509 Nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần tại TP.HCM trong thời kì hội nhập - Pdf 23

Trang 1

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHTMCP & CƠ SỞ
LÝ LUẬN CỦA CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG

1.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTMCP:
1.1.1. Bản chất của NHTMCP:
Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với họat động thường
xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu và cung cấp các dịch vụ tài chính.
NHTMCP là ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện
các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Về bản chất, NHTMCP cũng là một loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, có
các đặc điểm giống như những doanh nghiệp khác như được thành lập và hoạt động
theo quy định của pháp luật nhưng do hàng hoá kinh doanh là loại hàng hoá đặc
biệt: tiền tệ, kim loại quý, giấy tờ có giá trị... có tính lưu chuyển cao và chịu sự
kiểm soát nghiêm ngặt của Nhà nước nên NHTMCP được xem là loại hình doanh
nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực kinh tế tổng hợp.
Xét về hoạt động kinh doanh, NHTMCP có một số đặc trưng là: (i) hàng hoá kinh
doanh là tiền tệ, là loại hàng hoá có tính xã hội hóa cao, dễ chuyển đổi thành các
loại hàng hoá khác; loại hàng hoá đặc biệt này được kiểm soát lưu hành với số
lượng có hạn; (ii) hoạt động của ngân hàng được đặt trên nền tảng của sự tín nhiệm
và hết sức mẫn cảm với những biến động của nền kinh tế; (iii) khách hàng có thể
vừa là nhà cung cấp đầu vào (gửi tiền) cho ngân hàng vừa là người sử dụng sản
phẩm (tín dụng, dịch vụ thanh toán, mua bán ngoại hối, giấy tờ có giá...) của ngân
hàng; (iv) thị trường kinh doanh có tính chất của thị trường cạnh tranh không hoàn
hảo; (v) kinh doanh ngân hàng luôn đòi hỏi phải tiếp cận ứng dụng các công nghệ,
kỹ thuật hiện đại nhằm tăng cường tính an toàn và tiện nghi cho khách hàng; (vi)
công nghệ ngân hàng là công nghệ đặc biệt: công nghệ biến đổi cơ cấu thời hạn của

thông tín dụng: séc, uỷ nhiệm chi/thu, thẻ thanh toán... tiết kiệm cho
khách hàng rất nhiều chi phí và thời gian.

Trang 3

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
• Cung cấp dịch vụ tài chính - ngân hàng và thực thi chính sách tiền tệ của
Nhà nước: trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân quỹ, ngân
hàng có điều kiện thuận lợi về kho quỹ và thông tin, quan hệ với khách
hàng nên có thể cung cấp thêm các dịch vụ như cấp chứng thư bảo lãnh,
thư tín dụng (L/C), tư vấn đầu tư, giữ hộ tài sản, phát hành chứng khoán,
trái khoán cho khách hàng... Với các hoạt động phát hành hoặc mua bán
chứng khoán, trái khoán cho khách hàng hoặc cho mình trên thị trường
tiền tệ thì NHTMCP đã tham gia vào việc thực thi các chính sách tiền tệ
của Nhà nước.
1.1.3.2. Vai trò của NHTMCP:
Vai trò của NHTMCP được xác định trên cơ sở các chức năng và các nhiệm vụ cụ
thể của nó trong từng giai đoạn. Bởi chức năng là tính vốn có của NHTMCP và vai
trò của nó chính là sự vận dụng các chức năng đó vào hoạt động thực tiễn. Do đó,
vai trò của NHTMCP thay đổi cùng với sự phát triển của nền KT-XH và phụ thuộc
vào các hoạt động chủ quan của các cơ quan quản lý. Vai trò của NHTMCP được
thể hiện ở hai mặt:
• Vai trò thực thi chính sách tiền tệ: vai trò này được hoạch định bởi
NHTW thông qua các công cụ: lãi suất, DTBB, tái chiết khấu, thị trường
mở, hạn mức tín dụng... làm cầu nối tác động chính sách tiền tệ đến khu
vực phi ngân hàng và đến nền kinh tế; đồng thời tiếp nhận các phản hồi
để chính phủ, NHTW có những chính sách điều tiết phù hợp với từng tình
hình cụ thể.
• Vai trò góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô: Điều tiết vĩ mô là chức
năng của NHTW nhằm phân bổ các nguồn lực phục vụ cho nhu cầu phát

