Tình hình quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đổi mới đất nước, cải cách nền tài chính Quốc gia, đặc biệt cải cách
Tài chính công, việc quản lý điều hành ngân sách là một trong những vấn đề có ý
nghĩa vô cùng to lớn quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội, được Nhà nước cũng như chính quyền địa phương rất quan tâm. Với mục tiêu
khai thác triệt để các nguồn thu, đồng thời nâng cao hiệu quả các nguồn vốn chi đầu tư
từ ngân sách là một trong những nội dung cơ bản của công cuộc cải cách tài chính
công nói chung, thành phố Đông Hà - Quảng Trị nói riêng.
Hiện nay công tác quản lý và sử dụng vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành
phố Đông Hà đã có nhiều chuyển biến tích cực, cơ cấu thu, chi tương đối hợp lý đảm
bảo cho sự phát triển đồng bộ, song vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả của công tác quản
lý và sử dụng ngân sách còn thấp, chi đầu tư còn dàn trải, thiếu tập trung dẫn đến tình
trạng đầu tư kém hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí …Vì thế, yêu cầu quản lý và sự
dụng ngân sách nhà nước bảo đảm đúng chiến lược, mục tiêu, tiết kiệm, hiệu quả đáp
ứng được các nhu cầu phát triển của tỉnh đang là vấn đề rất bức xúc hiện nay.
Do vậy, nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, cụ thể cả lý luận và thực tiễn
nhằm hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước đáp ứng được lộ
trình cải cách hành chính công phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt ở
thành phố Đông Hà - Quảng Trị đang là vấn đề cấp thiết được đặt ra cho chính quyền
địa phương. Vì vậy, nhóm chúng tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Tình hình quản
lý và sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh
Quảng Trị”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành
phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị để đánh giá những thành công và hạn chế từ đó đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý và sử dụng vốn NSNN
trên địa bàn thành phố Đông Hà.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Nhóm 4 Trang 2
Tình hình quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý và sử dụng vốn ngân sách nhà nước
1.1.1. Ngân sách nhà nước
1.1.1.1.Khái niệm
Trong lịch sử khái niệm NSNN xuất hiện vào cuối thời kỳ chế độ phong kiến tan
rã, khi mà nền kinh tế hàng hoá tiền tệ bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Kết quả
đấu tranh của giai cấp tư sản trên lĩnh vực thuế khoá và chi tiêu đã làm thay đổi thể
chế quản lý của nhà nước phong kiến từ thu tuỳ tiện, chi tuỳ hứng sang thể chế thu chi
theo luật định. Có nhiều khái niệm khác nhau về NSNN. Hiện nay có hai quan niệm
phổ biến về NSNN như sau:
Quan điểm thứ nhất: NSNN là bảng dự toán thu, chi tài chính của Nhà nước trong
một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Quan điểm thứ hai: NSNN là quỹ tiền tệ của Nhà nước.
Luật NSNN hiện nay thiên về quan điểm thứ nhất: NSNN là toàn bộ các khoản
thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết
định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước.
Sơ đồ 1: Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Nhóm 4 Trang 3
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
NGÂN SÁCH
TRUNG ƯƠNG
NGÂN SÁCH
ĐỊA PHƯƠNG
NGÂN SÁCH TỈNH, THÀNH PHỐ
TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
có các vai trò như sau:
Vai trò huy động các nguồn Tài chính đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo
cho hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có
những nguồn tài chính nhất định. Những nguồn tài chính này được hình thành từ các
khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế . Đây là vai trò lịch sử của Ngân sách nhà
nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào ngân sách nhà nước đều
phải thực hiện.
Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và
chống lạm phát
Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh
nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và
Nhóm 4 Trang 4
Tình hình quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường, ảnh
hưởng to lớn đến sự phát triển của nền kinh tế. Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản
xuất cũng như người tiêu dùng nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị
trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà
nước dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự
trữ tài chính. Ngoài ra còn sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu
chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường
vốn… góp phần kiểm soát lạm phát.
Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất
Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công cụ thuế và
chi ngân sách. Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác góp
phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào
những vùng những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định.
Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành
kinh tế mũi nhọn… nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư
của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý.
Chấp hành ngân sách nhà nước: là quá trình sử dụng tổng hợp các biện
pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ngân sách ghi
trong dự toán NSNN năm trở thành hiện thực.
Quyết toán NSNN: là giai đoạn cuối cùng của một chu trình quản lý NSNN.
Mục đính của quyết toán NSNN là tổng kết, đánh giá lại toàn bộ quá trình thu, chi
NSNN trong một năm ngân sách. Quyết toán NSNN sẽ cung cấp đầy đủ thông tin vể
quản lý điều hành thu, chi NSNN cho những cơ quan nhà nước có thẩm quyền như:
Quốc Hội, HĐND, chính phủ, các nhà tài trợ, người dân Từ đó rút ra những ưu điểm,
nhược điểm và các bài học kinh nghiệm cho chu trình NSNN tiếp theo.
1.1.2.4. Cân đối thu chi ngân sách nhà nước
Cân đối NSNN là một nguyên lý xuyên suốt trong qua trình quản lý và sử dụng
vốn NSNN. Cân đối ngân sách yêu cầu các khoản chi ngân sách phải có nguồn thu
đảm bảo.
Theo quan điểm hiện nay, NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ
thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và đảm bảo số tích luỹ ngày
càng cao để chi đầu tư phát triển. Như vậy, cân đối NSNN xảy ra khi tổng thu ngân
sách bằng với tổng chi ngân sách. Đây là yêu cầu mang tính lý tưởng, thường ít xảy ra.
Bởi lẽ, nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội cũng như mâu thuẩn giữa khả năng và nhu
cầu thường xuyên biến động, cho nên không nhất thiết phải thường xuyên duy trì ở
mức cân đối lý tưởng. Song mức độ mất cân đối thu- chi NSNN phải khống chế trong
khuôn khổ nhất định để đảm bảo chủ động trong điều hành ngân sách một cách lành
mạnh và có hiệu quả.
1.1.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản
lượng nền kinh tế trong một thời kì nhất định.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế là sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm
gốc. Đó là sự gia tăng về quy mô sản lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc.
Nhóm 4 Trang 6
LẬP DỰ TOÁN CHẤP HÀNH
DỰ TOÁN
Bên cạnh đó do tính đặc thù riêng của điều kiện KT-XH của mỗi địa phương nên
có phần khác nhau trong việc khai thác nguồn thu để đảm bảo nhu cầu chi của địa
phương. Quảng trị luôn đổi mới trong công tác quản lý, điều hành thu-chi NSNN gắn
liền với nhu cầu thực tế về phát triển KT-XH của địa phương bằng những chính sách
đột phá để khai thác nguồn thu cho NS.
Quản lý chi NS các tỉnh này khá chặt chẽ, khoa học, tiết kiệm, hiệu quả; các
khoản chi đều phải có sự kiểm soát nghiêm ngặt của cơ quan tài chính và Kho bạc nhà
Nhóm 4 Trang 7
Tình hình quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
nước địa phương. Thực hiện khoán thu – chi đối với một số ngành ,đơn vị thụ hưởng
NSNN nhằm đảm bảo tiết kiệm ,hiệu quả trong việc sử dụng kinh phí NSNN. Bên
cạnh đó việc kiểm tra thanh tra Tài chính đối với các đơn vị thụ hưởng NSNN được
tăng cường giám sát của nhân dân trong quá trình quản lý thu- chi NSNN, từ những
tính đột phá năng động, tích cực trong quá trình quản lý NS của các cấp chính quyền
địa phương, các đơn vị ,ngành của địa phương tỉnh Quảng Trị đã mang lại những
thành công và hiệu quả trong quản lý NSNN của tỉnh trong thời gian qua trên các
phương diện; đặc biệt là quản lý chặt chẽ và có hiệu quả về khai thác các nguồn thu ,
tiết kiệm và hiệu quả chi thăng bằng NS tỉnh.
