Bổ trợ kiến thức ôn thi Ngữ văn lớp 9 vào 10 - Pdf 23

phong cách Hồ Chí Minh
(Lê Anh Trà)
I - Gợi ý
1. Xuất xứ:
Phong cách Hồ Chí Minh
là một phần bài viết "Phong cách Hồ Chí Minh, cái
vĩ đại gắn với cái giản dị" của tác giả Lê Anh Trà, trích trong cuốn sách "Hồ Chí
Minh và văn hoá Việt Nam", Viện Văn hoá xuất bản, Hà Nội, 1990.
2. Tác phẩm:
Mặc dù am tờng và ảnh hởng nền văn hoá nhiều nớc, nhiều vùng trên thế
giới nhng phong cách của Hồ Chí Minh vô cùng giản dị, điều đó đợc thể hiện
ngay trong đời sống sinh hoạt của Ngời: nơi ở chỉ là một ngôi nhà sàn nhỏ bé với
những đồ đạc mộc mạc, trang phục đơn sơ, ăn uống đạm bạc.
3. Tóm tắt:
Viết về phong cách Hồ Chí Minh, tác giả đa ra luận điểm then chốt: Phong
cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà giữa tính dân tộc và tính nhân loại,
truyền thống và hiện đại, giữa vĩ đại và giản dị.
Để làm sáng tỏ luận điểm này, tác giả đã vận dụng một hệ thống lập luận
chặt chẽ, với những dẫn chứng xác thực, giàu sức thuyết phục về quá trình hoạt
động cách mạng, khả năng sử dụng ngôn ngữ và sự giản dị, thanh cao trong cuộc
sống sinh hoạt hằng ngày của Bác.
II - Giá trị tác phẩm
Trong bài thơ
Ngời đi tìm hình của nớc
, Chế Lan Viên viết:
Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá
Đó là những câu thơ viết về Bác trong thời gian đầu của cuộc hành trình cứu
nớc gian khổ. Câu thơ vừa mang nghĩa tả thực vừa có ý khái quát sâu xa. Sự đối
lập giữa
một viên gạch hồng

Minh.
Ngay sau đó, tác giả lập luận: "Nhng điều kì lạ là tất cả những ảnh hởng quốc
tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hoá dân tộc không gì lay chuyển đợc ở Ngời,
để trở thành một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam,
rất phơng Đông, nhng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại ".
Đây có thể coi là lập luận quan trọng nhất trong bài nhằm làm sáng tỏ luận
điểm chính nói trên. Trong thực tế, các yếu tố "dân tộc" và "nhân loại", "truyền
thống" và "hiện đại" luôn có xu hớng loại trừ nhau. Yếu tố này trội lên sẽ lấn át yếu
tố kia. Sự kết hợp hài hoà của các yếu tố mang nhiều nét đối lập ấy trong một
phong cách quả là điều kì diệu, chỉ có thể thực hiện đợc bởi một yếu tố vợt lên trên
tất cả: đó là bản lĩnh, ý chí của một ngời chiến sĩ cộng sản, là tình cảm cách mạng đ-
ợc nung nấu bởi lòng yêu nớc, thơng dân vô bờ bến và tinh thần sẵn sàng quên
mình vì sự nghiệp chung. Hồ Chí Minh là ngời hội tụ đầy đủ những phẩm chất đó.
Để củng cố cho lập luận của mình, tác giả đa ra hàng loạt dẫn chứng. Những
chi tiết hết sức cụ thể, phổ biến: đó là ngôi nhà sàn, là chiếc áo trấn thủ, đôi dép
lốp đã từng đi vào thơ ca nh một huyền thoại, là cuộc sống sinh hoạt hằng ngày,
là tình cảm thắm thiết đối với đồng bào, nhất là với các em thiếu nhi cũng đã
trở thành huyền thoại trong lòng nhân dân Việt Nam. Với những dẫn chứng
sống động ấy, thủ pháp liệt kê đợc sử dụng ở đây không những không gây nhàm
chán, đơn điệu mà còn có tác dụng thuyết phục hơn hẳn những lời thuyết lí dài
dòng.
Trong phần cuối bài, tác giả đã khiến cho bài viết thêm sâu sắc bằng cách kết
nối giữa quá khứ với hiện tại. Từ nếp sống "giản dị và thanh đạm" của Bác, tác
giả liên hệ đến Nguyễn Trãi, đến Nguyễn Bỉnh Khiêm các vị "hiền triết" của
non sông đất Việt:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
2
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Đây cũng là một yếu tố trong hệ thống lập luận của tác giả. Dẫu các yếu tố so
sánh không thật tơng đồng (Bác là một chiến sĩ cách mạng, là Chủ tịch nớc trong