có để được phép hoạt động. Vốn này được hình thành do sự góp vốn từ các pháp
nhân Nhà nước và tư nhân hoặc cá nhân trong và ngoài nước. Mức vốn điều lệ
nhiều hay ít tuỳ thuộc vào quy mô và phạm vi hoạt động của nó chủ yếu được dùng
để trang bị cơ sở vật chật, kỹ thuật, thành lập công ty con hoặc hùn vốn, liên doanh,
cho vay...

Trang 5

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
Các quỹ ngân hàng, bao gồm: (1) Quỹ được trích từ lợi nhuận ròng của ngân hàng:
quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ (5% LNR), quỹ dự trữ đặc biệt dùng bù đắp rủi ro
kinh doanh (10% LNR), quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng, quỹ khen thưởng, quỹ
phúc lợi; (2) Các Quỹ không hình thành từ lợi nhuận ngân hàng: Quỹ khấu hao cơ
bản TSCĐ, Quỹ khấu hao sửa chữa lớn và các quỹ khác theo quy định của pháp luật
tài chính.
Toàn bộ các nguồn vốn trên (vốn điều lệ, các loại quỹ) của ngân hàng gọi là vốn tự
có; đây là yếu tố tài chính quan trọng nhất. Nó vừa cho thấy quy mô của ngân hàng,
vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng.
Vì vậy, quy mô vốn tự có của ngân hàng là yếu tố quyết định quy mô huy động vốn
cũng như quy mô tài sản có.
♦ Nguồn vốn tiền gửi của khách hàng: Đây là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt
động NHTMCP; thường chiếm tỷ trọng trên 65% tổng nguồn vốn. Nguồn
vốn tiền gửi gồm: tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi định kỳ.
♦ Nguồn vốn đi vay: Nghiệp vụ này thường thực hiện theo thương vụ nhằm
đảm bảo an toàn thanh khoản trong một thời gian nhất định. Vốn đi vay
gồm có: (1) Vốn huy động từ việc phát hành các loại kỳ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ tiền gửi; (2) Vốn vay của NHNN khi NHNN nhận cho vay,
chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá hoặc qua nghiệp vụ hoán đổi có
kỳ hạn (SWAP) với NHTMCP; (3) Vốn vay của các NHNNg.
♦ Nguồn vốn tiếp nhận: Đây là nghiệp vụ tiếp nhận vốn từ NHNN cho các

diễn ra các quá trình trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế cạnh tranh với
nhau để xác định giá cả hàng hoá và sản lượng.
Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môi trường, động lực và quy luật
chi phối sự vận động của thị trường. Theo P.A Samuelson và W.Nordhaus, cơ chế
thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó, người tiêu dùng và nhà kinh
doanh tác động lẫn nhau để xác định 3 vấn đề: sản xuất cái gì? Như thế nào? Và cho
ai? Cơ chế thị trường không phải là sự hỗn hợp mà là một trật tự kinh tế.

Trang 7

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
Như vậy, nói đến thị trường và cơ chế thị trường là nói đến hàng hoá, giá cả hàng
hoá, người bán và người mua. Trong hệ thống thị trường, mỗi hàng hoá, mỗi loại
dịch vụ đều có giá cả của nó. Giá cả là phương tiện tín hiệu của xã hội, chỉ cho
người sản xuất biết cần phải sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho
ai? Sự biến động của giá cả làm cho trạng thái cân bằng cung - cầu thường xuyên
biến đổi và ngược lại.
Lợi nhuận là động lực chi phối mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy hệ thống
thị trường luôn phải dùng lỗ & lãi để quyết định 3 vấn đề trung tâm của hoạt động
kinh tế.
Một nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường là nền kinh tế thị trường.
1.2.1.2. Những quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường:
a/ Quy luật Giá trị: Theo kinh tế học Marxist, ở đâu có sản xuất hàng hoá thì ở đó
có hoạt động của quy luật giá trị. Yêu cầu của quy luật giá trị là sản xuất và trao đổi
hàng hoá phải trên cơ sở hao phí thời gian lao động xã hội cần thiết.
b/ Quy luật Cung - Cầu: là mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa cung với cầu
và việc hình thành giá cả.
¾ Cung là khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà các chủ doanh nghiệp mang
bán ra thị trường với giá cả nhất định. Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến
cung:

