387 Huy động vốn cổ phần trên thị trường OTC – một giải pháp về vốn cho các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
--------------------------

CAO THỊ MAI LÊ

HUY ĐỘNG VỐN CỔ PHẦN TRÊN THỊ
TRƯỜNG OTC – MỘT GIẢI PHÁP VỀ
VỐN CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH C
HUYÊN NGÀNH
:


Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN QUANG THU
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2006
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.....................................................................................a

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ CÁC NGUỒN TÀI TR VỐN DÀI HẠN CỦA
DOANH NGHIỆP VÀ THỊ TRƯỜNG OTC.......................................................
1

1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỔ PHẦN CỦA
DOANH NGHIỆP.
1

1.1.1 Công ty cổ phần 2

1.1.2 Hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm. 3

1.1.3 Phát hành cổ phiếu đại chúng. 4

1.2 LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG OTC 8

1.2.1 Khái quát về sự phát triển của Thò trường OTC 8
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của Thò trường OTC hiện nay.


3.1 GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 47

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 48

3.3 XÂY DỰNG VÀ ĐIỀU CHỈNH THANG ĐO 50

3.4 THÔNG TIN VỀ MẪU NGHIÊN CỨU 52

3.5 ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ THANG ĐO. 54

3.5.1 Thang đo thái độ đối với thò trường OTC của các doanh nghiệp trên
đòa bàn TPHCM.
55
3.5.2 Thang đo sự mong muốn tiếp cận thò trường OTC của doanh nghiệp

62
3.6 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN.
63

3.6.1 Kiểm đònh giả thuyết về mối liên hệ giữa 10 thành phần thái độ
đối với thò trường OTC của doanh nghiệp và sự mong muốn tiếp cận thò
trường OTC của doanh nghiệp.
63
3.6.2 Đánh giá sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp về các
thành phần của thái độ đối với thò trường OTC và sự mong muốn tiếp
cận thò trường OTC của doanh nghiệp.
67
3.7 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
67

Trang
Bảng 1.1: So sánh thò trường OTC với thò trường tập trung 18
Bảng 2.1: Niêm yết và phát hành trên TTGDCK (07/2000 – 07/2006) 33
Bảng 2.2: Giá trò thò trường của các thò trường chứng khoán Đông Nam Á
(31/07/2006) 34
Bảng 3.1: Mô hình lý thuyết. 48
Bảng 3.2: Quy trình nghiên cứu. 50
Bảng 3.3: Các loại hình doanh nghiệp tham gia phỏng vấn. 53
Bảng 3.4: Quy mô doanh nghiệp. 54
Bảng 3.5: Vò trí công tác của đại diện doanh nghiệp trực tiếp tham gia
phỏng vấn. 54
Bảng 3.6: Kết quả EFA của thang đo thái độ với thò trường OTC lần đầu.
56
Bảng 3.7: Kết quả Cronbach Alpha của thang đo thái độ đối với thò trường
OTC (chạy EFA lần đầu). 57
Bảng 3.8: Kết quả EFA của thang đo thái độ với thò trường OTC lần cuối.
59
Bảng 3.9: Kết quả Cronbach Alpha 10 nhóm yết tố cuối cùng. 60
Bảng 3.10: Kết quả EFA và Cronbach Alpha của thang đo sự mong muốn
tiếp cận thò trường OTC của doanh nghiệp. 63
Bảng 3.11: Hệ số tương quan giữa các biến tiềm ẩn. 65
Bảng 3.12: Mô hình lý thuyết được điều chỉnh. 66
Bảng 3.13: Kết quả phân tích One – way Anova. 67
Bảng 3.14: Sự mong muốn tiếp cận thò trường OTC của doanh nghiệp. 70

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Phiếu điều tra thái độ và sự mong muốn tiếp cận thò trường
OTC của doanh nghiệp. i
Phụ lục 2: Danh sách các công ty tham gia phỏng vấn. iv

