Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực y tế xã, phường huyện Tuyên Quang - Pdf 23


S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y – DƢỢC
HÀ QUYẾT THẮNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƢỞNG ĐẾN NGUỒN NHÂN LỰC
Y TẾ XÃ, PHƢỜNG TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 62.72.73 LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC DỰ PHÕNG Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRỊNH VĂN HÙNG
kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Khoa Y tế cộng
cộng, Phòng quản lý đào tạo sau đại học, các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học
Y Dược đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn cho tôi trong hai năm học qua.
Tôi biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Trịnh Văn Hùng - Trưởng phòng Đào
tạo, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Lãnh đạo Sở Y tế tỉnh Tuyên
Quang, Ban lãnh đạo Trung tâm Y tế các huyện, Thành phố của tỉnh, Ban Giám
hiệu Trường Trung cấp Y tế Tuyên Quang cùng toàn thể các anh, chị và các bạn
đồng nghiệp trong ngành Y tế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên, giúp đỡ
tôi trong quá trình học tập, thu thập số liệu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện
về tinh thần cũng như vật chất và động viên tôi vượt qua mọi khó khăn để
hoàn thành khóa học này./. Học viên

Hà Quyết Thắng

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii

2.3.5. Chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.3.6. Kỹ thuật xử lý và phân tích số liệu 33
2.3.7. Khống chế sai số 33
2.4. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 34
2.5 Hạn chế của đề tài 34
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1. Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã, phường ở Tuyên Quang 36
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực y tế xã, phường, thị trấn tỉnh
Tuyên Quang 50
3.2.1. Sự thực thi các văn bản của Đảng, Chính quyền ảnh hưởng đến nhân
lực y tế xã, phường thị trấn 50
3.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân lực y tế xã, phường thị trấn theo đánh
giá của cán bộ y tế và người dân 52
Chƣơng 4: BÀN LUẬN 57
4.1. Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã, phường thị trấn tại tỉnh Tuyên Quang 57
4.1.1. Về số lượng cán bộ y tế xã 57
4.1.2. Về chất lượng cán bộ ở tuyến xã 59
4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực y tế xã, phường thị trấn tại
Tuyên Quang 62
4.2.1. Sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, Chính quyền 62
4.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân lực y tế xã, phường thị trấn theo đánh
giá của cán bộ y tế và người dân 63
KẾT LUẬN 70
KHUYẾN NGHỊ 72
PHỤ LỤC 80 S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu


TYT
Trạm y tế
UBND
Ủy ban nhân dân
YHCT
Y học cổ truyền
YS
Y sỹ
YSSN
Y sỹ sản nhi

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Một số chỉ số cơ bản về nhân lực tại các trạm Y tế xã, phường, thị
trấn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2013 36
Bảng 3.2. Phân bố cán bộ y tế, cán bộ dân số xã theo đơn vị hành chính 37
Bảng 3.3. Tỷ lệ cán bộ y tế xã, phường thị trấn phân theo trình độ chuyên môn . 38
Bảng 3.4. Số lượng cán bộ Y tế xã, phường hiện có so với Thông tư 08 39
Bảng 3.5. Số lượng Bác sỹ đang làm việc tại trạm Y tế 41
Bảng 3.6. Phân bố cán bộ y tế xã, phường là Y sỹ theo tuổi, giới 43
Bảng 3.7. Trình độ học vấn của số Y sĩ < 30 tuổi 43
Bảng 3.8. Phân bố CBYT là Y sỹ theo cơ cấu chuyên môn 44
Bảng 3.9. Phân bố nhân lực y tế theo chuẩn Quốc gia về Y tế xã 44
Bảng 3.10. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ y tế xã thông qua


S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

viii
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 3.1. Phân bố cán bộ y tế xã theo giới tính, nhóm tuổi 40
Biểu 3.2. Phân bố cán bộ y tế là Bác sỹ theo tuổi, giới 42

