430 Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng ngoại thương Đồng Nai - Pdf 23

1
PHẦN MỞ ĐẦU.
1. LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI.
Trong nền kinh tế thò trường, để phát triển đất nước, việc mở cửa và hội nhập kinh
tế quốc tế phát triển đất nước trở thành điều kiện bắt buộc cho nền kinh tế của Việt
Nam. Quá trình đổi mới nền kinh tế đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải thay đổi cho
phù hợp, vì nó được xem như hệ thần của cả nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng hoạt
động thông suốt, lành mạnh sẽ là tiền đề cho các nguồn tài chính luân chuyển, phân
bổ và sử dụng hiệu quả, kích thích cho sự tăng trưởng kinh tế.
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói
riêng không những đòi hỏi sự cạnh tranh khốc liệt, mà còn phải đối mặt với
nhiều loại rủi ro với muôn hình muôn vẽ, phức tạp và khó nhận biết. Rủi ro
trong kinh doanh của ngân hàng đang được các nhà quản lý quan tâm hết sức
đặc biệt vì nó có phản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức
tạp. Sự yếu kém của ngân hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh
tế – chính trò - xã hội của một quốc gia và có thể lan rộng sang nước khác.
Để tồn tại và phát triển, mỗi ngân hàng đều đã và đang xây dựng cho mình
chiến lược cạnh tranh nhằm giữ vững và mở rộng thò phần, trong đó, các ngân
hàng đều rất quan tâm đến hoạt động quản trò rủi ro nhằm mục tiêu giảm thiểu
tối đa tổn thất có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của mình.
Với suy nghó trên và hy vọng đóng góp cho sự nghiệp đổi mới và phát triển
của NHNT Đồng Nai, tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số giải
pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNT Đồng Nai”, làm luận văn tốt
nghiệp cao học kinh tế ngành Quản trò kinh doanh.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau:

2
(1) Làm sáng tỏ một số khái niệm cơ bản về hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại và cơ sở lý luận về hoạt
động quản trò rủi ro tín dụng của ngân hàng trong nền kinh


4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT.
Ký hiệu Nội dung
NH Ngân Hàng
NHNN Ngân Hàng Nhà Nước
NHQD Ngân Hàng Quốc Doanh
TCTD Tổ Chức Tín Dụng.
NHTM Ngân Hàng Thương Mại
NHNT Ngân Hàng Ngoại Thương
NHNT VN Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam.
NHNT TW Ngân Hàng Ngoại Thương Trung Ương
Vietcombank Bank for foreign Trade of Viet Nam
VCB Bank for foreign Trade of Viet Nam
TNHH Trách nhiệm hửu hạn.
XHCN Xã Hội Chủ Nghóa
CNXH Chủ Nghóa Xã Hội
KT-XH Kinh Tế – Xã Hội
TCKT Tổ Chức Kinh Tế
TCTD Tổ Chức Tín Dụng
QLTD Quản Lý Tín Dụng
DN Doanh Nghiệp
DNNN Doanh Nghiệp Nhà Nước
CBTD Cán Bộ Tín Dụng
CP Cổ Phần
KH Khách Hàng
VCSH Vốn Chủ Sở hữu

5
EAD Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả

là người cung cấp đầu vào nhưng cũng là người sử dụng các sản phẩm.