Từ kinh nghiệm về quản lý NSNN của một số tỉnh có thể vận dụng nâng cao hiệu
quả quản lý NSNN ở tỉnh Quảng Trị cụ thể :
- Trong quá trình quản lý thu-chi NSNN cần kiểm soát chặt chẽ các khoản thu-
chi NS, kìm hãm sự gia tăng quá mức nhu cầu chi; cần coi trọng các khoản chi kích
hoạt, sự đầu tư của khu vực tư và đảm bảo phân phối công bằng xã hội.
- Quản lý NSNN có liên quan chặt chẽ với chu trình NS và phương diện phân
cấp quản lý NSNN. Trong phân cấp NS, cần chú trọng giữa cân đối NSTW và NSĐP
nhằm phát huy vai trò các cấp chính quyền địa phương trong phát triển KTXH.
- Kiểm tra quyết toán thu, chi rất chú trọng đến hiệu quả của công tác quản lý
thu-chi NSNN. Quá trình lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán NSNN đều được quan
tâm chặt chẽ từ khâu đầu đến khâu cuối cùng.
- Công tác kiểm tra, thanh tra và kiểm toán quản lý NSNN luôn coi trọng hàng
SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Đông Hà là tỉnh lỵ- trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của
tỉnh Quảng Trị, nằm ở tọa độ 16
0
07’53’’ - 16
0
52’22’’ vĩ độ Bắc, 107
0
04’24’’ - 107
0
07’24’’ kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp huyện Gio Linh và Cam Lộ,
- Phía Nam giáp huyện Triệu Phong,
- Phía Đông giáp huyện Gio Linh và Triệu Phong,
- Phía Tây giáp huyện Cam Lộ.
Tổng diện tích tự nhiên là 72,96 km
2
, dân số trung bình năm 2012 có 90.828
người, chiếm 1,54% diện tích và 13,8% dân số toàn tỉnh. Mật độ dân số 1.134
người/km
2
. Thành phố Đông Hà được chia thành 9 phường bao gồm: phường 1, 2, 3,
4, 5, Đông Giang, Đông Thanh, Đông Lương và Đông Lễ.
Thành phố Đông Hà nằm trên giao điểm quốc lộ 1A với đường 9 xuyên Á (Hành
lang Đông-Tây) nối với Lào, Thái Lan, Myanmar và các nước trong khu vực; cách
không xa các đô thị phát triển và tiềm năng như thành phố Huế (70 km), thành phố
Đồng Hới (93 km); cách cảng Cửa Việt 16 km, sân bay Phú Bài (Huế) 84 km, cách
không khí rất cao.
Mùa khô nóng: Kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7, gần như liên tục nắng nóng kèm
theo gió Tây-Tây Nam khô nóng. Do hiệu ứng ‘‘ Phơn’’ (fonth) đã đem đến cho Đông
Hà một loại hình thời tiết đặc trưng nắng nóng và khô hạn kéo dài. Có những ngày gió
Tây-Tây Nam thổi mạnh, sức gió cấp 6, cấp 7 và do cấu tạo địa hình của phía triền dốc
Đông Trường Sơn nên khi gió qua đèo Lao Bảo về Đông Hà tạo thành những cơn bão
nhỏ, khô nóng có khi kéo dài trong nhiều tháng làm thời tiết thêm oi bức.
Nhiệt độ: Đông Hà có nền nhiệt độ tương đối cao, trung bình năm 24,4
0
C, nhiệt
độ tối cao 42
0
C, thường xảy ra trong tháng 6,7; nhiệt độ tối thấp 11
0
C, thường xảy ra
trong khoảng tháng 12, tháng 1. Trong mùa hạ, từ tháng 5 đến tháng 7 khi xuất hiện
gió mùa Tây Nam (thường gọi là gió Lào) mang đặc trưng nắng nóng và khô hạn kéo
dài, đó cũng là thời gian nóng nhất trong năm.