trình bày những ý kiến của tác
giả xung quanh hiểm hoạ hạt nhân, đồng thời kêu gọi thế giới nỗ lực hành động
để ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ về một thảm hoạ có thể huỷ diệt toàn bộ sự sống
trên trái đất.
3. Tóm tắt:
Đây là một bài văn nghị luận xã hội. Tác giả nêu ra hai luận điểm cơ bản có
liên quan mật thiết với nhau:
Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ cuộc sống trên trái đất.
3
Nhiệm vụ cấp bách của nhân loại là phải ngăn chặn nguy cơ đó, đồng thời
đấu tranh cho một thế giới hoà bình.
Để làm sáng tỏ hai luận điểm trên, tác giả đã đa ra một hệ thống lập luận chặt
chẽ, đặc biệt là những dẫn chứng rất cụ thể, xác thực, giàu sức thuyết phục.
II - Giá trị tác phẩm
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà trình độ khoa học kỹ thuật đang
phát triển với một tốc độ đáng kinh ngạc: những thành tựu của ngày hôm nay,
rất có thể chỉ ngày mai đã thành lạc hậu. Đã từng có những ý kiến bi quan cho
rằng: trong khi của cải xã hội tăng theo cấp số cộng thì dân số trái đất lại tăng
theo cấp số nhân, con ngời sẽ ngày càng đói khổ. Tuy nhiên, nhờ có sự phát triển
nh vũ bão của khoa học kĩ thuật, của cải xã hội ngày càng dồi dào hơn, số ngời
đói nghèo ngày càng giảm đi
Đó là những yếu tố tích cực trong sự phát triển của khoa học mà phần lớn
chúng ta đều nhận thấy. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển đó thì hầu nh rất ít
ngời có thể nhận thức đợc. Bài viết của nhà văn Gác-xi-a Mác-két đã gióng lên
một hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại trớc nguy cơ đang hiện hữu của một cuộc
chiến tranh hạt nhân thảm khốc có khả năng huỷ diệt toàn bộ sự sống trên hành
tinh xanh mà phơng tiện của cuộc chiến tranh ấy mỉa mai thay lại là hệ quả
của sự phát triển khoa học nh vũ bão kia.
Vấn đề đợc khơi gợi hết sức ấn tợng: "Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8
- 8 - 1986, hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân đã đợc bố trí khắp hành tinh. Nói nôm na

khoảng thời gian đủ để "bấm nút một cái" đã phơi bày toàn bộ tính chất phi lí
cũng nh sự nguy hiểm của chơng trình vũ khí hạt nhân mà các nớc giàu có đang
theo đuổi. Bằng cách ấy, rất có thể con ngời đang phủ nhận, thậm chí xoá bỏ toàn
bộ quá trình tiến hoá của tự nhiên và xã hội từ hàng trăm triệu năm qua. Đó
không chỉ là sự phê phán mà còn là sự kết tội.
Đó là toàn bộ luận điểm thứ nhất, chiếm đến hơn ba phần t dung lợng của bài
viết này. ở luận điểm thứ hai, thủ pháp tơng phản đã đợc vận dụng triệt để.
Ngay sau lời kết tội trên đây, tác giả kêu gọi:
"Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem lại tiếng nói của chúng
ta tham gia vào bản đồng ca của những ngời đòi hỏi một thế giới không có vũ
khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng. Nhng dù cho tai hoạ xảy ra thì sự có
mặt của chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích".
Đó không hẳn là một lời kêu gọi thống thiết và mạnh mẽ, tuy nhiên không vì
thế mà nó kém sức thuyết phục. Chính d âm của luận điểm thứ nhất đã tạo nên
hiệu quả cho luận điểm thứ hai này. Những lời kêu gọi của tác giả gần nh những
lời tâm sự nhng thấm thía tận đáy lòng. Cha hết, tác giả còn tởng tợng ra tấn
thảm kịch hạt nhân và đề nghị mở "một ngân hàng lu trữ trí nhớ". Lời đề nghị t-
ởng nh rất không thực ấy lại trở nên rất thực trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh
hạt nhân có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Trong luận điểm thứ hai này, tác giả hầu nh không sử dụng một dẫn chứng
hay một con số thống kê nào. Nhng cách dẫn dắt vấn đề, lời tâm sự tha thiết
mang âm điệu xót xa của tác giả đã tác động mạnh đến lơng tri nhân loại tiến bộ.
Tác giả không chỉ ra thế lực nào đã vận dụng những phát minh khoa học vào
mục đích xấu xa bởi đó dờng nh không phải là mục đích chính của bài viết này
nhng ông đã giúp nhân loại nhận thức đợc nguy cơ chiến tranh hạt nhân là hoàn
toàn có thực và ngăn chặn nguy cơ đó, đồng thời đấu tranh cho một thế giới hoà
bình sẽ là nhiệm vụ quan trọng nhất của nhân loại trong thế kỉ XXI.
tuyên bố thế giới về sự sống còn,
quyền đợc bảo vệ và phát triển của trẻ em
I - Gợi ý

