Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
*
NGUYỄN THỊ YÊN
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CƠ CHẤT HỮU CƠ ĐỂ
SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH CHO CÂY
CHÈ SHAN TẠI TỈNH YÊN BÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI – 2012
Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự
giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu
trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Thị Yên
Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
2.1.
Khái niệm 5
2.2.
Các yếu tố tham gia vào quá trình ủ compost 6
2.3.
Cơ sở lý, hóa học của quá trình ủ compost 8
2.4.
Điều khiển quá trình ủ compost 10
2.5.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng compost 12
2.6.
Những lợi ích và hạn chế của quá trình ủ compost 13
3.
Những nghiên cứu nƣớc ngoài về xử lý cơ chất hữu cơ 14
4.
Thời gian, địa điểm nghiên cứu 27
3.
Phƣơng pháp nghiên cứu 27
3.1. Các môi trường dùng trong nghiên cứu: 27
3.2. Các phương pháp nghiên cứu 28
CHƢƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
1.
Nghiên cứu tuyển chọn bộ chủng giống cho sản xuất chế phẩm vi sinh
phân giải cellulose …………………………………………………….34
1.1.
Tuyển chọn các chủng VSV có khả năng phân giải cellulose 34
1.2.
Tổ hợp các chủng vi sinh vật phân giải cellulose 36
1.3.
Một số đặc điểm sinh học của các chủng vi sinh vật tuyển chọn 38
1.4. Đánh giá độ an toàn sinh học của các chủng vi sinh vật tuyển chọn 39
Biến động nhiệt độ 46
3.2.
Sự thay đổi pH trong thùng ủ 47
3.3.
Biến động của quần thể VSV 49
Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3.4.
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trước và sau khi ủ 51
3.5.
Đặc điểm cảm quan của sản phẩm sau khi xử lý 54
3.6.
Đánh giá độ hoai mục và độ an toàn của sản phẩm sau ủ 54
4.
Nghiên cứu bổ sung dinh dƣỡng (đa, trung, vi lƣợng) để nâng cao chất
Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Ký hiệu
Diễn giải
1
HCVS
Hữu cơ vi sinh
2
PPP
Phế phụ phẩm
3
PTNT
Phát triển nông thôn
4
TCN
Tiêu chuẩn ngành
5
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
Bảng 1: Động thái nhiệt độ trong quá trình ủ compost với một số phế phụ
phẩm nông nghiệp, chế biến (
o
C) 9
Bảng 2: Mức độ phân giải tối đa của một số nguyên liệu compost 10
Bảng 3: Một số chỉ tiêu chất lượng của than bùn Phù Nham, Yên Bái 21
Bảng 4: Phân tích thành phần hóa học của PPP tại tỉnh Yên Bái năm 2011 22
Bảng 5: Thành phần hoá học của một số loại phân gia súc, gia cầm 24
Bảng 6: Các công thức thí nghiệm 32
Bảng 7: Khả năng phân giải cellulose của các chủng VSV tuyển chọn 34
Bảng 8: Tỷ lệ giảm khối lượng rơm trong bình ủ ở 37
0
C sau 7 ngày 36
Bảng 9: Khả năng tác động tương hỗ giữa các chủng VSV tuyển chọn 37
Bảng 10: Mật độ tế bào (CFU/g) và hoạt tính phân giải cellulose của các
chủng VSV trong chất mang 37
Bảng 11: Một số đặc điể ủa các chủng VSV tuyển chọn 38
Bảng 12: Tình trạng sức khoẻ của chuột trong thời gian thí nghiệm 39
Bảng 22: Biến động quần thể VSV trong thùng ủ compost 50
Bảng 23: Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong than bùn trước và sau ủ 51
Bảng 24: Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong rơm rạ trước và sau ủ 52
Bảng 25: Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong phân chuồng trước và sau ủ52
Bảng 26: Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thân, lá lạc trước và sau ủ 53
Bảng 27: Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thân, lá đậu tương trước và
sau ủ 53
Bảng 28: Tính chất cảm quan của sản phẩm sau ủ 54
Bảng 29: Khả năng sinh trưởng của hạt cải trên phân ủ compost sau 5 ngày 55
Bảng 30: Kết quả kiểm tra nhiệt độ trong các túi phân ủ 56
Bảng 31: Một số kết quả tổng hợp từ quá trình ủ compost 57
Bảng 32: Mật độ và hoạt tính sinh học của các chủng VSV hữu ích trước khi
nhiễm vào chất mang 58
Bảng 33: Mật độ và hoạt tính sinh học của các chủng VSV hữu ích trong phân
HCVS trên các nền chất mang khác nhau 59
Bảng 34: Mật độ tế bào và hoạt tính sinh học của các chủng VSV trong các
công thức phối trộn trên nền chất mang than bùn 60
Bảng 35: Mật độ tế bào và hoạt tính sinh học của các chủng VSV trong các
hết các hộ nông dân đã sử dụng các nguồn nguyên liệu khác như than, gas,
điện cho việc nấu nướng nên phần lớn lượng phế phụ phẩm nông nghiệp sau
khi thu hoạch được người nông dân đốt ngay trên đồng ruộng việc đốt lượng
phế phụ phẩm nông nghiẹp trên đồng ruộng đang dần hình thành một thói quen
xấu, không những gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái mà còn rất lãng
phí nguồn nguyên liệu có nguồn gốc thực vật này.