mà mỗi một hoạt động tuỳ theo lợi ích của từng phía làm cho độ thoả mãn của
người tiêu dùng và lợi nhuận của người sản xuất được tối đa hoá.
Thứ hai, những tác động này có trong một thị trường tự do mà giá cả độc lập như
người trung gian. Ở đây, người tiêu dùng và sản xuất được tự do lựa chọn, Nhà
nước không can thiệp vào. Sự tối đa hoá lợi ích của các bên không bị biến dạng.
Thứ ba, cạnh tranh là động lực cơ bản của tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
Cạnh tranh là để bảo đảm rằng, cái mà người tiêu dùng muốn có được sản xuất ra
một cách hiệu quả nhất.
Thứ tư, lợi nhuận đóng vai trò hợp nhất trong nền kinh tế thị trường.

Trang 9

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
Thư năm, khác với kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trong nền kinh tế thị trường, giá
cả của sản phẩm phụ thuộc vào cung và cầu sản phẩm đó trên thị trường; do đó, nó
thể hiện mục tiêu của người tiêu dùng và người sản xuất.
Thứ sáu, nền kinh tế năng động: Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch nhanh trên mọi
phương diện về thành phần kinh tế, ngành kinh doanh, quan hệ đầu tư, tiết kiệm,
tiêu dùng...trong và ngoài nước.
Thứ bảy, khả năng tích tụ và tập trung tư bản cao: Xu hướng sáp nhập, mua lại
giữa các công ty, tổ chức kinh doanh ngày càng tăng trên thế giới, đã và đang hình
thành nên những tập đoàn đa và xuyên quốc gia khống chế những ngành kinh doanh
nhất định làm các doanh nghiệp nhỏ hơn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về vốn,
kinh nghiệm sản xuất kinh doanh và sự đa dạng hoá để phân tán rủi ro..
Thứ tám, nền kinh tế không có ranh giới địa lý: Do phát triển của khoa học kỹ thuật
và nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận, ngày nay nền kinh tế thị trường hiện đại đang hướng
tới mục tiêu khu vực hoá và toàn cầu hoá nhằm khai thác tối đa các lợi thế của các
nền kinh tế để tối đa hoá lợi nhuận. Đặc biệt với sự phát triển của các thị trường
vốn, qua các hình thức chứng khoán mà các tập đoàn kinh tế trên thế giới đã “đặt
chân” của mình vào kiểm soát nhiều công ty ở nhiều quốc gia, nhiều lĩnh vực khác

chức năng chuyên môn hoá, phân công lao động, khai thác và tận dụng nguồn lực,
phân tán rủi ro được bổ sung và thay thế bằng hình thức kinh doanh các chỉ số giá
cả không được bảo chứng nên khi có sự lệch nhau giữa nền kinh tế thực và dự báo
thì khủng hỏang có thể sẽ xảy ra.
Thứ mười bốn, thông tin hóa đời sống kinh tế: Cùng với phát triển của lĩnh vực
truyền thông, khoảng cách giữa các quốc gia ngày càng được rút ngắn thông qua hệ
thống máy tính, viễn thông cung cấp những thông tin cập nhật, đa dạng cho mọi
người làm tính phổ biến của thông tin ngày càng tăng.
Thứ mười lăm, pháp luật hoá cơ chế thị trường: Các chính phủ ngày càng gặp nhiều
khó khăn trong việc hợp tác đưa ra những quy tắc chung cho kinh doanh toàn cầu
khi các tập đoàn kinh tế, tài chính đã đạt mức phức tạp chưa từng có trong lịch sử
về phạm vi kinh doanh, mức vốn...