2.1.1.4. Thuỷ văn
Chế độ thủy văn của thành phố Đông Hà chịu ảnh hưởng của hệ thống sông ngòi
và thủy triều từ biển vào thông qua Cửa Việt. Hệ thống sông ngòi của thành phố gồm
3 sông chính:
Sông Hiếu. Là hệ thống sông lớn nhất chảy qua phía Bắc thành phố, bắt nguồn từ
sườn Đông dãy Trường Sơn, huyện Hướng Hóa, từ độ cao trên 1000 m chảy theo
hướng Tây Bắc-Đông Nam qua địa phận huyện Cam Lộ đi về Đông Hà và nhập vào
sông Thạch Hãn ở ngã 3 Gia Độ. Sông Hiếu có chiều dài 70 km, diện tích lưu vực 465
km
2
. Đoạn đi qua thành phố Đông Hà dài 8 km, chiều rộng trung bình 150 - 200 m. Khu
vực hạ lưu sông Hiếu chịu sự chi phối của thủy triều từ biển vào nên có chế độ dòng
đai của thành phố Đông Hà bao gồm các loại đất chủ yếu sau: đất Feralit trên sa phiến,
đất phù sa bồi, phù sa không được bồi, đất phù sa glây, đất cát , trong đó chiếm tỉ lệ
lớn và có ý nghĩa kinh tế bao gồm các loại sau:
- Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phiến sét (Fs): Phân bố tập trung ở khu vực
Tây và Tây Nam thành phố. Diện tích đất này chiếm khoảng 3.500 ha, chủ yếu thích
hợp trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, phát triển đồng cỏ chăn nuôi.
- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Phân bố chủ yếu ở các vùng khu vực triền
sông Hiếu, sông Vĩnh Phước, diện tích khoảng 500 ha, đây là loại đất thích hợp cho
việc trồng cây lương thực, cây ăn quả và cây công nghiệp.
- Đất phù sa Glây(Pg): Phân bố rải rác ở các khu vực trồng lúa (thuộc các phường
Đông Lễ, Đông Lương, Đông Giang, Đông Thanh) có diện tích 200 ha.
Đặc điểm chung của các loại đất trên là bị chua phèn, độ PH dao động từ 4,5 - 6,5
nên độ phì thấp.
- Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt. Thành phố Đông Hà có nguồn nước mặt khá dồi dào do 3 sông
chính cung cấp là sông Hiếu, sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Phước. Ngoài ra còn hàng
chục khe suối và một số hồ chứa, phân bố khá đều trên địa bàn thành phố. Lượng mưa
bình quân hàng năm 2.700 mm là nguồn bổ sung đáng kể vào nguồn nước các sông hồ
trên địa bàn thành phố.
Nguồn nước ngầm. Theo tài liệu đánh giá của Sở Khoa học và Công nghệ thì
nước ngầm vùng trung tâm thành phố và khu vực đất đồi tầng ngầm nghèo. Nguồn
nước ngầm mạch nông tồn tại ở vùng đất trũng thuộc khu vực trầm tích phù sa.
- Tài nguyên rừng
Hiện nay, thành phố Đông Hà có 2.255,69 ha rừng, trong đó toàn bộ là đất rừng
trồng. Rừng tự nhiên bị chiến tranh hủy diệt và một phần do con người chặt phá nên
không còn diện tích. Rừng trồng đã đến tuổi khai thác có khoảng 1.000 ha, mật độ
thưa, năng suất và trữ lượng thấp. Ước tính trữ lượng gỗ củi có khoảng 15.000m3 gỗ
củi. Cần duy trì và mở rộng diện tích đất rừng sản xuất, trồng rừng cảnh quan gắn phát
triển lâm nghiệp với phát triển du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái.
Nhóm 4 Trang 13
Năm 2013 dân số trung bình toàn thành phố có 90.828 người, trong đó nam
chiếm 48,9%, nữ 51,1% và có chiều hướng tăng dần qua các năm. Theo cách tính quy
mô dân số trong phân loại đô thị thì quy mô dân số Đông Hà hiện nay khoảng 92.000-
93.000 người. Trên địa bàn dân cư phân bố không đều, tập trung đông ở các phường
nội thị. Phường I tập trung đông dân nhất, có mật độ 9.023 người/km
2
, phường III có
mật độ thấp nhất 292 người/m
2
.