Cùng với những tiến bộ vượt bậc trong việc phát triển nền kinh tế, trong những
năm gần đây Việt Nam cũng đã có một số thay đổi tích cực về các điều luật và các
quy đònh quản lý hoạt động huy động vốn cổ phần. Những thay đổi này đã và sẽ giúp
hoạt động huy động vốn cổ phần có những bước chuyển mạnh mẽ, góp phần huy động
và khai thác các nguồn vốn đáng kể nhằm tài trợ cho sự phát triển thành công của
khối doanh nghiệp trong nước bắt đầu tăng trưởng.
Bên cạnh hoạt động huy động vốn cổ phần trên thò trường chứng khoán chính
thức Việt Nam chưa mấy khả quan, là sự phát triển mạnh mẽ của những giao dòch phi
chính thức các chứng khoán không niêm yết và những đợt phát hành cổ phiếu ra công
chúng rất thành công của một số công ty cho thấy thò trường vốn vẫn có khả năng
phát triển nếu có các quy đònh điều tiết phù hợp. Nếu được xây dựng và quản lý chặt
chẽ, thò trường OTC (Over the counter market – thò trường giao dòch chứng khoán phi
tập trung) Việt Nam sẽ mở ra cơ hội để các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình có thể

b
lựa chọn các nguồn vốn tài trợ phù hợp nhất cho các hoạt động đầu tư phát triển và
kinh doanh của mình.
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Malayxia,… cho
thấy việc phát triển thò trường này đặc biệt hữu ích cho khu vực DNVVN, doanh
nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp tăng trưởng. Cùng với hệ thống thò trường
chứng khoán tập trung và toàn hệ thống thò trường tài chính nói chung, thò trường OTC
có vai trò lớn trong việc tạo một kênh huy động và phân bổ nguồn vốn dài hạn cho
nền kinh tế, đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp công nghệ
cao, ngành nghề mới, các doanh nghiệp mới thành lập…, chưa đủ điều kiện huy động
vốn trên thò trường tập trung. Thò trường này là một thành tố của hệ thống thò trường
chứng khoán, với những đặc thù riêng có của mình nó góp phần hoàn thiện môi
trường huy động và phân bổ nguồn vốn cho các doanh nghiệp.
Đó là những lý do đặt ra cho đề tài luận văn: “HUY ĐỘNG VỐN CỔ PHẦN
TRÊN THỊ TRƯỜNG OTC – MỘT GIẢI PHÁP VỀ VỐN CHO CÁC DOANH
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH“. Thò trường OTC ở các

DNVVN trên đòa bàn TP.HCM.
• Dữ liệu thứ cấp: các nguồn sách báo, tạp chí và Internet.
c, Xử lý dữ liệu: phần mềm SPSS
Ý nghóa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác đònh mức độ tiếp cận thò trường OTC của
các doanh nghiệp trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về thò trường
chứng khoán, thò trường OTC để từ đó mong muốn có cơ hội tiệp cận và khai thác

d
nguồn vốn từ thò trường OTC này nhằm đáp ứng cho nhu cầu hoạt động và phát triển
của DN.
Kết cấu nghiên cứu:
Chương I: Nghiên cứu lý thuyết về thò trường OTC và hoạt động huy động vốn cổ
phần của doanh nghiệp.
Chương II
: Thực trạng huy động vốn cổ phần của các doanh nghiệp và hoạt động của
thò trường OTC Việt Nam trong thời gian qua.
Chương III
: Nghiên cứu thái độ và sự mong muốn tiếp cận thò trường OTC của các
doanh nghiệp trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

1
CHƯƠNG I
:
LÝ THUYẾT VỀ CÁC NGUỒN TÀI TR VỐN DÀI
HẠN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ THỊ TRƯỜNG OTC1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỔ PHẦN

