Giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu
Lí do lựa chọn đề tài
Ngày nay không ai có thể phủ nhận vị trí quan trọng của ngành sữa trong nền kinh
tế, vì sản phẩm từ sữa là nguồn cung cấp nhiều giá trị dinh dưỡng cho xã hội, nâng cao sức
khỏe và trí tuệ cho con người.
Đối với các nước đang phát triển kinh tế, ngành sữa cũng đang tăng cao và dần dần
chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Công ty sữa Việt Nam (Vinamilk) là một
doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc Bộ Công Nghiệp, được thành lập từ năm 1976. Công ty
đã hoạt động trong cả hai cơ chế điều hành của nền kinh tế: nền kinh tế chỉ huy, kế hoạch
hóa, bao cấp và nền kinh tế thị trường dưới sự điều tiết của chính phủ. Khi chuyển sang
nền kinh tế thị trường với quy luật cạnh tranh nghiệt ngã, công ty vẫn tiếp tục phát triển
với một số thành tích nhất định. Chẳng hạn sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng về
chủng loại, chất lượng, bao bì ngày càng được cải tiến, uy tín của sản phẩm càng được biết
đến trong đại đa số người tiêu dùng Việt Nam.
Trong hơn 30 năm qua, công ty đã chọn cho mình con đường phát triển đúng
hướng, các sản phẩm của công ty không những có thể cạnh tranh được với các sản phẩm
cùng loại trong nước, mà một số mặt hàng còn cạnh tranh được với nước ngoài trên thị
trường xuất khẩu.
Thiết nghĩ ngoài các lí do khác, nghệ thuật quản trị là hoạt động quan trọng nhất để
khẳng định sức sống và phát triển vượt trội như vậy. Để phân tích về tác động của môi
trường quản trị, chính xác là môi trường vĩ mô đến hoạt động quản trị nhóm chúng tôi đã
chọn công ty Vinamilk làm điểm dừng tham quan nhằm tìm đến câu trả lời thực tiễn cụ thể
và sinh động hơn.
Phương pháp nghiên cứu
Môi trường quản trị là nền tản để nghiên cứu nghệ thuật quản trị. Trong đó gồm
nhiều yếu tố nhưng trong khuôn khổ một bài tiểu luận, nhóm chúng tôi xin được
chọn môi trường vĩ mô làm đề tài trọng tâm với những phân tích cơ bản nhất.
Trong bài có sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, thu thập số liệu, tổng hợp
các tài liệu tham khảo…với sự hợp tác làm việc của cả nhóm.
Lời mở đầu
1
Lời mở đầu 2
Mục lục 3
Nội dung
I. Môi trường vĩ mô - môi trường quản trị 4
1. Môi trường quản trị 4
2. Môi trường vĩ mô 4
II. Sự tác động của các yếu tố môi trường vĩ mô 5
1. Các yếu tố kinh tế 5
1.1. Sự tăng trưởng kinh tế 5
1.2. Các chính sách kinh tế quốc gia 7
1.3. Chu kì kinh tế 7
1.3.1. Thời kì phát triển 8
1.3.2. Thời điểm cực đại 8
1.3.3. Thời kì suy thoái 8
1.3.4. Thời điểm cực tiểu 8
1.4. Khuynh hướng toàn cầu hóa kinh tế 9
2. Các yếu tố chính trị - pháp luật 9
2.1. Lực lượng chính trị 10
2.2. Pháp luật 13
3. Các yếu tố văn hóa – xã hội
4. Các yếu tố khoa học kĩ thuật và công nghệ 16
4.1. Biểu hiện 16
4.2. Giải pháp 17
5. Các yếu tố thiên nhiên 18
6. Các nhóm áp lực xã hội 19
Lời kết 21
Danh mục các tài liệu tham khảo 22
I. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ – MÔI TRƯỜNG QUẢN TRỊ
1. Môi trường quản trị
3
4
Tác động của mỗi yếu tố trong môi trường vĩ mô là khác nhau đối với từng doanh
nghiệp, từng lĩnh vực, từng thời điểm kinh doanh khác nhau, do đó mỗi doanh nghiệp phải
xây dựng cho mình một cách “sống” riêng trong môi trường ấy. Sự tác động ấy như thế
nào, ở mức độ ra sao là câu hỏi mà chúng ta cần phải khám phá.
