài. Chi phí trợ giúp
được bố trí trong Quỹ hỗ trợ xuất khẩu.
Các Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi để các DNNVV tham gia các
chương trình xuất khẩu của nhà nước.
1.3.4. Chính sách đầu tư:
Chính phủ trợ giúp đầu tư thông qua biện pháp về tài chính, tín dụng,
áp dụng trong một thời gian nhất đònh đối với các DNNVV đầu tư vào một số
ngành nghề bao gồm ngành nghề truyền thống và các đòa bàn cần khuyến
khích.
Chính phủ khuyến khích các tổ chức tài chính, các DN và thể nhân góp
vốn đầu tư vào các DNNVV.
1.3.5. Chính sách đất đai:
Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất trên đòa bàn tỉnh, thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt, Chủ tòch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện
thuận lợi cho các DNNVV có mặt bằng sản xuất phù hợp, dành quỹ đất và
thực hiện các chính sách khuyến khích để xây dựng các khu, cụm công
nghiệp cho các DNNVV có mặt bằng xây dựng tập trung cơ sở sản xuất hoặc
di dời từ nội thành, nội thò ra, đảm bảo cảnh quan môi trường.
DNNVV được hưởng các chính sách ưu đãi trong việc thuê đất, chuyển
nhượng, thế chấp và các quyền khác về sử dụng đất đai theo qui đònh của
pháp luật.
1.3.6. Chính sách công nghệ và đào tạo:
Thông qua các chương trình trợ giúp, chính phủ tạo điều kiện cho các
DNNVV đổi mới công nghệ, trang thiết bò máy móc, phát triển sản phẩm mới,
hiện đại hóa quản lý.
Chính phủ, các Bộ, ngành và UBND đòa phương cung cấp các thông tin
cần thiết qua các ấn phẩm và qua mạng internet cho các DNNVV, thông qua


năm 1986 đã áp dụng thuế suất khác nhau đối với thuế thu nhập công ty:
Bảng 1.2. Biểu thuế suất thuế thu nhập công ty của Mỹ Trang 19

Thu nhập Thuế suất
Từ 50.000 USD trở xuống 15%
Trên 50.000 USD đến 75.000 USD 25%
Trên 75.000 USD đến 100.000 USD 34%
Trên 100.000 USD đến 335.000 USD 39%
Trên 335.000 USD 34%

Theo bảng trên, những công ty có tổng thu nhập từ 335.000 USD trở
lên thì mức thuế suất thuế thu nhập công ty là 34%. Như vậy, đối với những
công ty có thu nhập dưới 335.000USD mà thường là DNNVV chỉ phải chòu
thuế suất trung bình thấp hơn 34%. Đây chính là cách giảm thuế cho DNNVV
của Chính phủ Mỹ.
Ở Cộng hòa liên bang Đức, từ tháng 1/1990, các DN nhỏ không phải
nộp thuế doanh thu (nếu doanh thu hoạt động SXKD hàng năm không vượt
quá 25.000 DM, và nếu thu nhập hàng năm của DN dưới 2 triệu DM thì DN
được giảm 50% số thuế phải nộp.
Tại Nhật Bản, Chính phủ đã có nhiều giải pháp để hỗ trợ cho DNNVV.
Chính sách thuế thu nhập công ty quy đònh những DNNVV có mức thu nhập
dưới 8 triệu Yên/năm thì chỉ phải nộp thuế thu nhập với thuế suất là 28%,
trong khi đó các công ty lớn phải nộp thuế thu nhập công ty với thuế suất
37,5%.
Để hỗ trợ các DNNVV mới thành lập, Chính phủ Hàn Quốc quy đònh
DNNVV được miễn giảm thuế thu nhập từ 50% đến 100% trong 4 năm đầu
hoạt động và miễn giảm 20–30% thuế thu nhập trung 2 năm tiếp theo. Đối với

đều rất chú trọng đến các biện pháp cung cấp tín dụng cho các DNNVV.
Nhiều nước đã thực hiện tín dụng ưu đãi đối với các DNNVV đồng thời với
việc thành lập các tổ chức tín dụng của Nhà nước tạo ra một kênh cung ứng
riêng về vốn cho các DNNVV.
Mỹ là nước có nền kinh tế mạnh vào bậc nhất trên thế giới, nhưng các
DNNVV với những đặc tính vốn có của mình vẫn gặp rất nhiều khó khăn Trang 21
trong việc vay vốn của các ngân hàng thương mại. Để giúp đỡ các DNNVV,
Chính phủ Mỹ đã thành lập “Ngân hàng cho DN nhỏ” nhằm cung cấp tín dụng
cho các DN nhỏ với lãi suất ưu đãi và thực hiện các dòch vụ về tín dụng cho
các DN này.
Với tiềm lực tài chính mạnh, Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức đã
thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi và trợ cấp cho các DNNVV.
Chính sách của Chính phủ hỗ trợ cho các DNNVV trước hết nhằm đảm bảo
cho các DN này có đủ tiềm lực về tài chính. Chính phủ Đức có nhiều chương
trình tín dụng ưu đãi cho các DNNVV. Ngân hàng tái thiết nước Đức có
chương trình tín dụng ưu đãi cho các DNNVV thuộc lónh vực công nghiệp và
thương mại. Các DNNVV thuộc các ngành này có doanh số dưới 1 tỷ
DM/năm được vay tối đa 10 triệu DM trong thời hạn 10 năm với lãi suất
5,25%/năm với 2 năm đầu không phải trả lãi. Ngân hàng cân đối Đức có
chương trình tín dụng ưu đãi dành cho các DNNVV mới thành lập…
Ở nước EU khác, các DNNVV có thể được vay ưu đãi trong khuôn khổ
“Chương trình tái thiết Châu Âu”. Bên cạnh đó, Chính phủ các nước EU cũng
thành lập các tổ chức tín dụng của Nhà nước thực hiện cung cấp tín dụng cho
các DNNVV như ở Pháp có quỹ tín dụng về trang thiết bò cho DNNVV, Quỹ tín
dụng quốc gia cũng thực hiện cung cấp một phần tín dụng ưu đãi cho các
DNNVV…
Tại Nhật Bản có 3 tổ chức tín dụng của Chính phủ chuyên cung cấp tín