Để tài trợ cho kế hoạch đầu tư lâu dài, một trong những kế sách doanh nghiệp
có thể tính đến là huy động vốn cổ phần. Hoạt động huy động vốn cổ phần thường
được đònh nghóa là phương thức được các công ty sử dụng nhằm huy động vốn đầu tư
dài hạn thông qua việc bán cổ phần (vốn chủ sở hữu) cho các nhà đầu tư bên ngoài,
thay vì các biện pháp huy động vốn truyền thống khác như vay ngân hàng, hay các
hình thức phi ngân hàng khác như phát hành trái phiếu công ty hay các hợp đồng thuê
tài chính.
Một số khái niệm cần làm rõ liên quan đến đònh nghóa trên.
1.1.1 Công ty cổ phần
Những công ty có thể bán vốn chủ sở hữu cho các nhà đầu tư bên ngoài chỉ có
thể là công ty cổ phần.
Công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
• Vốn điều lệ của CTCP được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người
chủ sở hữu vốn cổ phần gọi là cổ đông. Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ
phần.
• Công ty có thể phát hành nhiều loại cổ phần, trong đó phải có cổ phần phổ thông.
• Cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường
hợp đó là cổ phần ưu đãi và cổ phần của cổ đông sáng lập công ty sau một thời gian
quy đònh phải nắm giữ kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Đặc điểm này của CTCP cho phép các nhà đầu tư có thể chuyển đổi hình thức

3
và mục tiêu đầu tư một cách linh hoạt và cổ phiếu của công ty có tính thanh khỏan
cao.
• Cổ đông chỉ chòu trách nhiệm về nợ và các nghóa vụ khác của công ty trong phạm
vi góp vốn của mình vào công ty (khác với tính chòu trách nhiệm vô hạn của các
thành viên trong công ty hợp danh, chủ doanh nghiệp trong doanh nghiệp tư nhân).
• Công ty được quyền phát hành chứng khóan ra công chúng. Đặc điểm này cho
thấy khả năng huy động vốn của công ty là rất lớn và rộng rãi trong công chúng.
• Cổ đông của CTCP tối thiểu phải là ba và không hạn chế số lượng tối đa (khác với

đầu tư này kiểm soát tích cực và sát sao hơn nhiều so với vai trò thông thường của cổ
đông trong các CTCP tham gia thò trường chứng khoán. Đổi lại, các CTCP này được
cung cấp những hình thức giá trò gia tăng khác ngòai đầu tư về vốn như: trợ giúp công
ty nhân đầu tư trong việc xác đònh và đánh giá cơ hội kinh doanh mới và chiến lược
tăng trưởng; trợ giúp quản lý và đôi khi đào tạo đội ngũ lãnh đạo công ty; hoặc hỗ trợ
giúp việc thu hút các nhà đầu tư, các khách hàng và các nhà cung cấp khác, v.v…Vì
vậy, thỏa thuận đầu tư giữa các nhà đầu tư mạo hiểm và công ty nhận đầu tư có thể
coi là “quá trình tạo ra giá trò” thay vì đơn thuần rót vốn thông qua việc mua một số
cổ phiếu một cách bò động
2
. Do đó, hình thức đầu tư vốn mạo hiểm sẽ đặc biệt hấp
dẫn với những công ty còn thiếu những kinh nghiệm quý giá mà các nhà đầu tư mạo
hiểm thường cung cấp.
1.1.3 Phát hành cổ phiếu đại chúng.
Doanh nghiệp có thể huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư bằng cách phát hành
cổ phiếu để hình thành nguồn vốn dài hạn tài trợ cho sự phát triển của mình. Doanh
nghiệp cũng có thể tiến hành gia tăng vốn bằng hành việc phát hành cổ phiếu để kêu
gọi thêm sự tham gia của các cổ đông sáng lập với điều kiện các cổ đông này phải
sẵn có số vốn cần thiết và họ chấp nhận tham gia bổ sung vốn vào hoạt động của
doanh nghiệp.