7
Thứ ba: Công nghệ của NHNT là công nghệ đặc biệt, nó biến đổi cơ cấu
thời hạn các đồng tiền nhằm dung hòa ý chí của khách hàng. Bên cạnh đó, cần
được ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tạo ra các sản phẩm thích
ứng với thò trường.
Thứ tư: Hoạt động không chỉ bó hẹp ở một quốc gia mà mang tính quốc
tế, nên chòu ảnh hưởng theo những chuyển biến của nền kinh tế thế giới.
Thứ năm: NHNT là một phần của trung tâm biến đổi và tiếp nhận rủi ro
trong nền kinh tế. Do đó nó phải được kiểm soát một cách chặt chẽ và được điều
chỉnh thông qua những chính sách, văn bản pháp qui của Nhà Nước.
1.1.2 Bản chất của NHNT.
NHNT là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lónh vực
tiền tệ, tín dụng và cung cấp các dòch vụ tiền tệ với nhiệm vụ căn bản là nhận
tiền gửi và sử dụng tiền gửi đó để cho vay nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở
sự chênh lệch lãi suất. Ngày nay, với những yêu cầu hết sức phong phú và đa
dạng từ phía khách hàng cùng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, NHNT đã
cung cấp thêm nhiều dòch vụ khác như: tài trợ thương mại quốc tế và trong nước,
mua bán ngoại tệ, cung cấp các dòch vụ chuyển tiền…
1.1.3 Chức năng của NHNT.
1.1.3.1 Chức năng trung gian tín dụng:
NHNT đóng vai trò quan trọng trong việc luân chuyển tài sản (vốn) trong
tòan bộ nền kinh tế, những khoản tiết kiệm trực tiếp dưới dạng cho vay trực tiếp,
đầu tư chứng khoán vào các công ty, chứng khoán của chính phủ…tuy nhiên,
luồng vốn chuyển dưới dạng này rất hạn chế. Nhu cầu vốn huy động của các
doanh nghiệp, Chính Phủ là với khối lượng lớn và dài hạn nhằm phục vụ nhu
cầu đầu tư phát triển. Do đó hình thành một trung gian tài chính để tạo điều kiện
cho các luồng cung cầu vốn gặp nhau. Các trung gian tài chính tạo ra 2 thò trường


1.1.4.2 Vai trò góp phần điều tiết vó mô:
Thông qua những thông tin do NHNT cung cấp, NHTW hoạch đònh chiến
lược và soạn thảo chính sách tiền tệ nhằm phân bổ các nguồn lực phục vụ cho
nhu cầu phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, NHTW không trực tiếp giao dòch với
công chúng thông qua hệ thống tài chính trung gian, trong đó có NHNT. Do vậy,
bằng nghiệp vụ tạo tiền gắn liền với công cụ quản lý vó mô của NHTW, trong
khi thực hiện hoạt động kinh doanh của mình, NHNT đã góp phần vào hoạt động
điều tiết vó mô thông qua chính sách tiền tệ của NHTW.
1.2.
Một số nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của Ngân Hàng Ngoại Thương.
1.2.1 Họat động nội bảng
1.2.1.1 Nghiệp vụ tạo vốn (tiêu sản):
Là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng được
thể hiện bên tài sản nợ trên bảng tổng kết tài sản của NHNT . Trong đó gồm:
a)
Vốn huy động: Là phương tiện tiền tệ mà NHNT thu nhận từ nền kinh tế
thông qua nghiệp vụ ký thác và nghiệp vụ khác để làm vốn kinh doanh. Đặc
điểm cơ bản của nghiệp vụ này là NHNT chỉ được sử dụng nó trong một thời
gian nhất đònh còn quyền sử dụng nó vẫn thuộc về người ký thác. Có thể chia
vốn huy động thành các loại: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi
tiết kiệm, nguồn vốn huy động khác như phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng
chỉ tiền gửi,…
b)
Vốn vay: NHNT có thể vay mượn trên thò trường tiền tệ ngắn hạn hoặc
tại ngân hàng nhà nước nhằm bù đắp cho sự thiếu hụt tạm thời giải quyết kòp
thời các khó khăn về tài chính. Đặc biệt có một số ngân hàng có uy tín có thể
vay được từ các tổ chính tài chính nước ngoài.

