ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10
NĂM HỌC 2014- 2015
MÔN: NGỮ VĂN
THỜI GIAN: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1: (3 điểm) Đọc đoạn thơ sau:
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
a/ Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Trình bày những hiểu biết của em về tác giả
và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
b/ Xác định biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ và nêu tác dụng ?
Câu 2: (5 điểm)
Từ việc theo dõi tin tức về tình hình biển Đông và những việc làm thiết thực của nhân
dân hướng về Trường Sa. Hãy viết bài văn ngắn nêu suy nghĩ của em về việc thể hiện lòng
yêu nước một cách đúng đắn.
Câu 3: (12 điểm)
Em hãy phân tích ba khổ cuối bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy để làm rõ nhận xét
sau:
“Vầng trăng ngời tỏ trên bầu trời kia gợi lại cả một thời trong quá khứ và đặc biệt làm cho
tâm hồn thi nhân bừng tỉnh và trở về với chính mình”
(Tư liệu Ngữ Văn 9, NXB Giáo Dục Việt Nam)
Thình lình đèn điện tắt Ngửa mặt lên nhìn mặt Trăng cứ tròn vành
vạnh
phòng buyn-đinh tối om có cái gì rưng rưng kể chi người vô
tình
vội bật tung cửa sổ như là đồng là bể ánh trăng im phăng
phắc
đột ngột vầng trăng tròn như là sông là rừng đủ cho ta giật mình
TP. Hồ Chí Minh, 1978 (Ngữ văn 9, tập 1)
phắc
đột ngột vầng trăng tròn như là sông là rừng đủ cho ta giật mình
TP. Hồ Chí Minh, 1978 (Ngữ văn 9, tập 1)
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu 1:
a/ - Đoạn thơ trích trong văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến
Duật (0,5đ)
- HS nêu được nhựng nét khái quát về tác giả, tác phẩm (1đ)
b/ - Biện pháp nghệ thuật: điệp ngữ, tương phản. đối lập giữa cái "không" và cái "có",
hoán dụ
- Tác dụng:+ Điệp ngữ "không có" nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách
khốc liệt.
+ biện pháp hoán dụ cho thấy Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc
rễ anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ, kết đọng ở "trái tim" gan góc, kiên cường,
chứa chan tình yêu nước này. Aån sau ý nghĩa câu thơ "chỉ cần trong xe có một trái
tim" là chân lý của thời đại chúng ta :sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là
vũ khí, công cụ mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng.
Câu 2: 1.Yêu cầu:
a.Về kĩ năng
- Nắm được phương pháp làm bài nghị luận xã hội.
- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
- Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận( giải thích, chứng minh, bình
luận…)
- Văn phong trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục. Không mắc lỗi
diễn đạt, chính tả, dùng từ, đặt câu, trình bày sạch đẹp.
b.Về kiến thức
Hs có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cơ bản đạt được những nội
dung sau:
- Dẫn lời của Bác:" Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước.Đó là một truyền
thống quý báu cùa ta. Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần
Câu 3 :
Đây là câu làm văn yêu cầu thí sinh phân tích ba khổ thơ cuối của bài thơ Ánh
Trăng để làm rõ một nhận xét được yêu cầu trong đề bài. Thí sinh cần phân tích ba khổ
thơ và làm rõ nhận xét của đề bài. Do nhận xét trong đề bài gắn chặt với đặc điểm nội
dung của ba khổ thơ, thí sinh có thể vừa phân tích vừa làm sáng tỏ nhận xét đó. Sau
đây là một dàn ý mang tính chất gợi ý :
Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Duy, nhà thơ quân đội, đã được giải nhất cuộc thi
thơ của báo Văn Nghệ 1972 – 1973, một gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời
chống Mĩ cứu nước.
Tập thơ Ánh Trăng của ông được tặng giải A của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1984.
Trong đó, có bài thơ mà tựa đề dùng làm nhan đề cho cả tập thơ : Ánh Trăng. Bài thơ
là một câu chuyện riêng nhưng có ý nghĩa triết lý như một lời tự nhắc nhỏ thấm thía
của nhà thơ đối với quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước và đồng
đội. Nội dung đó được nói lên một cách rất tập trung trong ba khổ thơ sau :
Thình lình đèn điện tắt Ngửa mặt lên nhìn mặt Trăng cứ tròn
vành vạnh
phòng buyn-đinh tối om có cái gì rưng rưng kể chi người vô tình
vội bật tung cửa sổ như là đồng là bể ánh trăng im phăng phắc
đột ngột vầng trăng tròn như là sông là rừng đủ cho ta giật mình
Đây là ba khổ thơ cuối cùng của bài thơ.
+ Khổ 1 miêu tả sự kiện, nêu lên hoàn cảnh xuất hiện bất ngờ của vầng trăng
tròn – hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên trong thời quá khứ khi nhân vật trữ tình
còn trong tuổi niên thiếu, khi trưởng thành và gia nhập bộ đội. Và đó là vầng trăng tri
kỷ và tình nghĩa. Nhưng do hoàn cảnh cuộc sống, từ hồi về thành phố quen ánh điện
cửa gương, vầng trăng đã rơi vào quên lãng. Trong hoàn cảnh đặc biệt, bất ngờ: đèn
điện tắt, phòng buyn-đinh tối om, nhân vật trữ tình đã bất ngờ nhìn thấy “đột ngột
vầng trăng tròn”. Lời thơ giản dị, cách ngắt nhịp quen thuộc nhưng gợi được xúc cảm
bất ngờ trong lòng nhân vật trữ tình khi nhìn thấy vầng trăng.
+ Khổ 2 vầng trăng trở thành một biểu tượng gợi lại quá khứ tình nghĩa giữa
con người và trăng, con người và thiên nhiên trong tư thế mặt người nhìn mặt trăng.