1.Các yếu tố kinh tế
Những biến động của các yếu tố kinh tế trong và ngoài nước ảnh hưởng sâu sắc đến
quá trình hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế, song chúng ta cần tập
trung xem xét các yếu tố chủ yếu sau:
1.1. Sự tăng trưởng kinh tế
Sự tăng trưởng kinh tế là việc mở rộng sản lượng tiềm năng của một quốc gia trong
một giai đoạn nhất định. Hay nói cách khác là việc mở rộng tiềm năng kinh tế để sản xuất
ra nhiều sản phẩm dịch vụ hơn phục vụ cho tiêu dung trực tiếp và tái sản xuất mở rộng.
Hiệu quả của sự tăng trưởng kinh tế được đo lường bằng ba chỉ tiêu: mức gia tăng sản
lượng theo đầu người và mức tăng mức sống của các cá nhân điển hình trong dân cư, mức
gia tăng năng suất lao động xã hội cao và ổn định, sự tăng trưởng kinh tế không để lại
những nguy cơ tiềm ẩn cho nền kinh tế trong tương lai.
Cần phân biệt sự tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế và
phát triển kinh tế là hai thuật ngữ độc lập nhưng chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
Phát triển kinh tế là một quá trình biến đổi về số lượng, chất lượng sản xuất và đời sống
của nền kinh tế- xã hội nhằm đạt đến sự thỏa mãn các nhu cầu các mục tiêu xã hội đặt ra;
còn tăng trưởng kinh tế là khả năng sản xuất ra hàng hóa dịch vụ nhằm nâng cao mức sống
của toàn xã hội đồng thời quá trình phát triển này không để lại những di hại lâu dài cho nền
kinh tế xã hội, cho môi trường tự nhiên.
Tăng
trưởng kinh
tế đã nâng
cao thu nhập
của người
dân. Mặc dù
với doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm có hại đến sức khỏe của con nguời như thuốc
lá, rượu bia; áp dụng thuế suất thấp đối với ngành sản xuất dược phẩm, chế biến thực
phẩm… Hoặc nhà nước độc quyền quản lý các ngành kinh tế then chốt.
Một chính sách kinh tế có lợi cho nền kinh tế, cho các doanh nghiệp khi nào chính
sách kinh tế đó thật rõ ràng, minh bạch, ổn định và cởi mở. Nó có khả năng tạo ra môi
6
trường kinh doanh hấp dẫn, thuận tiên nhất cho sự hoạt động của các doanh nghiệp trong
và ngoài nước.
Một ví dụ điển hình về chính sách kinh tế quốc gia là chính sách của nhà nước về
sữa nhập khẩu trong những năm qua chưa thúc đẩy được phát triển sữa nội địa. Cần có
chính sách thích đáng khuyến khích các công ty chế biến sữa Việt Nam giảm dần lượng
sữa bột nhập khẩu tái chế, tăng dần tỷ trọng sữa tươi sản xuất trong nước. Tuy nhiên, Việt
Nam đã ra nhập WTO, từ 2010 nếu dùng chính sách thuế để khuyến khích hay hạn chế
nhập sữa bột sẽ không khả thi, vì vậy cần có những chính sách thích hợp cho lộ trình đến
năm 2015 trở đi nguồn nguyên liệu từ sữa tươi sản xuất trong nước tối thiểu phải đáp ứng
được trên 40% nhu cầu sữa nguyên liệu.