1

Đònh nghóa lấy từ Venture Capital Journal (2001), Hướng dẫn về hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm ở
Châu Á 2001.
2

Xem Timmons, Jeffry A., New Venture Creation: Entrepreneurship for the 21st Century,1999
Irwin/McGraw-Hill, 1999, tr 437-448



6
Lợi ích của doanh nghiệp khi phát hành cổ phiếu đại chúng:
• Việc phát hành cổ phiếu đại chúng, một doanh nghiệp có thể thu hút tiền tiết kiệm
của công chúng bổ sung vốn cho kế hoạch đầu tư của mình, một phần trong đó có
điều kiện được dùng để đầu tư dài hạn trên thò trường tài chính bằng cách mua các giá
trò động sản do công ty phát hành để làm đốùi ứng với phần gia tăng tư bản.
• Khi phát hành cổ phiếu đại chúng, tức là doanh nghiệp tham gia thò trường chứng
khoán, doanh nghiệp sẽ có thêm được sự tín nhiệm rộng rãi. Muốn gia nhập TTCK,
một công ty cần hội đủ một số điều kiện về lợi nhuận, quy mô tài sản, lượng giao
dòch, số cổ phần và cổ đông tối thiểu đang đầu tư vào công ty đó (qua việc nắm giữ cổ
phiếu). Công ty còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ người đầu tư một cách
nghiêm ngặt , gồm việc ấn hành và phổ biến báo cáo hoạt động hàng năm, đồng thời
sẵn sàng cung cấp thông tin tài chính quan trọng của công ty cho công chúng nói
chung muốn biết về công ty. Bù lại, công ty sẽ có được uy tín và sự ủng hộ, đón nhận
sâu rộng, nghóa là cổ phiếu của công ty đó trở thành hấp dẫn nhà đầu tư hơn.
• Sự tham gia thò trường chứng khoán còn bảo đảm tính linh hoạt của đồng vốn của
doanh nghiệp: nhờ có sự hiện diện của một thò trường thường xuyên cho những cổ
phiếu của công ty, các cổ đông đều có thể bất cứ lúc nào nhượng bán cổ phiếu của
mình cho người khác. Do vậy, các cổ đông cũ có thể nhượng bớt trên thò trường một
bộ phận tư bản của mình đã tham gia vào một sự nghiệp đã có quá nhiều cổ đông.
• Các nhà quản lý công ty có thể xem uy tín của mình có thể được nâng cao do sự
có mặt của công ty mình trên thò trường chứng khoán.
Ngoài những lợi ích vừa kể trên, các công ty cũng cần quan tâm cân nhắc mọi
sự bất lợi có thể xãy đến khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu đại chúng:
• Khi phát hành cổ phiếu là kéo theo sự gia nhập của những cổ đông mới. Điều này
là mối đe doạ tiềm ẩn trên phương diện kiểm soát hoạt động của công ty mà phần
đông trong số đó muốn duy trì để bảo vệ tính độc lập của họ.

7

Hơn nữa, với đà tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam thì số lượng
các công ty đủ tiêu chuẩn để huy động vốn cổ phần sẽ tăng lên. Đồng thời, các công
ty trong nước đã hội đủ điều kiện để huy động vốn cổ phần này sẽ có thêm kênh huy
động vốn đầu tư dài hạn mới. Nếu như vậy, điều này cũng “giải phóng” thêm những
nguồn tài trợ vốn vay truyền thống khác cho các DNVVN hiện vẫn đang phụ thuộc
vào kênh duy nhất là tín dụng ngân hàng thương mại để đáp ứng nhu cầu về vốn của
mình.
1.2 LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG OTC
1.2.1 Khái quát về sự phát triển của Thò trường OTC
Thò trường OTC là một loại thò trường chứng khoán xuất hiện sớm nhất, tồn tại
lâu đời nhất. Thò trường được mang tên OTC (over the counter) theo nghóa tiếng Việt
là “qua quầy” xuất phát từ một đặc thù cơ bản nhất của thò trường này là chứng khoán
được mua bán thẳng qua quầy của các ngân hàng hoặc các công ty chứng khoán mà
không phải thông qua các trung gian môi giới để đưa vào đấu giá tập trung tại một đòa
điểm khác. Thuật ngữ này cũng có nghóa là người mua bán chứng khoán sẽ thoả
thuận giá trực tiếp với công ty chứng khoán chứ không thông qua công ty chứng
khoán để đấu giá với những người mua, người bán khác trên thò trường.Thò trường
OTC sau đó phát triển thành một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng
khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tư, diễn ra ở bất kỳ đòa điểm thuận lợi
nào và không có một đòa điểm tập trung của các bên mua bán chứng khoán như đối
với thò trường tập trung.
Để đưa ra một khái niệm cơ bản nhất, rộng nhất, bao quát nhất về thò trường
OTC, có thể dùng đặc điểm phương thức đònh giá. Đây là thò trường có hình thức thoả
thuận giá song phương giữa một bên mua và một bên bán, việc giao dòch này diễn ra
tại bất kỳ một đòa điểm thuận lợi nào cho cả bên mua và bên bán. Cho đến nay thò
trường này đã không ngừng phát triển, hoàn thiện và trở thành một hệ thống thò
trường đặc trưng bởi hàng loạt các đặc điểm riêng của mình, khác hẳn với hình thức
sơ khai ban đầu, nhưng một số đặc trưng cơ bản, xuyên suốt như đặc điểm thoả thuận