Trang 11

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
1.2.2. Cạnh tranh là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại trong quá trình
cạnh tranh khi cung cấp được các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng với chi phí bỏ
ra thấp hơn thu nhập được thanh toán. Nói cách khác, để tồn tại và phát triển, các
doanh nghiệp phải nỗ lực đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng qua nhiều biện pháp
khác nhau như: nghiên cứu thị trường, cải tiến công nghệ nâng cao chất lưọng sản
phẩm, cải tiến phương thức bán hàng, phương thức tiếp thị, quản trị vốn, nhân lực...
một cách có hiệu quả nhằm giảm thiểu chi phí giá thành, tăng lợi nhuận và đáp ứng
tối đa nhu cầu của khách hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp là một cuộc đua
không dứt, không gián đoạn về thời gian và không có điểm đích cuối cùng.
Tóm lại, ở đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó tất yếu có cạnh tranh vì cạnh tranh
sẽ làm cho thị trường hoạt động có hiệu quả trong việc phân bổ hợp lý các nguồn
lực có hạn trên thị trường, làm cho thị trường sôi động, nhạy bén có hiệu quả.

vào sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng tối đa nhu cầu
khách hàng.
9 Góp phần vào việc cơ cấu kinh tế và phân bổ các nguồn lực trong xã
hội một cách hợp lý và hiệu quả.
 Nhược điểm:
9 Thiếu hoặc không thể kiểm soát, cạnh tranh thị trường sẽ làm cơ cấu
nền kinh tế hình thành một cách tự phát, không có lợi cho tăng trưởng.
9 Cạnh tranh thị trường thiếu sự kiểm soát của Nhà nước dễ dẫn đến
tình trạng phát triển tự do, được thị trường tự điều tiết có thể hình
thành nên môi trường cạnh tranh không bình đẳng giữa các thành viên
của thị trường.
1.2.4.2. Tác động của độc quyền đến hoạt động kinh tế:
 Ưu điểm:

Trang 13

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
9 Độc quyền tự nhiên là kết quả của quá trình tích tụ và tập trung tư bản
được sàng lọc qua quá trình cạnh tranh về công nghệ, chất lượng, giá
thành tạo nên những ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế có khả
năng trở thành những lợi thế của quốc gia trong điều kiện cạnh tranh
đang mở rộng theo xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá.
9 Độc quyền pháp định: đây là đặc thù của Nhà nước trong thời đại
ngày nay cần phải khống chế một số ngành quan trọng như dịch vụ
công cộng, công nghiệp quốc phòng... để bảo vệ quyền lợi của cộng
đồng trong xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia, ổn định về chính trị
xã hội của đất nước.
 Nhược điểm:
9 Độc quyền có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp khống chế sản lượng
để bán giá cao, hạn chế tiêu dùng, khủng hoảng giả tạo, gây sốt giá...

- Chính sách tiền tệ: hoạt động thị trường mở, chính sách lãi suất chiết
khấu; và tỷ lệ DTBB của các ngân hàng.
1.3. CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG:
Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng gắn liền với sự hình thành và
phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta và thực sự trở nên rõ nét từ khi hệ
thống ngân hàng VN chuyển sang hệ thống ngân hàng 2 cấp sau hai pháp lệnh
NHNN VN và Pháp lệnh ngân hàng, HTX tín dụng và công ty tài chính có hiệu lực
từ ngày 01/10/1990.
1.3.1. Điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng:
Hiến pháp 1992, Chương II – Chế độ kinh tế, Điều 28 quy định: “Mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân làm
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của
công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Nhà nước có chính sách bảo hộ
quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng”.

Trang 15

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
Như vậy, việc chống lại các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh bất hợp
pháp và bảo hộ người có quyền lợi hợp pháp đã được Nhà nước xác định là một
nguyên tắc Hiến định. Đồng thời, Bộ luật Dân sự và Hình sự VN đều có quy định
rõ các tội danh: Tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả; Tội kinh doanh trái phép; Tội
lừa khách hàng; Tội lưu hành sản phẩm kém chất lượng; Tội xâm phạm quyền tác
giả, quyền sáng chế, phát minh...
Trong khi ở các nước phát triển đã có Luật cạnh tranh từ khá lâu như: Anh (1948),
Mỹ (1890), Đức (1909).. Tính đến tháng 10/2001, VN chưa từng có một Bộ luật
quy định cụ thể về vấn đề cạnh tranh trong kinh doanh nói chung và kinh doanh
ngân hàng nói riêng mà luật này mới chỉ trong giai đoạn dự thảo lần 1 được Bộ
Thương mại phối hợp với UNDP và UNCTAD tổ chức hội thảo góp ý tại Hà Nội và
TP.HCM vào cuối tháng 5 đầu tháng 6/2001 vừa qua.