1.3. Chu kì kinh tế:
Chu kì kinh tế là sự thăng trầm về khả năng tạo ra của cải của nền kinh tế trong
những giai đoạn nhất định. Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, trong mỗi giai đoạn
nhất định của chu kỳ nền kinh tế đều tác động khác nhau đến doanh nghiệp, từ đó doanh
nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình. Chu kì kinh tế bao gồm:
1.3.1. Thời kì phát triển: thời kì nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh và mở
rộng về quy mô. Hàng hóa của các doanh nghiệp tiêu thụ nhanh, sản xuất mở rộng, giá cả-
lương- lãi suất- lợi nhuận đều tăng. Do đó, các doanh nghiệp thường gia tăng đơn đặt hàng,
huy động thêm vốn, thuê thêm nhan công, gia tăng đầu tư nhằm thỏa mãn nhu cầu thị
trường.
1.3.2. Thời điểm cực đại: là thời điểm nền kinh tế đã đạt đến mức phát triển cao
nhất của nó, đạt mức toàn diện về tiềm năng và bắt đầu đi vào giai đoạn suy thoái. Tại thời
điểm này, các doanh nghiệp không nên đầu tư mở rộng sản xuất, nên tận dụng tối đa để gia
tăng lợi nhuận.
hậu quả tiêu cực xã hội. Vì vậy, chính phủ áp dụng các chính sách bảo vệ mậu dịch bằng
hàng rào thuế quan, quy định về hạn chế ngạch nhập khẩu, các biện pháp hành chính khác
để bảo vệ các doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, các biện pháp này sẽ gây thiệt hại đến
quyền được hưởng giá thấp của người tiêu dùng .
Tóm lại, để thành công trong nền kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp phải đổi mới
công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng năng suất lao động.
Ví dụ: Xây dựng mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững đối với các nhà cung cấp
chiến lược lớn trong và ngoài nước: tập đoàn đa quốc gia hàng đầu trên thế giới
Fonterra , Hoogwegt International, Perstima Bình Dương, Việt Nam,…là mục tiêu chính
của Vinamilk nhằm đảm bảo nguồn cung cấp nguyên liệu thô, không những ổn định về
chất lượng cao cấp mà còn ở giá cả rất cạnh tranh. Hiện nay, các hãng sản xuất sữa trong
nước còn đang chịu sức ép cạnh tranh ngày một gia tăng do việc giảm thuế cho sữa ngoại
nhập theo chính sách cắt giảm thuế quan của Việt Nam khi thực hiện các cam kết
CEPT/AFTA của khu vực ASEAN và cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới WTO.
2. Các yếu tố chính trị - pháp luật
8
Doanh nghiệp là một bộ phận của đời sống kinh tế nói riêng và đời sống xã
hội nói chung của một quốc gia. Nằm trong tầm kiểm soát và quản lí trên lãnh thổ
một nước, hoạt động của doanh nghiệp bị chi phối và điều tiết bởi nhiều yếu tố
trong đó không thể bỏ qua các yếu tố chính trị. Điều này cũng dễ hiểu như bạn là
công dân một nước thì bạn phải tuân thủ theo chế độ chính trị và pháp luật của nước
đó vậy. Cùng với các yếu tố khác, yếu tố chính trị tạo nên môi trường kinh doanh
cho doanh nghiệp. Đó là các lực lượng chính trị và pháp lí bao gồm hệ thống các
quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống pháp luật hiện hành, các
xu hướng ngoại giao của chính phủ, những diễn biến chính trị trong nước, trong khu
vực và trên toàn thế giới. Doanh nghiệp phải tuân thủ theo các quy định về thuê
mướn, thuế, cho vay, an toàn, vật giá, quảng cáo, nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi
trường…
Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh phụ thuộc
phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu các chính sách, các luật lệ của nước sở tại
được. Chính trị ổn định mang lại nhiều lợi nhuận cũng như giúp các doanh nghiệp
không những trong nước mà còn là nhà đầu tư nước ngoài yên tâm hơn với thị
trường kinh doanh mà mình đã chọn.