Tuyên bố về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của
trẻ em.
Bài viết này đã trích dẫn những ý cơ bản nhất của bản
Tuyên bố
đó.
Ngay trong phần mở đầu, bản
Tuyên bố
đã khẳng định những đặc điểm cũng
nh những quyền lợi cơ bản của trẻ em. Từ đó, các tác giả bắt vào mạch chính với
những ý kiến hết sức cơ bản và lô gích.
Trong phần thứ nhất, tác giả nêu ra hàng loạt vấn đề có về thực trạng cũng
nh sự vi phạm nghiêm trọng quyền của trẻ em. Đó là sự bóc lột, đày đoạ một
cách tàn nhẫn, là cuộc sống khốn khổ của trẻ em ở các nớc nghèo. Trong hoàn
cảnh ấy, những con số thống kê rất có sức nặng ("Mỗi ngày, có hàng triệu trẻ em
phải chịu đựng những thảm hoạ của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, của nạn
đói, tình trạng vô gia c, dịch bệnh ; Mỗi ngày có tới 40000 trẻ em chết do suy
dinh dỡng và bệnh tật, "). Những con số
biết nói
ấy thực sự là lời cảnh báo đối
với nhân loại.
6
Với nội dung nh vậy nhng các tác giả lại đặt tên cho phần này là
Sự thách
thức
. Mới đọc, có cảm tởng giữa đề mục và nội dung không thật thống nhất. Tuy
nhiên, đó lại là yếu tố liên kết giữa các phần trong văn bản này. Tác giả đã sử
dụng phơng pháp "đòn bẩy": hiện thực càng đợc chỉ rõ bao nhiêu thì những vấn
đề đặt ra sau đó lại càng đợc quan tâm bấy nhiêu.
Trong phần tiếp theo, các tác giả trình bày những điều kiện thích hợp (hay
những cơ hội) cho những hoạt động vì quyền của trẻ em. Đó là những phơng tiện

Nguyễn Dữ (cha rõ năm sinh, năm mất), ngời huyện Trờng Tân, nay là huyện
Thanh Miện, tỉnh Hải Dơng. Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, là thời kì triều đình
nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh
giành quyền bính, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài. Ông học rộng, tài cao,
nhng chỉ làm quan có một năm rồi xin nghỉ.
2. Tác phẩm:
Tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ là
Truyền kì mạn lục
, gồm 20 truyện
viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thờng có lời bình
của tác giả, hoặc của một ngời cùng quan điểm với tác giả.
Chuyện ngời con gái Nam Xơng
thể hiện niềm cảm thơng của tác giả đối với
số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của của ngời phụ nữ
Việt Nam dới chế độ phong kiến.
Về mặt nội dung,
Truyền kì mạn lục
chứa đựng nội dung phản ánh hiện
thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm cũng đồng thời cho thấy những phức
tạp trong t tởng nhà văn.
Nguyễn Dữ phản ánh hiện thực xã hội thời đại mình qua thể truyền kì nên
tác giả thờng lấy xa để nói nay, lấy cái kì để nói cái thực. Đọc
Truyền kì mạn lục
nếu biết bóc tách ra cái vỏ kì ảo sẽ thấy cái cốt lõi hiện thực, phủi đi lớp sơng
khói thời gian xa cũ, sẽ thấy bộ mặt xã hội đơng thời. Đời sống xã hội dới ngòi
bút truyền kì của nhà văn hiện lên khá toàn diện cuộc sống ngời dân từ bộ máy
nhà nớc với quan tham lại nhũng đến những quan hệ với nền đạo đức đồi phong
bại tục.
Nếu khi phê phán, tố cáo hiện thực xã hội, Nguyễn Dữ chủ yếu đứng trên lập
trờng đạo đức thì khi phản ánh số phận con ngời, ông lại xuất phát tự lập trờng

ở nhà phụng dỡng mẹ già và nuôi con nhỏ. Để dỗ con, nàng thờng chỉ bóng
mình trên tờng và bảo đó là cha nó. Khi Trơng Sinh về thì con đã biết nói. Đứa bé
ngây thơ kể với Trơng Sinh về ngời đêm đêm vẫn đến nhà. Trơng Sinh sẵn có
tính ghen, mắng nhiếc và đuổi vợ đi. Phẫn uất, Vũ Thị Thiết chạy ra bến Hoàng
Giang tự vẫn. Khi hiểu ra nỗi oan của vợ thì đã muộn, Trơng Sinh lập đàn giải
oan cho nàng.
Cũng có thể tạm chia truyện thành hai phần, lấy mốc là việc Vũ Nơng nhảy
xuống sông tự tử:
- Đoạn 1 (từ đầu đến "và xin chịu khắp mọi ngời phỉ nhổ"): bị chồng nghi oan.
Vũ Nơng tự vẫn.
- Đoạn 2 (còn lại): nỗi oan đợc giải, Vũ Nơng đợc cứu sống nhng vẫn không
trở về đoàn tụ cùng gia đình.
II- Giá trị tác phẩm
Có lẽ ngời Việt Nam chúng ta ai cũng hiểu và biết cách sử dụng cụm từ "oan
Thị Kính" một nỗi oan khuất mà ngời bị oan không có cách gì để thanh minh.
Thị Kính chỉ đợc giải oan nhờ Đức Phật hay nói đúng hơn là nhờ tấm lòng bao
dung độ lợng, luôn hiểu thấu và sẵn sàng bênh vực cho những con ngời bé nhỏ,
thua thiệt, oan ức trong xã hội của những nghệ sĩ dân gian.
Ngời phụ nữ trong
Chuyện ngời con gái Nam Xơng
không có đợc cái may
mắn nh Thị Kính mặc dù nỗi oan của nàng cũng không kém gì, thậm chí kết cục
còn bi thảm hơn. Thị Kính đợc lên toà sen trong khi ngời phụ nữ này phải tìm
đến cái chết để chứng tỏ sự trong sạch của mình. Mặc dù vậy, nhân vật này vẫn
không đợc nhiều ngời biết đến, có lẽ bởi phơng thức kể. Ai cũng biết đến Thị
Kính vì câu chuyện về nàng đợc thể hiện qua một vở chèo một loại hình nghệ
thuật dân gian quen thuộc, đợc nhân dân a thích từ xa xa, trong khi
Ngời con gái
Nam Xơng
là một tác phẩm văn học viết thời trung đại (trong điều kiện xã hội