9

loại hình thò trường bao gồm cả thò trường OTC. Kể từ đó đến nay hầu hết các nước đã
áp dụng quản lý nhà nước đối với thò trường chứng khoán nói chung và thò trường
OTC nói riêng có kết hợp với chế độ tự quản tuỳ theo điều kiện đặc thù của từng
nước.
Nhìn chung, cơ chế quản lý thò trường OTC trải qua quá trình phát triển khá
tương đồng với quá trình quản lý thò trường tập trung (các sở giao dòch) xét cả về thời
điểm áp dụng quản lý, phương thức quản lý và nội dung quản lý. Tuy nhiên, do một
số đặc thù của thò trường này, đặc biệt là do phương thức đònh giá theo thoả thuận,
giao dòch mua bán phi tập trung… nên cơ chế quản lý khó chặt chẽ như đối với thò
trường tập trung. Nhược điểm này chỉ được khắc phục thì thò trường OTC được phát
triển hiện đại qua hệ thống giao dòch điện tử trong một vài thập niên trở lại đây.
b, Thò trường OTC phát triển từ giao dòch thủ công truyền thống đến giao dòch qua
mạng máy tính hiện đại.
Như đã trình bày ở phần trên, phương thức giao dòch của thò trường OTC được
đặc trưng bởi hình thức thoả thuận (thương lượng) giá song phương, giữa một bên mua
và một bên bán chứng khoán, mà không bằng đấu giá tập trung giữa nhiều bên mua
và nhiều bên bán như đối với thò trường tập trung ở các sở giao dòch. Hình thức mua
bán này về cơ bản vẫn được duy trì cho đến nay, nhưng kỹ thuật đàm phán, thương
lượng và chia sẽ thông tin đã không ngừng được phát triển và hòan thiện. Nếu như
hình thức mua bán nguyên thủy là “thẳng qua quầy”, trực tiếp gặp nhau “mặt đối
mặt” thì tiếp đó là thương lượng thỏa thuận qua điện thoại và đến nay là giao dòch qua
mạng máy tính điện tử diện rộng. Cũng chính vì đặc điểm này mà hiện nay thò trường
còn có tên gọi là “thò trường mạng” hay “thò trường báo gia điện tử của các nhà môi
giới giao dòch”.
Sự bùng nổ của hệ thống thò trường OTC qua mạng máy tính tại nhiều nước
trên thế giới được khởi đầu bằng sự ra đời của thò trường Nasdaq Mỹ năm 1971, thay
thế cho thò trường OTC truyền thống giao dòch trực tiếp và qua điện thoại. Kể từ đó
đến nay hàng loạt thò trường OTC mô hình Nasdaq ra đời ở các nước và đi vào hoạt