- Thái độ chính phủ của nước nhập khẩu thu hút đầu tư nước ngoài hay không. Nhiều
quốc gia không hạn chế mà khuyến khích nhập khẩu hàng hóa các quốc gia khác
bằng những ưu đãi về đầu tư như các chính sách giảm thuế hay lựa chọn địa điểm
đầu tư….Điều này không chỉ có lợi cho nước nhập khẩu mà có tác động tích cực
đến các nước tham gia đầu tư và kinh doanh quốc tế.
- Các hoạt động, chính sách khuyến khích kinh doanh của chính phủ:
• Diễn đàn doanh nghiệp tập trung khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia
vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Đây là cơ hội trỗi dậy của các doanh nghiệp tư
nhân trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng và các nhà đầu tư bất động sản
cũng như kiến trúc công trình…
• Khuyến khích tổ chức các diễn đàn doanh nghiệp, các cuộc thi nhà kinh
doanh trẻ, các giải thưởng xướng danh khích lệ doanh nhân Việt Nam
• Hỗ trợ vốn, cho vay với lãi suất ưu đãi.
• Khuyến khích kinh doanh trên các lĩnh vực có liên quan
10
Cụ thể là công ty Vinamilk: Nhà nước ta có những chính sách khuyến khích
chăn nuôi bò sữa đối với bộ phận sản xuất nông nghiệp. Điều này tạo nên tiềm lực,
cơ hội cho Vinamilk về nguồn nguyên liệu ngay trong nước, tiết kiệm được chi phí
giá nguyên liệu đầu vào, vận chuyển.
Các chính sách hoạt động của chính phủ trong việc chăm lo sức khỏe chống suy
dinh dưỡng khuyến khích người dân dùng sữa để cải thiện vóc dáng, trí tuệ, xương cốt cho
tất cả mọi người đặc biệt là trẻ nhỏ và người già. Các chiến dịch uống, phát sữa miễn phí
của các công ty sữa tất cả góp phần tạo nên một thị trường tiềm năng cho ngành sữa Việt
Nam.
Tiêu cực:
- Sự xuất hiện trở lại của nhiều loại giấy phép của các cơ quan quản lí làm giảm tác
động khuyến khích của Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư.
cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng.
Ngày nay, với nhu cầu vật chất dần được nâng cao và các nghiên cứu khoa học về
ích lợi của sữa, sữa trở thành một thức uống không thể thiếu trong khẩu phần của người
dân. Do đó Đảng và nhà nước vẫn dành những ưu tiên cho lĩnh vực này thông qua việc
thành lập các ban ngành hệ thống, ban hành các chính sách văn bản hướng dẫn chỉ đạo
để hỗ trợ phát triển cho các doanh nghiệp. Đối với Vinamilk nói riêng, Nhà nước có những
biện pháp hỗ doanh nghiệp trong việc đảm bào nguồn cung ứng nguyên liệu đầu vào, cơ
sở hạ tầng, các chuyên gia, tín dụng, hỗ trợ thị trường, quảng bá hình ảnh thương hiệu
Vinamilk….
Pháp luật tác động đến doanh nghiệp theo hai hướng:
Tích cực: Tạo ra môi trường bình đẳng cho doanh nghiệp hoạt động ,bảo vệ
doanh nghiệp khi các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, có thể có ưu đãi với một số
loại hình doanh nghiệp nhất định
Có hiệu lực thực thi kể từ ngày 25/3/2011, Quyết định 1380/QĐ-BCT được ban
hành nhằm hướng dẫn cụ thể cho các cơ quan, đơn vị thực hiện việc hạn chế nhập khẩu
các mặt hàng trong nước đã sản xuất được, hoặc những mặt hàng chưa thiết yếu để thực
hiện Nghị quyết của Chính phủ là tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo
đảm an sinh xã hội, trong đó có sữa. Đây là thông tin khả quan cho hoạt động kinh doanh
sữa của Vinamilk đối với thị trường trong nước.