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều kiện
cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu nhân tố quan trọng trong
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ tổ quốc. Công tác chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân là một nhiệm vụ chính trị quan trọng luôn được Đảng và
Nhà nước ta quan tâm.
Những năm qua, cùng với nỗ lực thực hiện các giải pháp về tài chính và
cơ sở vật chất, trang thiết bị, ngành y tế đã đặc biệt quan tâm đến việc phát
triển nguồn nhân lực y tế, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe nhân dân. Số lượng, trình độ, cơ cấu cán bộ chuyên môn của
các đơn vị y tế phải đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả, chất lượng làm việc
của cán bộ, từ đó đảm bảo tối đa quyền lợi người bệnh. Chính vì vậy, liên bộ
Bộ Y tế - Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT-
BNV ngày 05/6/2007 hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở

cung cấp bằng chứng khoa học về thực trạng nguồn nhân lực y tế tuyến xã,
phường, thị trấn và những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực của tuyến y
tế xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đề từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng
và một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực y tế tuyến xã, phường tỉnh
Tuyên Quang”
Mục tiêu đề tài:
1. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực y tế tuyến xã, phường trên địa
bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2013.
2. Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực y tế tuyến xã,
phường tại tỉnh Tuyên Quang.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Một vài nét về chăm sóc sức khỏe ban đầu
Chăm sóc sức khỏe ban đầu được đưa vào Nghị quyết của tổ chức y tế
thế giới (WHO) tại Đại hội của WHO nhân kỷ niệm 30 năm thành lập tổ chức
y tế thế giới vào tháng 5 năm 1977. Sau đó đã trở thành tuyên ngôn của Hội
nghị quốc tế AlmaAta tháng 9 năm 1978 với sự cam kết của các quốc gia, đặc
biệt là các nước thuộc thế giới thứ ba, với khẩu hiệu: "Sức khỏe cho mọi
người đến năm 2000" [59], [61], [69], đồng thời nhất trí nội dung CSSKBĐ
là một cách tiếp cận để đạt tới sức khỏe cho mọi người. Định nghĩa sức khỏe
theo Tổ chức y tế thế giới “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể
chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay

và cộng đồng tham gia. CSSKBĐ bao gồm 8 nội dung như sau [12], [36], [42]:
1- Giáo dục sức khỏe
2- Cải thiện điều kiện dinh dưỡng - ăn uống.
3- Cung cấp nước sạch - thanh khiết môi trường.
4- Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em - kế hoạch hoá gia đình
5- Tiêm chủng mở rộng.
6- Phòng và chống bệnh dịch lưu hành.
7- Khám chữa bệnh và thương tích thông thường.
8- Cung cấp thuốc thiết yếu.
Việt Nam chấp nhận 8 điểm trên và bổ sung thêm 2 nội dung có tính
đặc thù đó là:
1- Kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở.
2- Quản lý sức khỏe.

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
Để thực hiện các nội dung CSSKBĐ nêu trên, nguồn lực Trạm y tế xã
đóng vai trò cực kỳ quan trọng, theo đa số ý kiến các chuyên gia nghiên cứu
về chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, khái niệm nguồn lực trạm y tế xã có thể
khái quát bao gồm 3 yếu tố cơ bản: nhân lực, vật lực và tài lực. Nhân lực ở
đây là nguồn lao động, là đội ngũ cán bộ trạm y tế xã; vật lực là cơ sở, vật
chất, trang thiết bị y tế; tài lực là các nguồn tài chính của trạm y tế xã [36].
1.2. Thực trạng nguồn nhân lực ngành y tế
1.2.1. Nguồn nhân lực y tế trên thế giới
Hiện nay, trên toàn thế giới có khoảng 59.8 triệu nhân viên y tế, số
lượng nhân viên y tế thiếu hụt ước khoảng hơn 4.2 triệu người. Chỉ riêng châu
Phi cần khoảng 1 triệu nhân viên y tế. Trong năm 2006, Tổ chức y tế thế giới
(WHO) tuyên bố rằng một đất nước có ít hơn 2.3 bác sỹ, y tá và nữ hộ sinh