11

thay đổi về chất của giao dòch chứng khóan trên thò trường OTC, tạo nên một thò
trường có giá tốt, công bằng, trung thực và hiệu quảhơn hẳn thò trường thủ công trước
đó.
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của Thò trường OTC hiện nay.
Hệ thống thò trường OTC trên thế giới hiện nay chủ yếu được xây dựng theo
mô hình thò trường Nasdaq của Mỹ và mang những đặc điểm riêng tuỳ thuộc vào điều
kiện và đặc thù của mỗi nước. Tuy nhiên có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản
thống nhất của thi trường OTC các nước như sau:
1.2.2.1 Thò trường OTC là thò trường có cơ chế xác lập giá là thương lượng (thoả
thuận) giá giữa bên mua và bên bán.
Cơ chế đònh giá thoả thuận này tạo nên các đối tác giao dòch của thi trường
OTC luôn là song phương, chỉ thoả thuận giữa một người mua và một người bán, khác
với thò trường tập trung luôn có nhiều người mua và nhiều người bán thông qua cơ chế
tập trung đấu lệnh của các nhà đầu tư với nhau.
Việc thoả thuận giá được thực hiện giữa các nhà kinh doanh chứng khoán với
khách hàng hoặc giữa các nhà kinh doanh chứng khoán với nhau. Giá được hình thành
qua thương lượng riêng nên thường phụ thuộc vào từng nhà kinh doanh chứng khoán
và tại một thời điểm có nhiều mức giá được hình thành, khác với thò trường sở giao
dòch do đấu giá tập trung nên chỉ có một mức giá tại một thời điểm. Tuy nhiên với cơ
chế báo giá tập trung qua mạng máy tính điện tử như hiện nay và có cơ chế cạnh
tranh giá công khai giữa các nhà kinh doanh chứng khoán nên thực sự người đầu tư
chỉ việc lựa chọn giá tốt nhất trong các báo giá của các nhà tạo lập thò trường và giá
được hình thành không chênh lệch nhiều so với cơ chế đấu giá, vì thực tế có thể coi
như đã có sự “đấu giá” giữa các nhà tạo lập thò trường.
1.2.2.2 Thò trường OTC là thò trường có hình thức tổ chức giao dòch mua bán phi tập
trung.

13
Thò trường OTC diễn ra tại nhiều đòa điểm, ở bất cứ nơi nào có thể thương
lượng và xác lập giá giữa bên mua và bên bán. Nếu như ở thò trường sở giao dòch, mọi

của mạng được khai thác sử dụng nhiều hơn, tích cực hơn. Nếu như vai trò của mạng
điện tử đối với thò trường tập trung chỉ làm biến đổi chủ yếu về lượng thì có thể nói
vai trò của mạng máy tính đối với thò trường OTC đã làm biến đổi về chất của thò
trường, biến thò trường từ khó có khả năng quản lý thành một thò trường có thể quản lý
tốt , biến một thò trường hình thành nhiều giá khác nhau và chênh lệch lớn thành thò
trường có các mức giá gần như nhau, từ một thò trường không kiểm soát nổi thông tin
và thông tin không đối xứng thành một thò trường có thông tin đày đủ nhất, nhanh
nhất…
1.2.2.4 Chứng khoán giao dòch trên thò trường OTC chủ yếu là của các công ty vừa và
nhỏ, công ty công nghệ cao, công ty mới thành lập nhưng có tiềm năng phát triển
tốt…, tóm lại là chứng khoán chưa đủ tiêu chuẩn niêm yết trên thò trường sở giao dòch,
có độ rủi ro cao hơn so với chứng khoán trên thò trường tập trung. Độ rủi ro thấp của
chứng khoán niêm yết tại thò trường tập trung không có nghóa là chất lượng cao hơn
và cho lãi suất cao hơn, độ rủi ro ở đây chỉ thể hiện ở mức độ ổn đònh của công ty
phát hành, đặc biệt là khả năng cho lãi ổn đònh của công ty do vốn lớn, hoạt động ổn
đònh, khả năng cho lãi sớm. Chứng khoán có độ rủi ro cao hơn ở đây thể hiện ở mức
độ ổn đònh kém hơn do vốn nhỏ, mới đi vào hoạt động hay hoạt động ở những ngành
nghề mới, ngành công nghệ cao đòi hỏi sử dụng chất xám và công nghệ cao. Tuy
nhiên, quy luật thông thường cho thấy độ rủi ro cao thường cho lãi cao (high risk –
high return), những chứng khoán này tuy có độ rủi ro cao hơn nhứng khả năng cho lãi
thường cao hơn.
Tiêu chí để chứng khoán được giao dòch trên thò trường này thường chỉ cần đảm
bảo tính thanh khoản tối thiểu và đảm bảo công ty hoạt động nghiêm túc, không lừa
đảo. Đối với một số thò trường OTC trên thế giới như Mỹ, người ta còn giao dòch
chứng khoán của các công ty lớn, có độ rủi ro thấp, chất lượng cao, nhưng những
trường hợp này ít phổ biến. Đặc điểm này có nguồn gốc liên quan đến phương thức