10
c) Vốn tiếp nhận, uỷ thác, các nguồn vốn khác: Là những nguồn vốn mà

với sự phát triển kinh tế, nghiệp vụ tín dụng cũng ngày càng đa dạng nhằm thoả
mãn các nhu cầu về vốn cho nền kinh tế. Các hình thức tín dụng: chiết khấu
thương phiếu và các chứng từ có giá, cho vay có tài sản đảm bảo bằng tài sản tài
chính của khách hàng; tín dụng thấu chi; tín dụng ứng trước vào tài khoản; tín
dụng thuê mua; factoring; tín dụng đầu tư….
d) Tài sản có khác: Phát sinh trong nghiệp vụ thanh toán, các khoản phải
thu, tài sản cố đònh, công cụ lao động…
e) Nghiệp vụ trung gian: Đây là nghiệp vụ mà NHNT phục vụ theo yêu
cầu ủy nhiệm của khách hàng để được hưởng hoa hồng, bao gồm:
→ Thanh toán và thu chi hộ cho khách hàng.
→ Kinh doanh ngoại tệ và vàng bạc đá q.
→ Dòch vụ uỷ thác: Quản lý tài sản, chuyển dòch tài sản… theo ủy thác
của khách hàng.
→ Dòch vụ cho thuê két sắt, mối giới, tư vấn, thanh toán các loại thẻ…
Tóm lại, với sự phát triển ngày càng nhanh của KT-XH, NHNT cần có cái
nhìn toàn diện trong quản lý tài sản có và tài sản nợ. Điều này sẽ góp phần tích
cực cho việc họat động quản trò rủi ro trong kinh doanh của NHNT.
1.2.2 Họat động ngoại bảng.
Ngoài những giao dòch trong hoạt động nội bảng trên bảng tổng kết tài sản,
NHNT còn tham gia các hoạt động chưa được thừa nhận là tài sản nợ hoặc tài
sản có thông qua một số nghiệp vụ ngoại bảng như sau:
1.2.2.1 Nghiệp vụ bảo lãnh: thanh toán, vay vốn nước ngoài, dự thầu,
giao hàng..

12
1.2.2.2 Các dòch vụ về hối đoái: giao ngay kỳ hạn, hoán đổi, tương lai
quyền chọn.
1.2.2.3 Những cam kết mua bán, tài trợ, lãi treo …
Mặc dù sự biến động của giao dòch ngoại bảng không làm thay đổi kết cấu
bảng tổng kết tài sản, nhưng nó là một nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá

hàng.
1.3.2.2 Ý nghóa hoạt động quản trò rủi ro tín dụng đối với NHNT.
Trong nền kinh tế thò trường, cung cấp tín dụng là chức năng cơ bản của
ngân hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng thì cung cấp tín dụng chiếm hơn ½
tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm từ ½ đến 2/3 tổng thu nhập của
ngân hàng, ngược lại, rủi ro thường tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng.
Khi NHNT rơi vào trạng thái tài chính khó khăn thì nguyên nhân thường phát
sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng, việc không thu hồi được vốn, có thể là
do buông lỏng quản lý, cấp tín dụng không minh bạch, áp dụng chính sách tín
dụng kém hiệu quả, hay do nền kinh tế đi xuống mà không lường trước... Điều
đó giải thích phần nào lý do tại sao cán bộ thanh tra NHNN khi xuống làm việc,
luôn kiểm tra toàn bộ danh mục tín dụng và hồ sơ đảm bảo tín dụng đối với các
khoản tín dụng lớn, kiểm tra ngẫu nhiên đối với các khoản tín dụng vừa và nhỏ,
trên cơ sở đó đánh giá chính sách tín dụng của ngân hàng nhằm đảm bảo tính
lành mạnh và hiệu quả để bảo vệ những người gửi tiền và cổ đông của ngân
hàng.
1.3.2.3 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
a) Nguyên nhân khách quan.
- Thứ nhất: Rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng.