vực Đông Nam Á thông qua việc công nhận tầm quan trọng của nguồn nhân
lực y tế và đạt được cam kết của các quốc gia thành viên chú trọng đến việc
phát triển nguồn nhân lực y tế khi hoạch định chính sách quốc gia, nhằm tăng
cường nguồn nhân lực y tế để có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ thông qua việc xây dựng kế hoạch trung hạn và dài hạn [2], [75].
1.2.2. Thực trạng nhân lực y tế ở Việt Nam
Năm 2010, tổng số cán bộ ngành y tế Việt Nam có khoảng 300.000
người. Trong đó về thuộc chuyên ngành y có 1.028 tiến sỹ, 5.070 thạc sỹ,
50.110 bác sỹ; về ngành dược có 128 tiến sĩ, 381 thạc sỹ, 10.015 dược sỹ đại
học và hàng chục vạn y tá điều dưỡng, y sỹ, dược tá [22].
Tại Hội nghị trực tuyến quy hoạch phát triển nhân lực y tế giai đoạn
2011 - 2020 ngày 26/1/2011, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh vai trò quan trọng
của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung, trong đó có
ngành y tế. Người dân luôn đòi hỏi cao hơn về chất lượng dịch vụ y tế. Sự
xuất hiện của các dịch bệnh mới có tính chất toàn cầu cần những mô hình can

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

7
thiệp mới, đòi hỏi sự đáp ứng nhanh của ngành y tế…Để đối phó với những
thách thức đó, bên cạnh việc đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, chúng ta rất cần
có nguồn nhân lực giỏi, năng động, thích ứng với những điều kiện mới…
Trong thời gian qua, tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam đã có những
tác động mạnh mẽ làm thay đổi cấu trúc và sự phân bố nguồn nhân lực y tế,
đặc biệt là cán bộ y tế có trình độ cao đang có xu hướng tập trung về tuyến
trên, về những nơi có điều kiện tốt hơn, lĩnh vực chuyên môn có sức hấp
dẫn…bỏ lại tuyến dưới, những vùng khó khăn và những lĩnh vực chuyên môn
kém thu hút như: Y tế dự phòng, Nhi, Lao, Tâm thần…đưa những nơi này trở
thành khu vực thiếu nhân lực [21], [22].

Bình Định, năm 2010, cả tỉnh cần tuyển thêm 220 bác sỹ nhưng chỉ tuyển
được không quá 10 người, đồng thời cũng có 10 bác sỹ xin nghỉ việc, chuyển
công tác trong đó có cả các BS trình độ sau đại học. Bệnh viện Phong - Da
liễu TW- Quy Hòa nhiều năm nay không tuyển được bác sỹ, dù Ban giám đốc
bệnh viện thường xuyên đến các Trường Đại học Y ở Thái Nguyên, Hà
Nội, Huế mời sinh viên mới ra trường về công tác. Bệnh viện buộc phải
tuyển y sỹ rồi tiếp tục cử đi đào tạo. Tuy nhiên, những người được cử đi
đào tạo sau khi hoàn thành chương trình cũng sẵn sàng bỏ việc, chấp nhận
đền bù kinh phí đào tạo, chỉ vài triệu đồng/năm để chuyển chỗ làm mới
với thu nhập cao hơn [48].
Các tỉnh đồng bằng Sông Hồng cũng trong tình trạng khan hiếm bác sỹ,
nhân lực y tế tại tỉnh Hà Nam đang rất thiếu, không đủ biên chế cho số giường
bệnh theo quy định, đặc biệt là tuyến huyện. Hiên nay cả tỉnh đang thiếu
khoảng 250 bác sỹ nhưng chưa có nguồn. Mỗi năm trung bình có thể tuyển
mới 10-15 bác sỹ nhưng hầu hết ở tuyến tỉnh, còn tuyến huyện chủ yếu bổ
sung bác sỹ từ nguồn y sỹ đi học nâng cao. Tuy nhiên, tỉnh cũng chưa có
chính sách thỏa đáng để thu hút các BS mới ra trường [39].