lí giải diễn biến câu chuyện, đồng thời giải đáp những thắc mắc của bạn đọc một
cách hợp lí. Tại sao Sinh không chịu nghe lời ngời vợ thanh minh? Tại sao Sinh
không nói cho vợ biết lí do mình tức giận nh thế? (Nếu Sinh nói ra thì ngay lập
tức câu chuyện sẽ sáng tỏ). Đó chính là hệ quả của tính đa nghi. Vì đa nghi nên
Sinh không thể tỉnh táo suy xét mọi việc. Cũng vì đa nghi nên lời nói (dù rất mơ
hồ) của một đứa bé cũng trở thành một bằng chứng "không thể chối cãi" rằng vợ
chàng đã ngoại tình khi chồng đi vắng. Sự vô lí đã trở nên hợp lí bởi sự kết hợp
giữa hoàn cảnh và tính cách nhân vật.
Không biết vì sao Sinh lại nghi oan nên ngời vợ không thể thanh minh. Để
chứng tỏ sự trong sạch của mình, nàng chỉ có mỗi cách duy nhất là tự vẫn. Vợ
Sinh chết mà mâu thuẫn kịch vẫn không đợc tháo gỡ, mối nghi ngờ trong lòng
Sinh vẫn còn nguyên đó.
Theo dõi mạch truyện từ đầu, bạn đọc tuy không một chút nghi ngờ phẩm
hạnh của ngời phụ nữ nhng cũng không lí giải nổi chuyện gì đã xảy ra và vì sao
đứa bé lại nói nh vậy. Đây cũng là một yếu tố chứng tỏ nghệ thuật kể chuyện của
tác giả. Thủ pháp "đầu cuối tơng ứng" đợc vận dụng. Đứa trẻ ngây thơ là nguyên
nhân dẫn đến bi kịch thì cũng chính nó trở thành nhân tố tháo gỡ mâu thuẫn
một cách tình cờ. Sau khi vợ mất, một đêm kia, đứa trẻ lại nói:
10
Cha Đản lại đến kia kìa!
Chàng hỏi đâu. Nó chỉ bóng chàng ở trên vách:
Đây này!
Mâu thuẫn đợc tháo gỡ cũng bất ngờ nh khi nó phát sinh. Đứa trẻ có biết đâu
rằng, nó đã gây ra một sự hiểu lầm khủng khiếp để rồi khi ngời chồng hiểu ra,
hối hận thì đã quá muộn. Ngay cả bạn đọc cũng phải sững sờ: sự thật giản đơn
đến thế mà cũng đủ đẩy một con ngời vào cảnh tuyệt vọng.
Ai là ngời có lỗi? Đứa trẻ đơng nhiên là không vì nó vẫn còn quá nhỏ, chỉ biết
thắc mắc vì những lời nói đùa của mẹ. Vợ Sinh cũng không có lỗi vì nàng biết
đâu rằng những lời nói đùa với con để vợi nỗi nhớ chồng lại gây ra hậu quả đến
thế! Có trách chăng là trách Trơng Sinh vì sự ghen tuông đến mất cả lí trí. Chi tiết

11
riªng vµ ngêi phô n÷ ViÖt Nam nãi chung.
12
chuyện cũ trong phủ chúa trịnh
(Trích
Vũ trung tuỳ bút
- Phạm Đình Hổ)
I- Gợi ý
1. Tác giả:
Tác giả của
Vũ trung tuỳ bút
là Phạm Đình Hổ (1768-1839), quê huyện Cẩm
Bình, tỉnh Hải Dơng. Ông sinh trong một gia đình khoa bảng, từng dạy học ở
nhiều nơi.
Những tác phẩm mà Phạm Đình Hổ để lại gồm nhiều loại, nhiều lĩnh vực, từ
biên soạn cho đến khảo cứu (triết học, lịch sử, địa lí ), sáng tác văn học. Riêng
sáng tác văn học có:
Vũ trung tuỳ bút, Tang thơng ngẫu lục
(viết chung với
Nguyễn án),
Đông dã học ngôn thi tập, Tùng cúc liên mai tứ hữu
, tất cả đều đợc
viết bằng chữ Hán.
2. Tác phẩm:
Tuy chỉ là một tác phẩm tuỳ bút với ý nghĩa là những ghi chép tản mạn nhng
Vũ trung tuỳ bút
lại có giá trị văn học lớn. Một mặt, tác phẩm phơi bày hiện thực
xã hội đen tối lúc bấy giờ đồng thời với nỗi thống khổ của nhân dân, mặt khác,
tác phẩm thể hiện tài năng của tác giả. Dù tác giả không chủ ý xoáy sâu vào một
vấn đề nào nhng qua những từ ngữ gợi tả, qua những lời bình luận tởng nh rất