Tiêu cực: Hạn chế nhất định đối với các doanh nghiệp như la hạn chế về mặt
hàng , quy mô kinh doanh ,các loại thuế…
12
Khi kinh doanh sữa nước ta còn non trẻ, nội địa chỉ đáp ứng được 21,5% nhu cầu
sữa trong điều kiện công nghệ đất đai đủ để sản xuất 40%,bộ Tài chính lại hạ thuế nhập
khẩu sữa xuống từ 20% còn 10% thì điều này lại làm cho các doanh nghiệp lại ép giá
trong nước và đổ xô đi nhập khẩu, Vinamilk cũng bị xoáy vào khó khăn đó.
Luật pháp là thước đo điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp nói riêng, nó
được tổng hợp nên theo tư duy của các nhà làm luật dựa trên sự phù hợp với các
yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, do đó luật không bất biến mà luôn có
những điều chỉnh, bổ sung. Những thay đổi này có thể gây không ít khó khăn cho
Sự tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội thường có tính dài hạn và tinh tế
hơn các yếu tố khác, nhiều lúc khó nhận biết. Mặt khác phạm vi tác động của các
yếu tố văn hóa - xã hội thường rất rộng, nó xác định cách người ta sống, làm việc,
sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ. Môi trường văn hóa - xã hội rộng lớn và
đa dạng đòi hỏi các doanh nghiệp cần có sự phân tích toàn diện mà cụ thể. Trong
môi trường văn hóa, các nhân tố nổi lên giữ vai trò đặc biệt quan trọng là tập quán,
lối sống, tôn giáo. Các nhân tố này được coi là "hàng rào chắn" các hoạt động giao
dịch thương mại. Thị hiếu và tập quán của người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn đến
nhu cầu, vì ngay cả trong trường hợp hàng hóa thực sự có chất lượng tốt nhưng nếu
không được người tiêu dùng ưa chuộng thì cũng khó được họ chấp nhận. Chính thị
hiếu, tập quán người tiêu dùng mang đặc điểm riêng của từng vùng, từng dân tộc và
phản ánh yếu tố văn hóa, lịch sử, tôn giáo của từng địa phương, từng quốc gia.
Văn hóa là những gì được hình thành và tồn tại lâu đời điều phối hành vi
của con người. Vinamilk đã nhận thấy sức mua tiềm năng của thị trường Việt Nam
khi phân tích văn hóa của con người Việt Nam.
- Thói quen sử dụng đồ ngọt.
- Thông tin về ích lợi của sữa ngày càng thâm nhập vào đời sống mọi người
thông qua các kênh truyền thông như loa đài, báo chí, tivi, tranh ảnh, băng
rôn…làm thay đổi nhận thức từ “ăn no mặc ấm” thành “ăn ngon mặc đẹp”.
Đây là quá trình gây nên sự kích thích cho thị trường.
- Là người châu Á, sự tăng trưởng chiều cao là niềm mơ ước của mọi người
- Tâm lí sĩ diện, muốn thể hiện bản thân.
- Người Việt Nam chỉ dùng những sản phẩm có uy tín chất lượng mà mình
cảm thấy yên tâm, ít khi thay đổi.
- Tinh thần dân tộc khá cao, phẩm chất tiết kiệm.
14
- Thu nhập của đại bộ phận dân cư đang co xu hướng tăng lên trong tương
lai.