Các DNNVV với khả năng tài chính hạn chế thường gặp rất nhiều khó khăn
trong việc vay vốn ngân hàng. Chính phủ nhiều nước đã áp dụng các biện pháp bảo
đảm tín dụng cho các DNNVV. Ở Anh, chương trình bảo đảm tín dụng cho các DN
nhỏ được triển khai từ năm 1981. Từ năm 1985, Hà Lan thực hiện kế hoạch bảo
đảm 100% tín dụng thương mại cho các DNNVV.
Tại Nhật Bản, các biện pháp nhằm bổ sung khả năng vay vốn các
ngân hàng cho các DNNVV được khởi xướng từ năm 1931. Và đến năm 1958
đã hình thành hệ thống bảo hiểm và bảo đảm tín dụng cho DNNVV. Hệ thống
này giúp cho các DNNVV có khả năng phát triển nhưng không có tài sản thế
chấp, có thể vay vốn các ngân hàng thương mại. Trong hệ thống đó, Hội bảo
đảm tín dụng DNNVV là tổ chức tài chính công cộng đứng ra bảo lãnh cho Trang 23
các DNNVV vay vốn các ngân hàng thương mại. Hỗ trợ cho hoạt động của
Hội bảo đảm tín dụng là hội đồng bảo hiểm tín dụng DNNVV do Chính phủ
lập ra. Hội đồng bảo hiểm tín dụng hoạt động như người thực hiện tái bảo
hiểm khoản tín dụng mà Hội đồng bảo hiểm tín dụng đứng ra bảo lãnh cho
DNNVV. Nhờ hệ thống bảo đảm và bảo hiểm tín dụng như vậy, các DNNVV
của Nhật Bản mở rộng được khả năng vay vốn từ các ngân hàng.
Hệ thống bảo đảm tín dụng cho DNNVV đã được hầu hết các nước ở
Châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Nêpan, Srilanca, Inđonêxia,
Malaysia, Thái Lan, Philipin thực hiện. Năm 1976, Hàn Quốc đã thành lập quỹ
bảo đảm tín dụng do Chính phủ và các thể chế tài chính đồng tài trợ. Quỹ này
bảo đảm cho DNNVV vay vốn ngân hàng thương mại. Ở Malaysia, công ty
bảo đảm tín dụng được thành lập năm 1972. Công ty này thực hiện những
chương trình quan trọng nhằm cải thiện khả năng các DNNVV được vay vốn
của hệ thống ngân hàng.
Ngoài biện pháp bảo đảm tín dụng, để tăng khối lượng tín dụng cung
cấp cho các DNNVV, Chính phủ một số nước còn áp dụng biện pháp quy

mới…
Ở Hàn Quốc, Chính Phủ cho phép giảm trừ khỏi thu nhập chòu thuế các
khoản chi phí đầu tư vào phát triển công nghệ và con người. Các khoản thu
nhập từ chuyển giao công nghệ cũng không thuộc diện tính vào thu nhập chòu
thuế. Ngoài ra, Chính phủ còn thành lập các công ty phát triển công nghệ vừa
và nhỏ nhằm điều phối việc cung cấp, trợ giúp về tài chính và kỹ thuật cho
DNNVV như lập và thực hiện chương trình hiện đại hóa, chương trình cho thuê
trang thiết bò, hỗ trợ thành lập DN…
f. Hỗ trợ tài chính đẩy mạnh xuất khẩu:
Trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày càng mạnh mẽ, Chính
phủ các nước đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu và ngày
càng chú ý đến việc lôi cuốn, thu hút các DNNVV tham gia việc sản xuất
hàng xuất khẩu.
Để khuyến khích các DNNVV tham gia xuất khẩu, Chính phủ Cộng hòa
liên bang Đức đã đề ra hàng loạt biện pháp như miễn, giảm thuế, trợ cấp xuất
khẩu, bảo hiểm thiệt hại xuất khẩu… tạo điều kiện để DNNVV nhận gia công cho
các công ty nước ngoài, gia công hàng hóa xuất khẩu. Trang 25
Tại Hàn Quốc, Chính phủ đã áp dụng mạnh mẽ các biện pháp tài chính
để thúc đẩy xuất khẩu, trong đó chú trọng đến việc ưu đãi về tín dụng và ưu
đãi về thuế. Chính phủ thực hiện việc miễn thuế nhập khẩu đối với những
nguyên liệu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu và giảm thuế xuất khẩu. Về
chính sách tín dụng ưu đãi đối với xuất khẩu, các đơn vò sản xuất hàng xuất
khẩu được vay ưu đãi với lãi suất chỉ bằng 50% so với lãi suất cho vay thông
thường.
Cùng với việc đẩy mạnh xuất khẩu, các nước, đặc biệt là các nước đang
phát triển đều áp dụng các biện pháp để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ.
Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia đã bảo hộ nhiều ngành công nghiệp của họ bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status