15
giao dòch thoả thuận của thò trường. Xuất phát điểm của giao dòch thoả thuận, trực tiếp
không qua trung gian của các nhà đầu tư đã có trình độ, hiểu biết và tự mình đầu tư,

không cần phải công bố mức chênh lệch giá mà họ hưởng.
1.2.2.6 Thò trường OTC được quản lý chặt chẽ để đảm bảo lợi ích của mọi đối tượng
tham gia thò trường, chống những hoạt động lạm dụng thò trường.
Tương tự như hệ thống thò trường tập trung (các sở giao dòch), thò trường OTC
thường được tổ chức quản lý theo hai cấp, cấp quản lý nhà nước và cấp tự quản.
Cấp quản lý nhà nước do cơ quan quản lý thò trường chứng khóan nói chung
như y ban chứng khóan trực tiếp quản lý trên cơ sở luật chứng khóan và các luật
liên quan.
Cấp tự quản chủ yếu có hai hình thức, do hiệp hội các nhà nhà giao dòch chứng
khóan quản lý (Mỹ, Nasdaq Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan…) hoặc do Sở giao dòch đồng
thời quản lý (Anh, J-net Nhật, Pháp, Canada…). Hiệp hội hoặc sở giao dòch tổ chức hệ
thống giao dòch và thông tin, vận hành hệ thống, ban hành các quy chế tự quản để
thuận lợi cho việc giám sát và đảm bảo thực hiện tốt nhất kỹ năng nghiệp vụ và đạo
đức hành nghề của thành viên.
Nội dung, phương thức và mức độ quản lý ở mỗi nước có khác nhau tùy điều
kiện và đặc thù của từng nước nhưng đều có chung mục tiêu là đảm bảo sự ổn đònh và
phát triển của thò trường đồng thời bảo vệ người đầu tư.
1.2.2.7 Thò trường OTC có cơ chế thanh toán linh hoạt đa dạng giữa người mua và
người bán khác với phương thức thanh tóan bù trừ đa phương thống nhất như thò
trường tập trung.
Đặc điểm này cũng xuất phát từ cơ chế đònh giá thỏa thuận giá của thò trường,
dẫn đến việc thanh toán cũng có thể theo hình thức thỏa thuận để tạo thuận lợi cho cả
bên mua lẫn bên bán chứng khoán. Đặc biệt là thời hạn và hình thức thanh toán rất
linh hoạt. Thời hạn thanh toán trên thò trường này không cố đònh mà rất đa dạng, có

Trích đoạn Thang đo sự mong muôn tiêp caơn thị trường OTC cụa doanh nghieơp Đánh giá sự khác bieơt giữa các lối hình doanh nghieơp veă các thành phaăn cụa thái đoơ đôi với thị trường OTC và sự mong muôn Toơ chức đánh giá và xêp lối mức đoơ tín nhieơm doanh nghieơp.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status