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

9
Khu vực Tây Bắc, năm 2009, Tỉnh Lai Châu với 33 vạn dân/9.112 km
2

chỉ có 132 bác sỹ ( tỷ lệ 4 bác sỹ/1 vạn dân), 06 dược sỹ đại học. Riêng Bệnh
viện đa khoa tỉnh chỉ có 29 bác sỹ và 01 dược sỹ đại học [45].
1.3. Tổ chức và hoạt động của y tế xã/phƣờng/thị trấn
1.3.1. Sự hình thành và phát triển của y tế xã, phường, thị trấn
Mạng lưới y tế cơ sở ở nước ta được hình thành ở niềm Bắc từ sau cách

ở miền núi, vùng sâu, vùng xa [1].
Chỉ thị 06 cũng nhấn mạnh: “Ưu tiên chăm sóc sức khỏe nhân dân
miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt đối với nhân dân các dân tộc thiểu số”
[1]. Để cụ thể hóa mục tiêu trên, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Quyết định số
370/2002/QĐ-BYT ngày 07/02/2002 về việc ban hành "Chuẩn Quốc gia về y
tế xã giai đoạn 2001–2010”. Đây là tiêu chuẩn và chỉ tiêu để các cấp ủy Đảng,
Chính quyền quan tâm chỉ đạo, đầu tư nâng cấp hoặc xây dựng mới trạm y tế
xã và cán bộ trạm y tế xã, phường, thị trấn phấn đấu thực hiện [11].
Qua 10 năm thực hiện Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT ngày
07/02/2002 về việc ban hành "Chuẩn Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001–
2010”[11] với đã có nhiều những thành tựu đáng kể, tuy nhiên xã hội ngày
càng phát triển, đời sống người dân ngày càng được nâng cao để đáp ứng
được những nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày 22 tháng 09 năm
2011 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 3447/QĐ-BYT về việc
ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2010 - 2020, việc thực hiện
Bộ tiêu chí đánh giá này càng thể hiện sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước
trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong thời kỳ
mới. [23].
Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2006 của Bộ Chính trị về công tác
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới cũng đã
nêu rõ quan điểm chỉ đạo: “Đổi mới toàn diện hệ thống y tế theo hướng công

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

11
bằng, hiệu quả và phát triển nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân
được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe với chất lượng ngày càng cao
phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. Nghị quyết 46 đã xác
định ưu tiên vào việc đầu tư cho đào tạo cán bộ, đây là bước bứt phá để nâng

tâm y tế dự phòng huyện thành Trung tâm y tế huyện, chuyển trạm y tế xã từ
Phòng y tế sang cho Trung tâm y tế quản lý. Sự chuyển đổi này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến tâm lý cán bộ y tế cơ sở.
Năm 2008, Uỷ ban Dân số - Gia đình - Trẻ em giải thể, lĩnh vực dân số
- kế hoạch hóa gia đình được bàn giao về ngành y tế, trạm y tế xã có thêm
một nhiệm vụ và một cán bộ chuyên trách dân số - kế hoạch hóa gia đình.
Những thay đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy ban đầu đã có những ảnh hưởng
đến sự phối kết hợp trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu giữa tuyến
huyện và xã.
Mặc dù liên tục có sự thay đổi, nhưng bằng nhiều biện pháp nỗ lực,
ngành y tế, đặc biệt là tuyến y tế cơ sở đã khắc phục mọi khó khăn, duy trì
hoạt động ổn định, làm tốt nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe
nhân dân, nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trong những
năm qua cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu.
1.3.2. Chức năng nhiệm vụ của y tế xã, phường, thị trấn
Chỉ thị 06-CT/TW ngày 22 tháng 01 năm 2002 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng đã nêu rõ: “Mạng lưới y tế cơ sở (gồm y tế thôn bản, xã, phường,
thị trấn, quận huyện, thị xã) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, đảm bảo cho
mọi người được chăm sóc sức khỏe cơ bản, với chi phí thấp, góp phần thực
hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hóa, trật
tự an toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa”.
Chỉ thị cũng đã chỉ rõ: “Y tế cơ sở nằm trong hệ thống y tế nhà nước, là đơn
vị kỹ thuật đầu tiên tiếp xúc với người dân, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ
kỹ thuật chăm sóc sức khỏe, phát hiện sớm và phòng dịch bệnh, chăm sóc sức