Nhóm 4 Trang 14
Tình hình quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
Đồ thị 2: Dân số thành phố Đông Hà giai đoạn 2010-2013
(Nguồn: UBND thành phố Đông Hà)
Lao động trên địa bàn thành phố có 51.831 người trong độ tuổi lao động, chiếm
62,3% tổng dân số, bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 1.100-1.200 người. Bên
cạnh sự gia tăng nguồn nhân lực từ số dân bước vào tuổi lao động, thành phố còn là
địa bàn hấp dẫn, thu hút lao động từ các địa phương trong tỉnh đến làm việc và sinh
sống, trung bình mỗi năm có khoảng 400-500 người. Đây là nguồn nhân lực bổ sung
cho nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng là áp lực đối với vấn đề tạo việc làm và giải
quyết các vấn đề xã hội.
Truyền thống văn hóa. Người dân Đông Hà cần cù, đoàn kết, thân thiện, trung
kiên, anh dũng, có truyền thống văn hoá đậm đà bản sắc. Trong các cuộc kháng chiến
giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, nhân dân Đông Hà cùng nhiều chiến sỹ cả
nước đã anh dũng chiến đấu, hy sinh bảo vệ Tổ quốc, quê hương. Ngày nay, trong
công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, người dân Đông Hà tiếp tục phát huy đức tính
cần cù, chịu khó, năng động sáng tạo, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật, nhạy bén với
kinh tế thị trường, không ngừng khắc phục khó khăn, vươn lên đi đầu trong sự nghiệp
phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Đây là thế mạnh - nguồn nội lực quan trọng đưa
thành phố Đông Hà phát triển đi lên trong tương lai.
hóa và hành khách.
* Đường thủy. Chủ yếu hoạt động trên sông Hiếu. Cảng sông Đông Hà nằm ở vị
trí hạ lưu sông Hiếu, phía thượng lưu cầu Đông Hà, gồm 1 bến đứng có chiều dài 100 m,
1 bến nghiêng dài 90 m; khả năng hàng hóa thông qua cảng 50.000 tấn/năm, cho tàu
200-250 tấn cập bến; có bãi chứa hàng rộng 4.000 m2, kho chứa hàng rộng 900 m2. Tuy
nhiên hiện tại, bến đứng của cảng Đông Hà không sử dụng được do bị sập, hư hỏng
nặng. Ngoài cảng hàng hóa, trên khu vực chợ mới có bến thuyền khách dài 200 m.
2.1.2.3. Tình hình kinh tế xã hội của thành phố Đông Hà giai đoạn 2010-2013
Thành phố Đông Hà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật
của tỉnh Quảng Trị, nằm ở giao điểm của Quốc lộ 1A và Quốc lộ 9 trên tuyến hành
lang Kinh tế Đông - Tây, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của
vùng Bắc Trung Bộ và của cả nước.
Thành phố gồm có 9 phường, với diện tích tự nhiên 7.296 ha, trong đó đất xây
dựng đô thị 3.130ha, chiếm 43% tổng diện tích đất tự nhiên toàn thành phố.
Dân số thành phố hiện có trên 90.000 người, mật độ dân số chung 1.330
người/km
2
và tại khu vực nội thành mật độ dân số là 6.774 người/km
2
. Lao động trong
độ tuổi là 48.560 người, tỷ lệ lao động chưa có việc là 4%.