14
Đó chính là rủi ro do thiên tai gây nên, nhiều khi quá lớn mà con người đành
bó tay. Ví dụ: đầu tư trong lónh vực trồng trọt, chăn nuôi những khi gặp bão lụt
nhiều khi mất trắng. Dòch bệnh ảnh hưởng đến lónh vực chăn nuôi gia súc gia
cầm… Do vậy, một khi rủi ro bất khả kháng xảy ra đảnh phải chấp nhận với
chúng, nhưng những biến động của thiên nhiên cũng có tính chất chu kỳ hoặc
theo mùa thì đối với nhà kinh doanh cần có sự quan tâm nghiên cứu dự báo để
có thể tránh hoặc hạn chế thiệt hại.
-Thứ hai: Rủi ro từ chính sách vó mô của nhà nước.
Ngân hàng là ngành kinh doanh có ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn đònh và

các khách hàng mà gần đây nhất là Ngân Hàng CP Tân Việt, EpCo, Minh
Phụng…
Về mặt chủ quan, do cán bộ thanh tra năng lực còn yếu, làm việc chưa có
quy chế cụ thể, sự phối hợp nội bộ chưa chặt chẽ, phối hợp ngoài ngành với cơ
quan pháp luật còn nhiều vướng mắc đôi khi phản tác dụng.
-Thứ ba: Rủi ro do cán bộ bỏ qua quy trình nghiệp vụ.
Quy trình cho vaytại NHNT hiện nay là tương đối đầy đủ và phù hợp với cơ
chế thò trường và quy đònh pháp luật nhằm đảm bảo an toàn vốn vay cho tổ chức
tín dụng
Tuy nhiên, khi thực hiện cho vay vì nhiều lý do khác nhau mà cán bộ tín
dụng đã bỏ qua các quy trình nghiệp vụ.
Quy trình nghiệp vụ cho vay phải tuân thủ các nguyên tắc:

16
(1) Vốn vay phải bảo đảm bằng giá trò vật tư, hàng hóa tương đương. Cho
vay phải hoàn trả vốn, trả lãi đúng hạn và sử dụng vốn vay đúng mục
đích.
(2) Cho vay phải tuân thủ các điều kiện: lập hồ sơ vay, có tài sản đảm
bảo...
-Thứ tư: Rủi ro thái hoá, biến chất, tư lợi.
Thông thường khi cán bộ tín dụng hoặc lãnh đạo ngân hàng tiêu cực trong
cho vay thì họ rất ngại kiểm tra theo dõi thu hồi nợ theo đúng quy đònh ngay cả
khi khách hàng có dấu hiệu thua lỗ. Đạo đức phẩm chất của một số cán bộ ngân
hàng có chiều hướng thái hoá biến chất. Không phải do trình độ năng lực yếu
kém, không đủ sức thẩm đònh độ tin cậy của dự án hay phương án xin vay mà do
tư lợi, thái hoá. Mặc dù luật pháp về quy chế nghiệp vụ và những ràng buộc
khác có chặt chẽ đến đâu họ vẫn tìm cách vi phạm và rủi ro xảy ra.
1.3.2.4 Quản trò rủi ro tín dụng.
a) Sự cần thiết của công tác quản trò rủi ro tín dụng.
Để hạn chế những rủi ro phải làm tốt từ khâu phòng ngừa cho đến khâu

sai sót khi thực hiện giao dòch, đánh giá hiệu quả công tác phòng
chống rủi ro trên cơ sở đó đề nghò các biện pháp điều chỉnh và bổ
sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản trò rủi ro.

18
c) Các mô hình phân tích đánh giá rủi ro tín dụng
→ Mô hình 1: “Mô hình đònh tính về rủi ro tín dụng”. Đối với mô hình
này, ngân hàng cần đề cập 3 yếu tố sau:
Yếu tố 1: Phân tích tín dụng: Đối với mỗi đơn xin vay, cán bộ tín dụng
(CBTD) cần trả lời 3 câu hỏi:
(1) Người xin vay có thể tín nhiệm không? Tức là người vay có thiện chí
trả nợ khi khoản vay đến hạn không?. Điều này lại liên quan đến việc
nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh-6C” của người xin vay: tư cách
(character); năng lực (capacity); thu nhập (cash); bảo đảm
(collecteral); điều kiện (condition); và kiểm soát (control).
(2) Hợp đồng tín dụng có được ký kết đúng đắn không? Điều này đòi
hỏi trước hết là nội dung của hợp đồng tín dụng phải đáp ứng được
nhu cầu vốn của người vay theo một kế hoạch trả nợ thuận lợi. Tạo
điều kiện thuận lợi để người vay có khả năng xử lý các nghóa vụ trả
nợ, bởi vì sự thành đạt của ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào sự
thành công của khách hàng. Nếu khách hàng gặp rắc rối trong việc
thực hiện khoản vay, thì ngân hàng cũng xem lại chính mình đang gặp
rắc rối gì. Do đo,ù ngân hàng cần phải cố vấn tài chính cho khách hàng
làm sao sử dụng đúng nhu cầu vay vốn, đúng thời hạn thực hiện của
phương án…Ngoài ra, một hợp đồng tín dụng phải được bảo vệ quyền
lợi của ngân hàng bằng các qui đònh những điều khoản giới hạn hoạt
động của người vay, nếu các hoạt động này đe dọa khả năng thu hồi
vốn vay của ngân hàng. Quá trình cưỡng chế để thu hồi nợ (khi nào?,
ở đâu?…) cũng phải được qui đònh cụ thể và rõ ràng trong hợp đồng tín
dụng.