9 Mạng lưới phục vụ theo vùng kinh tế, địa bàn dân cư... (số lượng chi
nhánh, phòng giao dịch, đơn vị liên kết... phân bố về mặt địa lý).
9 Cơ sở vật chất, phòng ốc, trang thiết bị phục vụ khách hàng: mặt bằng
thoáng, rộng, an ninh, lịch sự, khang trang, sạch sẽ.
9 Quy trình nghiệp vụ đơn giản, nhanh gọn dễ tiếp cận, sử dụng.
9 Chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng (tốc độ xử lý và tính chính
xác).
9 Quan hệ giao tiếp, quan hệ cá nhân giữa khách hàng và cán bộ, nhân
viên ngân hàng phát triển tốt, trong sáng, văn minh, lịch sự... Ngân
hàng thấu hiểu và nỗ lực hết mình phục vụ yêu cầu của khách hàng.
• Uy tín và nổi tiếng: lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng phụ thuộc
vào các yếu tố như: lịch sử hình thành và phát triển, tính hiệu quả và ổn
định trong hoạt động; Năng lực tài chính (vốn tự có, vốn hoạt động...) Số
lượng khách hàng quan hệ giao dịch; Công tác phục vụ khách hàng, quan
hệ công chúng (public relation) tốt...
• Các hoạt động hỗ trợ, bổ sung khác: cung cấp tiện nghi, dịch vụ hỗ trợ
miễn phí; Các chương trình khuyến mãi phát triển dịch vụ, phát triển
khách hàng..

Trang 17

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
1.3.3. Một số tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Trong điều kiện kinh doanh ngân hàng ngày càng cạnh tranh gay gắt vượt khỏi
phạm vi quốc gia, lan rộng ra phạm vi khu vực và quốc tế đòi hỏi các ngân hàng
phải nhận thức rõ hơn tính hiệu quả và hiệu năng trong hoạt động của mình để cạnh
tranh thành công. Việc đánh giá khả năng cạnh tranh dựa vào phân tích các phương
diện sau:
 Hiệu quả hoạt động tài chính:
9 Phân tích tài sản Có: Cơ cấu tài sản Có; Tỷ trọng tài sản Có sinh lợi.

hối, Công ty vàng bạc đá quý, quỹ tiết kiệm bưu điện... sản xuất ra các sản phẩm
dịch vụ tương tự thay thế tạo sức ép cạnh tranh tăng lên trong kinh doanh dịch vụ
tài chính.
1.3.4.3. Tự do hóa tài chính:
Quá trình tự do hoá hiện đang là khuynh hướng chung của thế giới nhằm phục vụ
cho quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế làm cho các chính phủ ngày
càng mở rộng hoạt động của ngành cung cấp dịch vụ tài chính tự do hơn nữa nghĩa
là giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh tài chính.
1.3.4.4. Cổ phần hoá ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước:
Nhằm tăng cường tính cạnh tranh trong cung cấp các dịch vụ tài chính cho công
chúng cũng như ngân hàng hoá đời sống kinh tế, hiện nay nhiều quốc gia đang tiến
hành cổ phần hóa các ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước.
1.3.4.5. Gia tăng phí tổn huy động vốn:
Tự do hoá tài chính cũng đồng nghĩa với sự gia tăng cạnh tranh trong việc huy động
vốn tiền gửi – là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng nên hoạt động huy động vốn
sẽ ngày càng khó khăn hơn và càng gần hơn với lãi suất cho vay, đầu tư của các
ngân hàng làm cho các ngân hàng phải tìm cách tăng quy mô hoạt động nhằm
hưởng lợi thế kinh tế do quy mô.
1.3.4.6. Đổi mới công nghệ:

Trang 19

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
Xu hướng đổi mới công nghệ của các ngân hàng hiện nay đang là vấn đề quan trọng
và tốn chi phí không nhỏ để thay đổi hoạt động ngân hàng theo hướng tự động hoá
nhằm giảm chi phí nhân viên trong việc thu, chi tiền cho khách hàng.
1.3.4.7. Toàn cầu hoá kinh doanh ngân hàng:
Nhằm giảm rủi ro và tăng cường tính cạnh tranh của các ngân hàng cũng như gia
tăng lợi nhuận, cắt giảm chi phí, hiện nay các ngân hàng hàng đầu trên thế giới hiện
đang thực hiện quá trình sát nhập, mua lại không chỉ trong từng quốc gia mà còn

chuyển vốn ngắn hạn.
Hội nhập quốc tế với nguyên tác chung là tiến tới đối xử quốc gia, đối xử tối huệ
quốc và thực hiện các chính sách khuyến khích cạnh tranh. Cho phép các ngân hàng
con và các chi nhánh NHNNg tham gia với lộ trình phù hợp (đặc biệt là đối với dịch
vụ ngân hàng bán lẻ), đồng thời cho phép thực hiện sáp nhập và mua lại các ngân
hàng trong nước. Khuyến khích sử dụng các yêu cầu về vốn tối thiểu căn cứ theo
mức độ rủi ro là bằng với các yêu cầu về vốn quy định trong thỏa thuận Basel I.
Tăng cường năng lực thanh tra tại chổ và giám sát từ xa, phối hợp giữa các cơ quan
thanh tra. NHTW cần nghiên cứu tách biệt giữa trách nhiệm đối với chính sách tiền
tệ và thanh tra, giám sát khu vực ngân hàng.
Trì hõan để có thời gian cho các ngân hàng trong nước cải cách bằng cách hạn chế
sự tham gia của NHNNg là một chiến lược không phù hợp từ khi các cam kết về cải
cách là chắc chắn. Một khi đã cho phép NHNNg vào họat động thì việc hạn chế sự
tham gia trên cơ sở nguồn gốc quốc gia sẽ giảm áp lực cạnh tranh. Những hạn chế
làm tăng chi phí tương đối của các NHNNg trong quá trình tham gia thị trường có
thể tạo ra lợi thế cho các ngân hàng trong nước nhưng lại dẫn đến họat động kém
hiệu quả và mức độ cạnh tranh thấp trên thị trường.
Một hệ thống ngân hàng hiệu quả cần có mức độ cạnh tranh cao. Do vậy, sở hữu
Nhà nước chi phối trong các ngân hàng cần được nắm giữ ở mức phù hợp sao cho
không ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh của hệ thống ngân hàng, nếu các ngân
hàng có sở hữu Nhà nước chi phối thì các ngân hàng này cần phải có khả năng họat
động như một pháp nhân độc lập.
Khái quát về “Hoạt động kinh doanh NHTMCP và cơ sở lý luận của cạnh tranh
trong nền kinh tế thị trường” là cơ sở để nghiên cứu và đề ra các giải pháp nâng

Trang 21

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
cao năng lực cạnh tranh cho NHTMCP. Tuy nhiên để các giải pháp mang tính thực
tiễn, khả thi, thì việc xem xét, phân tích thực trạng hoạt động và năng lực cạnh tranh

mới mẻ và gặp không ít khó khăn.
Mở đầu từ TP.HCM cùng với việc xây dựng các ngân hàng chuyên doanh thì Nhà
nước đã thí điểm xây dựng NHTMCP, đầu tiên là NHTMCP Sài Gòn Công Thương
(1987) và kế tiếp là NHTMCP Xuất nhập khẩu (1988). Đó bước khởi đầu đổi mới
tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng trên địa bàn TP.HCM. Hình thành
mạng lưới ngân hàng thực hiện cơ chế hạch toán kinh doanh, tách khỏi hệ thống
NHNN (một cấp) tiếp cận dần với nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần.