Nhóm 4 Trang 16
Tình hình quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm (2006-2010) là 14,8%, Năm
2009 là 14%, thu nhập GPD bình quân đầu người đạt 29 triệu đồng/năm
Với mục tiêu xây dựng thành phố Đông Hà phát triển theo hướng văn minh, giàu
đẹp; xứng tầm với đô thị trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị và là thành phố động lực
trên tuyến hành lang kinh tế Đông Tây theo chủ trương của Ban thường vụ Tỉnh uỷ và
Nghị quyết của đại hội Đảng bộ tỉnh, đại hội Đảng bộ thành phố đã đề ra. Được sự
quan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh, sự phối hợp của các sở ban ngành liên quan, sự hỗ
29.1 31.3 33.4 35.8
Nông - Lâm - Ngư nghiệp
(%)
33.6 33.5 30.4 28.4
(Nguồn: UBND thành phố Đông Hà)
Nhóm 4 Trang 17
Tình hình quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
2.2. Tình hình quản lý và sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành
phố Đông Hà – Tỉnh Quảng Trị
2.2.1. Tình hình quản lý vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Đông Hà
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc phân định phạm vi trách nhiệm và
quyền hạn của cơ quan nhà nước ở mỗi cấp trong quá trình quản lý, điều hành ngân
sách nhà nước.
Căn cứ vào nghị định Số: 17/2010/NQ-HĐND (Đông Hà, ngày 10 tháng 12 năm
2010) Thông qua Quy định Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ phân chia các
khoản thu thời kỳ ổn định ngân sách 2011- 2015 và định mức chi thường xuyên ngân
sách địa phương năm 2011. Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh Quảng Trị khóa V,
kỳ họp thứ 22 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2010 và có hiệu lực kể từ ngày thông
qua. (Phụ lục 1)
Nhóm 4 Trang 18
Tình hình quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
Sơ đồ 3: quản lý vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Đông Hà
Nhóm 4 Trang 19
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
NGÂN SÁCH
TRUNG ƯƠNG
NGÂN SÁCH
ĐỊA PHƯƠNG
NGÂN SÁCH TỈNH QUẢNG TRỊ
NGÂN
1
NGÂN
SÁCH
PHƯỜNG
ĐÔNG
LƯƠNG
NGÂN
SÁCH
PHƯỜNG
ĐÔNG LỄ
Tình hình quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
2.2.2. Tình hình sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Đông Hà
2.2.2.1. Tình hình thu NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà giao đoạn 2010 – 2013
Những năm vừa qua, cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội. Thành phố Đông
Hà hết sức coi trọng công tác thu ngân sách nhà nước. Xác định nhiệm vụ trọng tâm
của đơn vị. Chi cục Thuế thành phố Đông Hà từ khi thành lập tới nay kết quả thu thuế
hằng năm đều đạt và vượt dự toán đề ra. Giai đoạn 2010 – 2013, tổng thu NSNN đạt
211.258.947.191 đồng năm 2010 thì đến năm 2013 con số này đã đạt lên
382.929.208.966 đồng, gấp 1,81 lần.
Trong tổng thu ngân sách trên địa phương phải kể đến khoản thu ngân sách trên
địa bàn chiếm tỉ trọng cao nhất có giá trị hơn 117 tỉ đồng (chiếm 55,44%) năm 2010.
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010-2013 đạt 23,51%. Thu ngân sách tăng
đều qua các năm từ trên 171 tỉ đồng (chiếm 56,84%) năm 2011 , tăng nhẹ về giá trị
năm 2012 đạt mức 175 tỉ đồng nhưng cơ cấu giảm (chiếm 49,38%) và gần 221 tỉ đồng
(chiếm 57,63%) năm 2013. Do tăng thu thuế các khoản lệ lí, phí ,thu tiền sử dụng đất
trên địa bàn.
Bên cạnh đó, thu chuyển nguồn lại có xu hướng giảm mạnh qua các năm từ
25,014,732,819 đồng năm 210 giảm xuống còn 12,872,215,110 đồng vào năm 2013.
Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế, tồn tại: Các hoạt động sản xuất kinh doanh
chưa được quản lý chặt chẽ và đầy đủ. Ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế
ST
T
Chỉ tiêu
2010 2011 2012 2013
Tốc độ
tăng
trưởn
g
BQ
SL
(VND)
CC
(%)
SL
(VND)
CC
(%)
SL
(VND)
CC
(%)
SL
(VND)
CC
(%)
(+-%)
Tổng thu ngân sách địa phương
211,258,947,19
1
100
5
55.4
4
171,447,161,51
4
56.8
4
175,336,775,02
9
49.3
8
220,680,230,20
1
57.6
3
23.51
II Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 53,333,877,000
25.2
5
72,137,734,000
23.9
1
100,439,123,00
0
28.2
9
124,169,404,00
0
32.4
3
chiếm 61,68% chi trong cân đối. Năm 2011 là 151.824.410.338 đồng chiếm 58,30%
trong chi trong cân đối, năm 2012 là 230.900.590979 đồng chiếm 67,25% trong chi
trong cân đối. Năm 2013 là 216.079.402.652 đồng chiếm 67,59% trong chi trong cân
đối. Sỡ dĩ năm sau tăng nhanh so với những năm trước là vì Nhà nước đã liên tục tăng
nhanh cho đầu tư giáo dục, y tế và xã hội, chú trọng đến vùng sâu vùng xa qua các
chương trình mục tiêu đặc biệt, chương trình xóa đói giảm nghèo. Trong 4 năm qua
Thành phố đã triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế,và khoản chi
hành chính. Việc phân bổ và sử dụng ngân sách đã tiến bộ hơn do cải cách hành chính
nhưng vẫn chậm so với yêu cầu của cấp trên.
Dựa vào đồ thị 4 cho thấy thành phố Đông Hà rất chú trọng chi cho sự nghiệp
giáo dục. Điều này thể hiện ở cơ cấu chi sự nghiệp giáo dục trong chi thường xuyên
luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và có xu hướng tăng liên tục qua các năm từ 42,81% vào
năm 2010 lên 45,27% vào năm 2013. Đây là kết quả có việc thành phố Đông Hà chú
trọng đầu tư vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động,
tỷ lệ lao động qua đào tạo 59% vượt kế hoạch. Duy trì vững chắc kết quả phổ cập tiểu
học đúng độ tuổi và THCS 9/9 phường, chất lượng dạy học được nâng cao, thành phố
có 99,97% học sinh được công nhận tốt nghiệp THCS, có 282 học sinh đạt giải cấp
tỉnh, 13 học sinh đạt giải quốc gia và 100% giáo viên tiểu học và THCS đạt chuẩn.
Đây là những tín hiệu mừng cho thấy việc thành phố Đông Hà đã gặt hái được nhiều
kết quả trong sự nghiệp giáo dục.
Ngoài ra, thành phố Đông Hà đang ngày một chú trọng vào sự nghiệp y tế, mặc
dù chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế chiếm tỷ trọng thấp tuy nhiên đang có
xu hướng tăng nhanh qua các năm. Bằng chứng là chi cho sự nghiệp y tế chỉ chiếm
0,01% chi thường xuyên cả thành phố vào năm 2010 nhưng đến năm 2013, chi sự
nghiệp y tế đã chiếm 5,71% tổng chi thường xuyên của thành phố. Kết quả thu được
vào năm 2013, tỷ suất sinh giảm 0.7%. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi là
9,45% so với kế hoạch là 9,5%. Đây là những kết quả đạt được từ chi NSNN cho sự
nghiệp y tế, góp phần nâng cao chất lượng sức khỏe cho người dân.
Nhóm 4 Trang 24
Tình hình quản lý và sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thành phố Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
260,435,569,39
2
100
343,369,084,45
3
100
319,677,580,75
8
100 18.96
A Chi trong cân đối
182,148,714,24
3
95.9
3
248,130,322,06
3
95.2
8
329,463,867,08
9
25
306,342,859,54
9
95.8
3
18.92
I Chi đầu tư phát triển 40,659,759,300
21.4
1
72,126,633,125
VI Chi chuyển nguồn tạm ứng 10,323,807,100 5.44 0.00 0.00 0.00 100.00
B
Các khoản ghi chi quản lý qua ngân
sách
7,729,817,993 4.07 12,305,247,329 4.72 13,905,217,364 4.05 13,334,721,209 4.17 19.93
(Nguồn: Phòng TC-KH thành phố Đông Hà)
Nhóm 4 Trang 25