cường kiểm tra giám sát khi phát hiện những dấu hiệu xấu không lành
mạnh liên quan đến khoản vay.
(5) Tăng cường kiểm tra khoản tín dụng khi nền kinh tế có chiều hướng đi
xuống, hoặc những ngành nghề cho vay có biểu hiện nghiêm trọng
trong phát triển.
Yếu tố 3: Xử lý tín dụng có vấn đề: Hầu hết các ngân hàng trên thế giới
hiện nay không ít thì nhiều đều có các khoản tín dụng có vấn đề. Trong khi nội
dung các khoản tín dụng có vấn đề ít nhiều có khác nhau trong các tình huống
khác nhau, nhưng một số đặc điểm chung của các khoản tín dụng có vấn đề có
thể nêu ra như sau:
→ Sự chậm trễ bất thường và không có lý do trong việc cung cấp các báo
cáo tài chính và lòch trả nợ đã thỏa thuận.
→ Đối với doanh nghiệp là việc cơ cấu lại nợ, hạn chế trả cổ tức.
→ Giá cổ phiếu công ty thay đổi bất lợi.
→ Thu nhập ròng giảm trong 1 hay nhiều năm, đặc biệt quan tâm đến các
chỉ tiêu ROA, ROE, EBIT.
→ Những bất lợi trong cơ cấu nguồn vốn, thanh khoản hay mức độ hoạt
động.
→ Những thay đổi bất ngờ về số dư tiền gửi tại ngân hàng.
Các chuyên gia đưa ra 5 giải pháp thu hồi những khoản tín dụng có vấn
đề như sau:
(1) Tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi nợ.
(2) Khẩn trương khám phá và báo cáo kòp thời vấn đề thực chất liên quan
đến tín dụng.

21
(3) Tách chức năng cho vay và xử lý tín dụng ra riêngbiệt nhằm tránh
xung đột có thể xảy ra về quan điểm cho vay.
(4) Dự tính những nguồn có thể dùng để thu hồi nợ có vấn đề.
(5) Cần xem trọng chất lượng, năng lực và sự nhất quán trong quản lý của

3
= tỷ số “lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản”.
X
4
= tỷ số “thò giá cổ phiếu/gái trò ghi sổ của nợ dài hạn”
X
5
= tỷ số “Doanh thu/tổng tài sản”.
Bất kỳ công ty nào có điểm số Z<1.81 phải được xếp vào nhóm có nguy
cơ rủi ro tín dụng cao.
b)
Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng

22
Ngoài mô hình điểm số Z, nhiều ngân hàng còn áp dụng mô hình cho
điểm để xử lý đơn xin vay của người tiêu dùng như: mua xe hơi, tranh thiết bò gia
đình, bất động sản…Các yếu tố quan trọng trong mô hình cho điểm tín dụng bao
gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà,
thu nhập, điện thoại cố đònh, tài khoản cá nhân, thời gian làm việc.
Mô hình này thường sử dụng 7-12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho
điểm từ 1-10. Ưu điểm của mô hình này là loại bỏ được sự phán xét chủ động
trong quá trình cho vay và gảim đáng kể thời gian ra quyết đònh tín dụng, nhưng
nó cũng có nhược điểm là không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để
thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và cuộc sống gia đình.
c)
Mô hình cấu trúc kỳ hạn rủi ro tín dụng.
Đây là mô hình dựa trên các yếu tố thò trường để đánh giá rủi ro tín dụng
và phân tích “mức thưởng rủi ro chấp nhận” gắn liền với mức sinh lời của khoản
nợ công ty hay tín dụng ngân hàng đối với người vay với cùng mức độ rủi ro. Ở
mô hình chủ yếu đánh giá về: (i) xác suất vỡ nợ của công cụ nợ kỳ hạn ngắn

phủ trong quan hệ thanh toán vay nợ viện trợ. Chính từ vò thế đặc biệt đó,
Vietcombank đã sớm là một NHNT duy nhất ở Việt Nam thực hiện đầy đủ chức
năng nhiệm vụ một ngân hàng đối ngoại.
Ngay sau ngày giải phóng miền nam, NHNT Việt Nam đã nhanh chóng tham
gia tiếp quản các ngân hàng cũ, kòp thời hoàn tất các cơ sở pháp lý, tham gia cho
NHNN thực hiện quyền thế chân vai trò hội viên của Việt Nam tại Qũy Tiền Tệ
Quốc Tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển Châu .

24
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, nhà nước và ngành Ngân hàng,
NHNT Việt Nam đã sớm tiếp cận, thích nghi với kinh tế thò trường, tiếp tục góp
phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp phát triển kinh tế, tăng cường sức cạnh
tranh, sẵn sàng hội nhập với bên ngoài.
Bước vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, NHNT Việt Nam được đánh giá
là có thế mạnh trong kinh doanh tiền tệ, có đội cán bộ trẻ, năng động, có công
nghệ và dòch vụ ngân hàng phát triển. Để đẩy nhanh qúa trình hội nhập quốc tế,
NHNT Việt Nam nhanh chóng tiến hành tái cơ cấu lại tình hình tài chính, lành
mạnh hóa hoạt động tín dụng; Tạo sức mạnh về vốn, đảm bảo nhu cầu vốn cho
đầu tư phát triển; Mở rộng dòch vụ ngân hàng trên nền tảng công nghệ ngân
hàng hiện đại; Đổi mới mô hình tổ chức và quản trò trên cơ sở áp dụng và hoàn
thiện các mô thức quản lý ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao hiệu
qủa kiểm tra, kiểm soát đảm bảo an toàn hệ thống.
Kết qủa đổi mới của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam được thể hiện:
¾ Là một trong những NHQD có tổng nguồn vốn tăng cao qua các năm, đến
năm 2004, tổng nguồn vốn của NHNT tăng gấp 5,2 so với năm 1991, đạt
trên 90.000 tỷ VND.
¾ Không ngừng tăng trưởng và nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần phát
triển kinh tế đất nước. Tổng dư nợ cho vay đến năm 2004 của NHNT Việt
Nam đạt trên 40.000 tỷ đồng. Khách hàng chính của NHNT Việt Nam là
các TCKT kinh doanh trong các lónh vực sản xuất công nghiệp, giao thông

trực thuộc NHNN tỉnh Đồng Nai. Ra đời sau các NHQD khác trên đòa bàn, nên
gặp nhiều khó khăn do hậu quả của cuộc khủng hoảng nền kinh tế trong giai
đọan đầu mới thành lập. Vào thời điểm đó, Phòng Ngoại Hối đang trong giai

Trích đoạn Chi nhánh NHNT Đồng Nai. Thực trạng họat động quản trị rủi ro tín dụng của NHNT Đồng Nai 1Cơng tác huy động vốn Hoạt động cho vay: Cơng tác quản trị rủi ro tín dụng của NHNT Đồng Nai. Các biện pháp xử lý rủi ro trong chovay tại NHNT Đồng Nai trong những năm qua.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status