những việc tởng nh đợc trình bày hết sức ngẫu hứng của tác giả, bạn đọc có thể
hiểu đợc phần nào cuộc sống xa hoa, lãng phí của đám quan quân phong kiến
thời bấy giờ, đồng thời cũng có thể cảm nhận đợc ít nhiều sự phẫn nộ của tác giả
trong hoàn cảnh ấy.
Một điểm rất đáng lu ý khi đọc bài văn này chính là giọng điệu của tác giả
một giọng điệu hầu nh khách quan, không thể hiện một chút cảm xúc, thái độ
nào. Khi cần gọi tên đám quan quân trong phủ chúa, từ chúa Trịnh Sâm, các
quan đại thần cho đến bọn hoạn quan trong cung giám, tác giả luôn tỏ thái độ
cung kính. Thủ pháp quen thuộc thờng đợc sử dụng là liệt kê, hết chúa đến
quan, từ quan lớn đến quan bé, từ sự việc này sang sự việc khác. Nếu không tinh
ý, thật khó có thể xác định đợc mục đích của tác giả khi viết đoạn này là gì.
Tuy nhiên, qua hàng loạt sự kiện tởng chừng đợc liệt kê một cách tuỳ hứng,
có thể phát hiện ra những chi tiết giúp chúng ta hiểu đợc nội dung t tởng của bài.
Phần đầu viết về các cuộc dạo chơi của chúa Trịnh. Tác giả không tả cụ thể,
cũng không đa ra một lời bình luận nào, nhng các chi tiết, các sự kiện cứ nh tự
biết nói. Chúng phô bày một cuộc sống phù phiếm, xa hoa với những cuộc dạo
chơi liên miên, rồi thì đình đài xây dựng hết cái này đến cái khác. Theo những
cuộc du ngoạn của chúa là đầy đủ các quan đại thần, binh lính, ngời phục dịch
Nh thế đủ thấy những sinh hoạt đó tốn kém đến mức nào.
Cớp bóc của cải là việc làm quen thuộc của quan quân thời bấy giờ. Nhân
dân ta từng có câu:
Con ơi nhớ lấy câu này
Cớp đêm là giặc, cớp ngày là quan.
Tác giả viết rất rõ: "Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc
quái thạch chậu hoa cây cảnh ở chốn nhân gian, Chúa đều sức thu lấy, không
thiếu một thứ gì". Thật là sự cớp bóc trắng trợn của một vị chúa. Bất cứ thứ gì
chúa muốn, kể cả cây đa to đến hàng mấy trăm ngời khiêng cũng đợc đa về
phủ Thật trớ trêu khi ngời đứng đầu triều đình lại không hề biết tiếc sức ngời
sức của, không biết chăm lo cho nớc, cho dân, chỉ biết cớp bóc, vơ vét để thoả
lòng tham không đáy.

nghĩa của tác giả, bạn đọc hiểu đợc rất nhiều điều về thực trạng xã hội phong
kiến lúc bấy giờ.
hoàng lê nhất thống chí
(Trích
Hồi thứ mời bốn
- Ngô gia văn phái)
I- Gợi ý
1. Tác giả:
Tác giả của
Hoàng Lê nhất thống chí
là Ngô gia văn phái, một tập thể tác giả
thuộc dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh
Hà Tây. Hai tác giả chính là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du.
- Ngô Thì Chí (1753-1788) là em ruột Ngô Thì Nhậm, từng làm quan dới thời
Lê Chiêu Thống. Ông tuyệt đối trung thành với nhà Lê, từng chạy theo Lê Chiêu
Thống khi Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, dâng
Trung hng sách
bàn kế khôi phục nhà Lê. Sau đó ông đợc Lê Chiêu Thống cử đi
Lạng Sơn chiêu tập những kẻ lu vong, lập nghĩa binh chống Tây Sơn, nhng trên
15
đờng đi ông bị bệnh, mất tại huyện Gia Bình (Bắc Ninh). Nhiều tài liệu nói ông
viết bảy hồi đầu của tác phẩm.
- Ngô Thì Du (1772-1840) là anh em chú bác ruột với Ngô Thì Chí, học giỏi nh-
ng không đỗ đạt gì. Dới triều Tây Sơn, ông ẩn mình ở vùng Kim Bảng (Hà Nam).
Thời nhà Nguyễn, ông ra làm quan, đợc bổ Đốc học Hải Dơng, đến năm 1827 thì
về nghỉ. Ông là tác giả bảy hồi tiếp theo của Hoàng Lê nhất thống chí.
2. Tác phẩm:
Văn bản bài học đợc trích từ Hồi 14 tiểu thuyết chơng hồi của Ngô gia văn
phái tái hiện lại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh
của vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhng

Hoàng Lê nhất thống chí
là Ngô gia văn phái một nhóm tác giả rất
trung thành với nhà Lê. Nếu xét theo quan điểm phong kiến thì trong con mắt
của Ngô gia, vua Quang Trung là kẻ nghịch tặc. Thế nhng trong tác phẩm, hình
16
ảnh Quang Trung Nguyễn Huệ lại đợc miêu tả khá sắc nét với tài cầm quân
"bách chiến bách thắng", tính quyết đoán cùng nhiều phẩm chất tốt đẹp khác.
Điều đó một phần bởi triều đại nhà Lê khi đó đã quá suy yếu, mục nát, dù có là
bề tôi trung thành đến mấy thì các tác giả trong Ngô gia văn phái cũng khó có
thể phủ nhận. Mặt khác, có thể chính tài năng và đức độ của vua Quang Trung
đã khiến cho các tác giả này thay đổi quan điểm của mình, từ đó đã tái hiện lại
các sự kiện, nhân vật, một cách chân thực.
Các chi tiết, sự kiện trong phần đầu đoạn trích này cho thấy vua Quang
Trung là ngời rất mạnh mẽ, quyết đoán nhng không hề độc đoán, chuyên quyền.
Ông sẵn sàng lắng nghe và làm theo ý kiến của thuộc hạ, lên ngôi vua để giữ
lòng ngời rồi mới xuất quân ra Bắc. Ngay khi đến Nghệ An, ông lại cho vời một
ngời Cống sĩ đến để hỏi về việc đánh quân Thanh nh thế nào. Chi tiết này cho
thấy Quang Trung luôn quan tâm đến ý dân, lòng dân. Khi vị Cống sĩ nói: "Chúa
công đi ra chuyến này, không quá mời ngày, quân Thanh sẽ bị dẹp tan", ông
"mừng lắm", không chỉ vì ngời Cống sĩ nói đúng ý mình mà chủ yếu là vì chủ tr-
ơng của ông, quyết tâm của ông đã đợc nhân dân đồng tình ủng hộ. Bằng chứng
là ngay sau đó ông cho tuyển quân, "cha mấy lúc, đã đợc hơn một vạn quân tinh
nhuệ".
Cách ăn nói của vua Quang Trung cũng rất có sức thuyết phục, vừa khéo léo,
mềm mỏng vừa rất kiên quyết, hợp tình hợp lí. Khi nói với binh sĩ, ông đã cho họ
ngồi (một cử chỉ biểu lộ sự gần gũi mặc dù ông đã xng vơng), từng lời nói đều
giản dị, dễ hiểu. Sau khi lấy lịch sử từ các triều đại trớc ra để cho binh sĩ thấy nỗi
khổ của nhân dân dới ách thống trị ngoại bang, ông không quên tuyên bố sẽ
trừng phạt những kẻ phản bội, ăn ở hai lòng. Điều đó khiến cho binh sĩ thêm
đồng lòng, quyết tâm chống giặc.

Trong đoạn này, giọng điệu của các tác giả tỏ ra vô cùng hả hê, vui sớng. Khi
miêu tả tài "xuất quỷ nhập thần" của quân Tây Sơn, các tác giả viết: "Thật là: "T-
ớng ở trên trời xuống, quân chui dới đất lên" Ngợc lại, khi viết về Tôn Sĩ Nghị
thì: "Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, ngời không kịp mặc áo
giáp ". Đó không còn là giọng của một ngời ghi chép lại các sự kiện một cách
khách quan mà là giọng điệu sảng khoái của nhân dân, của dân tộc sau khi đã
khiến cho bọn xâm lợc ngoại bang, vốn trớc ngạo nghễ là thế, giờ đây phải rút
chạy nhục nhã.
Đoạn nói về vua tôi nhà Lê càng khẳng định thái độ của các tác giả khi viết
tác phẩm này. Mặc dù luôn đề cao t tởng trung nghĩa nhng trớc sự nhu nhợc, hèn
hạ của đám vua tôi nhà Lê, các tác giả vẫn thể hiện ít nhiều thái độ mỉa mai,
châm biếm. Số phận những kẻ phản dân, hại nớc cũng thảm hại chẳng kém gì
những kẻ cậy đông, đem quân đi xâm lợc nớc khác. Đó là số phận chung mà lịch
sử giành cho lũ bán nớc và lúc cớp nớc.
Cuộc đại phá quân Thanh xâm lợc là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu
tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Ngời làm nên kì tích ấy là Quang Trung
Nguyễn Huệ, vị "anh hùng áo vải" vừa có tài thao lợc vừa luôn hết lòng vì dân,
vì nớc.
Trang sử hào hùng ấy đã đợc ghi lại bởi Ngô gia văn phái nhóm tác giả đã
vợt qua những t tởng phong kiến cố hữu để tái hiện lại lịch sử một cách chân
thực.
chị em thuý kiều
(Trích
Truyện Kiều
- Nguyễn Du)
I - Gợi ý
1. Tác giả:
- Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Nh, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trởng trong một gia đình đại quí tộc,
18