Nhà quản trị của Vinamilk đã thành công trong việc nhận thức được đặc điểm văn
hóa – xã hội của dân ta, đồng thời với nỗ lực xây dựng thương hiệu, công ty này đã dần
- Mặt khác, sự đổi mới đó sẽ làm tăng thêm chi phí vô hình, tăng nguy cơ tụt hậu của
nền kinh tế, của doanh nghiệp ở những nước nghèo và đang phát triển so với các
nước phát triển. Nguyên nhân: vốn không đủ mạnh, trình độ quản lí kém, tay nghề
người công nhân thấp do đó những doanh nghiệp này khó có thể tiếp thu những
khoa học kĩ thuật và công nghệ mới tiên tiến của thế giới.
4.2. Giải pháp
Đưa ra mức chiết khấu đặc biệt để “bán đổ, bán tháo” hàng hóa cũ trong kho. Một
số nhà kinh doanh có thể bán những công nghệ sản xuất cũ, lạc hậu cho những quốc gia
chậm phát triển, là nơi người tiêu dùng không có đủ khả năng mua những kiểu mẫu sản
phẩm mới, đắt tiền.
Đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. kết hợp với việc tiếp
thu khoa học kĩ thuật mới bằng các biện pháp và kinh nghiệm của những nước đi trước với
việc “đi tắt đón đầu” trong những lĩnh vực ngành nghề có thể, tích cực và chủ động hơn
trong quá trình hội nhập quốc tế.
Vinamilk đã đạt được một số thành tựu về khoa học, kĩ thuật. Hiện nay, có thể
khẳng định được rằng, lĩnh vực chế biến sữa Việt Nam nói chung và của Vinamilk nói
riêng đã đạt tới trình độ tiên tiến, hiện đại của thế giới cả về công nghệ lẫn trang thiết bị
qua một vài ví dụ sau đây:
- Đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất sữa bột sấy phun từ công nghệ “gõ” sang công
nghệ “thổi khí”;
- Công nghệ và thiết bị thu mua sữa tươi của nông dân, đảm bảo thu mua hết lượng
sữa bò, thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa trong nước;
- Công nghệ tiệt trùng nhanh nhiệt độ cao để sản xuất sữa tươi tiệt trùng;
- Đầu tư và đổi mới công nghệ sản xuất vỏ lon 2 mảnh;
- Đổi mới công nghệ chiết lon sữa bột, nhằm ổn định chất lượng sản phẩm, nâng
cao thời gian bảo quan và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Đầu tư đổi mới dây chuyền đồng bộ sản xuất sữa đậu nành;
- Đầu tư thiết bị mới hiện đại trong lĩnh vực đa dạng hoá bao bì sản phẩm;
- Đầu tư công nghệ thông tin và điều khiển tự động chương trình trong dây chuyền
công nghệ, nhằm kiểm soát chặt chẽ các thông số công nghệ để tạo ra sản phẩm luôn đạt
chúng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng môi trường tự nhiên. Các vấn đề ô nhiễm môi
trường, sản phẩm kém chất lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày
càng lớn đối với các nguồn lực có hạn khiến công chúng cũng như các nhà doanh nghiệp
phải thay đổi các quyết định và biện pháp hoạt động liên quan.
Đối với những sản phẩm là lương thực, thực phẩm thì các công ty đều phải rất cẩn
trọng trong việc bảo quản, đảm bảo vệ sinh an tòan thực phẩm theo tiêu chuẩn. Sữa tươi
là một trong những sản phẩm khó khăn nhất để bảo quản. Mặt khác, khí hậu nước ta có
17
sự khác nhau theo mùa cũng như theo vị trí địa lý nên đòi hỏi các nhà lãnh đạo công ty
Vinamilk phải có những chính sách bảo quản phù hợp với từng điều kiện khí hậu đó.