Trang 23

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
Cũng trong thời kỳ này đã có sự bộc phát hình thành một hệ thống các HTX tín
dụng và các tổ chức doanh nghiệp huy động vốn kinh doanh khác, cùng hoạt động,
kinh doanh tiền tệ rộng khắp trên địa bàn TP.HCM với gần 200 cơ sở. Trong lúc
tiền Đồng VN đang ở thời kỳ lạm phát cao, trình độ quản lý kinh doanh yếu kém,
chưa có hành lang pháp lý và sự hoạt động của các tổ chức này đã vượt quá tầm
kiểm soát của Nhà nước. Chính vì vậy mà hệ thống này chỉ tồn tại trong một thời
gian ngắn, đến cuối năm 1989 và đầu năm 1990 đã bị đổ vỡ, tan rã để lại hậu quả rất
xấu về kinh tế xã hội, phải mất rất nhiều công sức, của cải vật chất để khắc phục
hậu quả này.
Đến tháng 05/1990, Pháp lệnh Ngân hàng, HTX tín dụng và Công ty tài chính ra đời
đã tạo hành lang pháp lý đầu tiên cho hoạt động kinh doanh ngân hàng, đánh dấu
một bước ngoặt mới trong tiến trình đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống
ngân hàng VN. Từ đó từng bước hình thành hệ thống ngân hàng 2 cấp, phân định rõ
chức năng quản lý của NHNN và chức năng kinh doanh tiền tệ của NHTM.
Trên cơ sở đó, ở địa bàn TP.HCM đã tích cực tổ chức triển khai thực hiện việc điều
chỉnh hoạt động của các NHTMNN và các NHTMCP. Thành lập các NHTMCP
trên cơ sở hợp nhất các HTX tín dụng và thành lập thêm một số NHTMCP mới.
Trong một thời gian ngắn tổ chức và sắp xếp lại hệ thống ngân hàng, các NHTMCP
hình thành và hoạt động cùng với các NHTMNN tạo điều kiện phát huy tính cạnh

giấy phép hoạt động để thanh lý giải thể hoặc phá sản theo đề án củng cố, sắp xếp
NHTMCP đã được chính phủ phê duyệt.
2.1.2. Tình hình họat động kinh doanh của các NHTMCP trên địa bàn
TP.HCM năm 2006
Sau hơn một thập niên hình thành và phát triển, hệ thống NHTMCP đã có những
đóng góp nhất định trong việc phát triển nền kinh tế. Với sự tham gia kinh doanh
của hệ thống NHTMCP theo chủ trương đa dạng hoá loại hình sở hữu kinh doanh
ngân hàng nhằm thu hút các nguồn vốn của các thành phần kinh tế trong và ngoài
nước để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, đáp ứng
cho quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước; đồng thời thực hiện việc tự
do hoá, tăng tính cạnh tranh trong hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính – ngân hàng
cho nền kinh tế. Tuy gặp nhiều khó khăn khi gia nhập ngành trong điều kiện chuyển

Trang 25

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời kỳ hội nhập
đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhưng hệ thống NHTMCP
cũng tạo nên những kết quả đáng kể như sau:
2.1.2.1. Hoạt động Tài sản Nợ (Nguồn vốn):
Trong cơ cấu nguồn vốn hoạt động của NHTMCP, số tuyệt đối của mỗi chỉ tiêu trên
tài sản Nợ đều tăng liên tục qua các năm nhưng tỷ trọng của chúng không biến động
nhiều. Trong đó, các nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn là: vốn huy động tiền gửi bình
quân qua các năm từ 2001-2006 khỏang 70%, Vốn và các quỹ khỏang 10%.
 Vốn tự có & các quỹ:
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn tự có, các NHTMCP đã tích cực kêu gọi
góp vốn cổ phần với mức vốn tăng mạnh vào mỗi năm. Trong đó dẫn đầu vẫn là
Sacombank. Trong năm 2006, các NHTMCP trên địa bàn đã thực hiện tăng vốn
theo đúng phương án tăng vốn đã được đại hội cổ đông thông qua. Kết thúc năm
2006, vốn điều lệ của các NHTMCP trên địa bàn đạt 13.033 tỷ đồng. Hiện nay -
năm 2007, đang có một số NHTMCP đang xin NHNN chấp thuận nguyên tắc cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status