lắng nghe đợc tâm hồn và nguyện vọng của quần chúng, nhà thơ đã ý thức đợc
những vấn đề trọng đại của cuộc đời và, với một nghệ thuật tuyệt vời, ông đã
làm cho những vấn đề trọng đại ấy trở thành bức thiết hơn, da diết hơn, ám ảnh
hơn trong tác phẩm của mình. Thơ Nguyễn Du dù viết bằng chữ Nôm hay chữ
Hán đều đạt đến trình độ điêu luyện. Riêng những tác phẩm viết bằng chữ Nôm
của ông, đặc biệt là
Truyện Kiều
là một cống hiến to lớn của nhà thơ đối với sự
phát triển của ngôn ngữ văn học dân tộc. Về phơng pháp sáng tác, qua
Truyện
Kiều,
chúng ta thấy Nguyễn Du đã phá vỡ rất nhiều nguyên tắc của mĩ học
truyền thống, những yếu tố ớc lệ tởng tợng của nghệ thuật phong kiến phơng
Đông để đi đến chủ nghĩa hiện thực. Nhng do những giới hạn về mặt lịch sử, cho
nên mặc dù Nguyễn Du là một thiên tài vẫn không thể phá vỡ đợc triệt để, vẫn
cha thể thực sự đến đợc với chủ nghĩa hiện thực. Cuối cùng, Nguyễn Du vẫn là
một nhà thơ dừng lại trớc ngỡng cửa của chủ nghĩa hiện thực. (Nguyễn Lộc -
Từ
điển văn học
, NXB Thế giới, 2005).
- Khi viết
Truyện Kiều
, Nguyễn Du đã mợn cốt truyện từ một cuốn tiểu
thuyết (
Kim Vân Kiều truyện
) của Thanh Tâm Tài Nhân, một nhà văn Trung
Quốc. Khi sáng tác, Nguyễn Du đã thay đổi, bổ sung nhiều yếu tố trong cốt
truyện cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Tác phẩm đợc viết lại bằng chữ Nôm, gồm 3524 câu, theo thể thơ lục bát
19

ngòi bút tài hoa, khả năng vận dụng khéo léo ngôn ngữ dân tộc kết hợp với các
điển tích, điển cố, có thể nói Nguyễn Du đã giúp bạn đọc hình dung đợc những
chuẩn mực về vẻ đẹp của ngời phụ nữ trong xã hội xa, đó cũng có thể coi là
chuẩn mực của cái đẹp trong của văn học trung đại.
Không chỉ miêu tả những hình mẫu, chân dung Thuý Kiều và Thuý Vân
trong tác phẩm còn thể hiện những dụng ý nghệ thuật sâu xa của tác giả. Mặc dù
"Mỗi ngời một vẻ, mời phân vẹn mời" nhng với mỗi nhân vật, sự miêu tả của
Nguyễn Du dờng nh đã dự báo những số phận khác nhau của hai chị em. Điều
đó vừa thể hiện bút pháp miêu tả nhân vật khá sắc sảo của Nguyễn Du nhng
đồng thời cũng cho thấy quan niệm "tài mệnh tơng đố" của ông.
II- Giá trị tác phẩm
Khi nói đến tác giả của
Truyện Kiều
, không chỉ nhân dân lao động mà tất cả
các nhà văn, nhà nghiên cứu đều thống nhất tên gọi: "Đại thi hào dân tộc". Với
"con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ tới muôn đời" (Mộng Liên Đờng),
Nguyễn Du nổi tiếng trớc hết bởi cái tâm của một ngời luôn nghĩ đến nhân dân,
luôn bênh vực cho những cuộc đời, những số phận éo le, oan trái, đặc biệt là thân
phận ngời phụ nữ trong xã hội cũ. Mặt khác, những câu thơ của Nguyễn Du sở dĩ
có thể khắc sâu trong lòng nhân dân nh vậy còn bởi trong
Truyện Kiều,
ông đã
20
bộc lộ sự tài hoa, sắc sảo trong việc miêu tả nhân vật, trong việc khắc hoạ những
nét tâm lí nhất quán đến từng chi tiết Trong phần mở đầu tác phẩm, đoạn miêu
tả hai chị em Thuý Kiều, Thuý Vân có thể coi là một ví dụ tiêu biểu.
Trong những câu miêu tả khái quát, vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều đã có thể
xếp vào hàng "tuyệt thế giai nhân":
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi ngời một vẻ, mời phân vẹn mời.