Khí hậu Việt Nam mang đặc điểm của khí hậu gió mùa, nóng ẩm. Tuy nhiên, có nơi
có khí hậu ôn đới như tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai; Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; có nơi thuộc khí
hậu lục địa như Lai Châu, Sơn La thích hợp trồng cỏ cho chất lượng cao.Mặc dù khí hậu
nóng ẩm nhưng nhìn chung các điều kiện tự nhiên khá thích hợp cho việc phát triển ngành
chăn nuôi bò lấy sữa đặc biệt là ở các tỉnh Tuyên Quang, Lâm Đồng, BaVì, Nghệ An, Sơn
La…
Công ty Vinamilk có chính sách giá thu mua sữa của Vinamilk theo chủ trương: thu
mua ở vùng có nhiều đồng cỏ, không đô thị hóa, có điều kiện chăn nuôi tốt nhưng phải
vận chuyển sữa đi xa thì giá thấp hơn. Đồng thời, Vinamilk luôn điều chỉnh giá mua sữa
theo mùa vụ và theo tình hình giá sữa thế giới.
Nhóm các yếu tố này tương đối ổn định hơn so với các nhóm khác nhưng
một khi có sự thay đổi bất lợi thì hậu quả của chúng là rất lớn. Các yếu tố thiên
nhiên là cái không thể tránh khỏi nhưng dự báo được. Một nhà quản trị không thể là
một nhà địa chất tài giỏi hay một nhà khí tượng tinh thông… nhưng đòi hỏi phải
biết những gì mà thiên nhiên ban tặng cho mình để tận dụng, những gì hiểm nguy
để phòng tránh.
6. Các nhóm áp lực xã hội:
Các nhóm áp lực xã hội bao gồm: lực lượng bảo vệ môi trường, tổ chức nghiệp
đoàn, dư luận xã hội-báo chí, hiệp hội người tiêu dùng, các tổ chức xã hội, thái độ của
cộng đồng dân cư nơi doanh nghiệp hoạt động. Ảnh hưởng của chúng ra sao?
cùng – lợi nhuận.
Các nhà quản trị là người quản trị tất cả các khâu trong hoạt động kinh doanh. Mỗi
khâu trong tiến trình quản trị đều phải được cân nhắc về những tác động của toàn bộ môi
trường. Một khi bỏ sót bất kì yếu tố nào đó, nếu nó có tác động tiêu cực thì làm hoạt động
kinh doanh mắc phải sai lầm, thậm chí gây nên khủng hoảng lớn cho doanh nghiệp, mặt
khác nếu nó mở ra một hướng đi thuận lợi thì chẳng phải doanh nghiệp đã tự đánh mất cơ
hội cho mình hay sao?
19
Muốn xác định được ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, cụ thể là môi trường
bên ngoài, công việc quản trị cần phải được cung cấp những thông tin đầy đủ và chuẩn xác
về môi trường hoạt động. Rõ ràng doanh nghiệp không thể nằm ngoài sự vận động của các
yếu tố môi trường, doanh nghiệp phải sống cùng với chúng vì vậy không cách nào hơn
doanh nghiệp phải biết hòa hợp với chúng.
Thông thường hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp phải đối mặt với những
tác động xấu của các yếu tố bên ngoài. Do đó tất yếu phải đưa ra câu trả lời rằng làm cách
nào để kiểm soát hay giảm thiểu các tác động đó. Có nhiều biện pháp được nghiên cứu và
đưa vào thực nghiệm như dùng đệm, san bằng, cấp hạn chế, hợp đồng, kết nạp, liên kết,
liên doanh, vận động hành lang, quảng cáo…Mỗi biện pháp có những đặt điểm riêng phù
hợp với từng hoàn cảnh kinh doanh khác nhau buộc doanh nghiệp phải có sự lựa chọn
đúng đắn để đạt hiệu quả cao nhất. Công tác quản trị kinh doanh thật không dễ dàng khi
phải đối mặt với cả một môi trường kinh doanh rộng lớn và phức tạp như vậy.
Danh mục các tài liệu tham khảo
1. Võ Văn hiển – Quản trị học - NXB Tp.HCM – Năm 2006
2.
3.20