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
khỏe ban đầu và đỡ đẻ thường, cung ứng thuốc thiết yếu, vận động nhân dân

thực hiện các nội dung chuyên môn của các chương trình y tế đang triển khai
thực hiện tại địa phương.
7. Phát hiện, báo cáo UBND xã và cơ quan y tế cấp trên về các hành vi
hoạt động y tế phạm pháp trên địa bàn xã để ngăn chặn kịp thời.
8. Kết hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể và quần chúng nhân
dân trong xã để tuyên truyền và tổ chức thực hiện các nội dung CSSKBĐ.
9. Quản lý các thông tin, tổng hợp báo cáo, cung cấp thông tin kịp thời,
chính xác theo quy định hiện hành.
10. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do giám đốc trung tâm y
tế huyện và UBND xã giao [27], [28].
Với mục tiêu chiến lược về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là:
Phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban
đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng ngay từ
tuyến y tế cơ sở. Nâng cao tính công bằng trong tiếp cận và sử dụng các dịch
vụ CSSK, đặc biệt là dịch vụ khám chữa bệnh. Đảm bảo cơ cấu tổ chức, thực
hiện chế độ chính sách, đáp ứng đủ thuốc và trang thiết bị thiết yếu cho các
hoạt động chăm sóc và bảo vệ và tăng cường sức khoẻ người dân, vì vậy trạm
y tế đảm nhiệm những chức năng, nhiệm vụ hết sức quan trọng. Để đáp ứng
với yêu cầu nhiệm vụ đó cán bộ tuyến y tế cơ sở phải có trình độ chuyên môn
nhất định, trang thiết bị phải được đáp ứng cơ bản, phải có sự quản lý và tổ
chức thực hiện các hoạt động một cách đồng bộ thì mới phát huy được hiệu
quả [1], [14].

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu

15
1.3.3. Vai trò của y tế xã/phường/thị trấn trong thực hiện chăm sóc sức
khoẻ ban đầu cho nhân dân
Nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của gần 90 triệu dân nước ta, với

không thể thiếu trong hoạt động của trạm y tế xã [41].
1.3.4. Thực trạng nguồn nhân lực y tế xã, phường
Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001–
2010 xác định: “Mục tiêu đến năm 2005 là 100% phòng khám đa khoa khu
vực có bác sỹ, 65% số xã có bác sỹ (trong đó 50% số xã miền núi có bác sỹ),
100% số trạm y tế có nữ hộ sinh, trong đó 60% là nữ hộ sinh trung cấp; Mục
tiêu đến năm 2010 là 80% số xã có bác sỹ (trong đó 60% số xã miền núi có
bác sỹ), 80% số trạm y tế xã có nữ hộ sinh trung cấp, các trạm y tế đều có cán
bộ với trình độ dược tá phụ trách công tác dược và có cán bộ được đào tạo,
bổ túc về y học cổ truyền”.[29].
Thực hiện các chỉ tiêu của Chiến lược, chúng ta đã phấn đấu đến cuối
năm 2005, cả nước có 671 quận, huyện, thị xã và 10.876 xã, phường, thị trấn
[47]. Hàng năm số trạm y tế xã, phường tiếp tục tăng lên để bảo đảm các xã,
phường mới được chia tách có cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu [18]. Định
biên của trạm y tế xã được quy định theo Quyết định 58/TTg ngày 3/2/1994,
Quyết định 131/TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 08/TTLB-
BNV-BYT ngày 20/4/1995 của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ[27], [28].:
Khu vực đồng bằng, trung du: Những xã có 8.000 dân trở xuống được
bố trí từ 3–4 cán bộ y tế; những xã có 8.000–12.000 dân có 4–5 cán bộ y tế;
những xã trên 12.000 dân có 6 cán bộ y tế.
Khu vực miền núi, Tây Nguyên, hải đảo: Những xã dưới 3.000 dân
được bố trí 4 cán bộ y tế; những xã từ 3.000 dân trở lên có 5–6 cán bộ y tế.
Khu vực thành phố, thị xã, thị trấn: có 2–3 cán bộ y tế [9],[27], [28].

Trích đoạn Sự thực thi các văn bản của Đảng, Chính quyền ảnh hưởng đến nhân Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân lực y tế xã, phường thị trấn theo đánh Về chất lượng cán bộ ở tuyến xã Sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, Chính quyền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status