Rõ ràng là Thuý Vân rất đẹp, một vẻ đẹp khá sắc nét nhng vẫn hồn hậu, thuỳ
mị. Giả sử đợc ngắm một ngời con gái nh vậy, ngời ta thờng nghĩ đến hạnh
21
phúc, đến một cuộc sống ấm áp, êm đềm.
Đọc đoạn miêu tả Thuý Vân, ta đã có thể thấy đợc cái tài, cái khéo của
Nguyễn Du trong việc sử dụng từ ngữ. Thế nhng việc miêu tả Thuý Vân mới chỉ
là bớc đệm để tác giả miêu tả Thuý Kiều. Một lần nữa, tác giả lại khiến bạn đọc
phải sửng sốt vì năng lực miêu tả của mình:
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Các giá trị thẩm mĩ tởng nh đã đợc đẩy lên đến tận cùng của các giới hạn nh-
ng rồi lại còn đợc đẩy lên cao thêm nữa:
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Hội hoạ cổ điển phơng Đông có những bút pháp khá độc đáo: "lấy điểm để
tả diện", "vẽ mây nẩy trăng", ý là khi muốn tả một ngời con gái đẹp, không cần
tả mọi đờng nét, chỉ chọn những nét tiêu biểu nhất, hay nh khi muốn tả một
vầng trăng sáng có thể không cần tả vầng trăng, chỉ cần tả đám mây xung
quanh mà ngời xem biết ngay đó là trăng rất sáng. Nguyễn Du đã tả Thuý Kiều
qua "Làn thu thuỷ, nét xuân sơn" những yếu tố nghệ thuật đầy tính ớc lệ, thật
khó hình dung nàng Kiều đẹp nh thế nào nhng ai cũng phải thừa nhận, tả nh
thế là tuyệt khéo. Lại thêm "Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh" không
cần nói nhan sắc của Kiều ra sao, chỉ cần nói hoa còn phải ghen, liễu còn phải
hờn với nhan sắc của Kiều thì tởng nh với nhan sắc ấy, không lời nào có thể
diễn tả nổi nữa.
Tuy nhiên, nếu đọc kĩ lại từng câu, từng lời, ta sẽ thấy dờng nh trong vẻ đẹp
của Kiều đã ẩn chứa những mầm tai hoạ. Nếu nh với vẻ đẹp của Thuý Vân, "Mây
thua nớc tóc, tuyết nhờng màu da", sự "thua" và "nhờng" còn rất hiền hoà thì với
vẻ đẹp của Thuý Kiều, hoa đã phải "ghen" (tức), liễu đã phải "hờn" (giận). Có thể
nói, vẻ đẹp của Thuý Vân tuy có phần trội hơn nhng cha tạo ra sự đố kị, trong

với ngời con gái này. Hãy nghe tiếng đàn của Kiều, đó không phải là những âm
thanh nhàn tản, thảnh thơi:
Khúc nhà tay lựa nên chơng
Một thiên "bạc mệnh" lại càng não nhân.
Có thể cho là Kiều chỉ vô tình, nhng bài nhạc mà nàng đã lựa chọn, đã thể
hiện nó trong tiếng đàn sầu não kia cho thấy rằng, đó là một ngời con gái rất đa
sầu đa cảm. Theo quan niệm từ xa xa, đây cũng là một yếu tố tạo nên số phận
đau khổ của con ngời. Những sự biến sau này của cuộc đời Kiều (gặp Đạm Tiên,
phải bán mình chuộc cha, gặp Thúc Sinh, gặp Từ Hải, ) đều chứng tỏ sự miêu tả
của Nguyễn Du về Thuý Kiều là hoàn toàn có ngụ ý.
Đoạn cuối nh lời vĩ thanh, Nguyễn Du để cho lời thơ buông trôi, nhấn mạnh
phẩm chất gia giáo của Thuý Kiều.
Đoạn miêu tả vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều, Nguyễn Du dành đến 24 câu thơ,
trong đó có bốn câu tả khái quát, bốn câu tả Thuý Vân, còn đến 16 câu chỉ để nói
về Thuý Kiều. Có thể chúng ta cha hiểu hết quan niệm về nhân sinh, nhất là về
ngời phụ nữ của ông, có thể còn nhiều vấn đề xung quanh t tởng "tài mệnh tơng
đố" cần tiếp tục xem xét nhng qua 24 câu thơ, Nguyễn Du không chỉ chứng tỏ
một tài năng bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ mà còn cho thấy những nét rất đặc
sắc trong nghệ thuật miêu tả con ngời.
23
cảnh ngày xuân
(Trích
Truyện Kiều
- Nguyễn Du)
I - Gợi ý
1. Tác giả:
(Xem bài
Chị em Thuý Kiều
).
2. Đoạn trích:

tả
đã đợc thay bằng thủ pháp
gợi.
Những tính từ
tà tà, thanh thanh,
nao nao, nho nhỏ
không chỉ gợi lên một không gian êm đềm mà còn thể hiện khá rõ
tâm trạng của chị em Thuý Kiều. Có cái gì mơ hồ nh là sự bâng khuâng, nuối tiếc.
Lòng ngời hoà trong cảnh vật, nh đang lắng lại cùng cảnh vật.
4. Qua đoạn thơ tả cảnh chị em Thuý Kiều đi du xuân trong tiết Thanh minh,
24
ta có thể thấy rất rõ nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du. Yếu tố quan
trọng trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên ấy là nghệ thuật sử dụng từ ngữ.
Bằng cách sử dụng hệ thống từ ghép, từ láy giàu chất tạo hình, giàu sức gợi tả
theo những mật độ khác nhau và phơng thức khác nhau, Nguyễn Du đã phác
hoạ những bức tranh phong cảnh vô cùng đặc sắc.
kiều ở lầu ngng bích
(Trích
Truyện Kiều
- Nguyễn Du)
I - Gợi ý
1. Tác giả:
(Xem bài
Chị em Thuý Kiều
).
2. Đoạn trích:
Đoạn trích nằm ở phần thứ hai trong
Truyện Kiều
(Gia biến và lu lạc). Gia
đình Kiều gặp cơn nguy biến. Do thằng bán tơ vu oan, cha và em Kiều bị bắt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status