Sản xuất phân bón trong nước chỉ mới đáp ứng được 30% nhu cầu về phân
đạm, 65% nhu cầu phân lân của sản xuất nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu
phân bón từ nước ngoài, đặc biệt là phân kali phải nhập khẩu 100%. Trong giai
đoạn 2005-2010 dự tính hàng năm nhu cầu sản xuất cần 1.504.000 tấn N
Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
2
(3.269.000 tấn urê), 813.000 tấn P
2
O
5
(5.081.000 tấn phân lân), 598.000 tấn K
2
O
(997.000 tấn phân kali) [7]. Nếu hàng năm ta tận dụng mọi nguồn phụ phẩm để
giảm được 10-20% lượng phân khoáng, thì chúng ta đã tiết kiệm được
110.500.000-221.057.000 USD.
Trong phế phụ phẩm nông nghiệp, cellulose là thành phần hữu cơ chiếm tỷ
lệ cao và rất khó bị phân hủy bởi cấu trúc phức tạp của nó. Trên thế giới hiện
nay, người ta đã tiến hành xử lý phế phụ phẩm bằng một số phương pháp thủy
phân trong môi trường kiềm hoặc axit [1]. Tuy nhiên việc phân hủy cellulose
bằng phương pháp vật lý và hóa học rất phức tạp, tốn kém và gây độc hại cho
môi trường. Trong khi đó, việc xử lý các chất thải hữu cơ chứa cellulose bằng
công nghệ sinh học, đặc biệt sử dụng các enzyme cellulase ngoại bào từ vi sinh
nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu lựa chọn cơ chất hữ ản xuất phân hữu cơ vi sinh cho cây chè
Shan tại tỉnh Yên Bái”.
2. Mục đích và yêu cầu
- Lựa chọn được nguồn cơ chất hữu cơ thích hợ ản xuất phân hữu cơ
vi sinh cho cây chè Shan tại tỉnh Yên Bái
- Nguồn cơ chất hữu cơ lựa chọn được phải đảm bảo dễ kiếm, quy trình
xử lý dễ hiểu, dễ làm theo, sản phẩm sau xử lý đảm bảo các yêu cầu làm chất
mang cho sản xuất phân hữu cơ vi sinh.
3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tuyển chọn các chủng VSV phân giải cellulose để sản xuất
chế phẩm vi sinh.
- Xác định ảnh hưởng của các yếu tố môi trường (dinh dưỡng, nhiệt độ,
pH, oxy) đến sinh trưởng, phát triển và hoạt tính phân giải cellulose của các
chủng vi khuẩn tuyển chọn.
- Nghiên cứu xử lý nguyên liệu hữu cơ làm cơ chất hữ ản xuất phân
hữu cơ vi sinh (HCVS) cho cây chè Shan
- Nghiên cứu bổ sung dinh dưỡng (đa, trung, vi lượng) để nâng cao chất
lượng phân HCVS cho cây chè Shan.
Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
4
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Cở sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1. Cơ sở khoa học
Trong quá trình ủ compost, các phụ phẩm nông nghiệp, phế thải chăn nuôi
và than bùn thông qua quá trình phân giải sinh học được chuyển hoá thành các
chất hữu cơ tự nhiên đơn giản hơn.
Vi sinh vật không thể trực tiếp phân huỷ các hợp chất có cấu trúc đại phân
1
: Cellobiohydrolase
C
x
: Endoglucanase và Exo-glucanase
Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
5
Nguồn phụ phẩm nông nghiệp khi được dùng cho sản xuất phân HCVS sẽ
làm giảm ô nhiễm môi trường không khí do việc người dân đốt rơm rạ, giảm ô
nhiễm môi trường nước do việc vứt rơm rạ vào các nguồn nước, khe suối.
2. Tổng quan về quá trình ủ compost
2.1. Khái niệm
Ủ compost là phương pháp xử lý phế thải hoặc các chất dư thừa, mà ở đó
các chất hữu cơ thông qua quá trình phân huỷ sinh học được kiểm soát trở
thành các hợp chất đơn giản hơn có thể sử dụng như một nguồn hữu cơ cung
cấp cho đất và cây trồng.
Compost : là sản phẩm của quá trình chế biến Compost, đã được ổn định
như chất mùn, không chứa các mầm bệnh, không lôi kéo các côn trùng, có thể
được lưu trữ an toàn và có lợi cho sự phát triển của cây trồng.
Quá trình làm Compost có thể phân ra làm các giai đoạn khác nhau dựa
theo sự biến thiên nhiệt độ :
- Pha thích nghi : là giai đoạn cần thiết để vi sinh vật thích nghi với môi
trường mới.
- Pha tăng trưởng : đặc trưng bởi sự gia tăng nhiệt độ do quá trình phân
hủy sinh học đến ngưỡng nhiệt mesophilic.
- Pha ưa nhiệt : là giai đoạn nhiệt độ tăng cao nhất. Đây là giai đoạn ổn
định
hóa chất thải và tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh hiệu quả nhất.
- ành : là giai đoạn giảm nhiệt độ đến mức mesophilic và cuối
giải vi sinh vật gồm:
Nhóm vi khuẩn: Nhóm vi khuẩn là nhóm vi sinh vật được nghiên cứu
nhiều nhất từ khoảng thế kỷ 19 đến nay. Các nhà khoa học đã phân lập được
Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
7
một số chủng vi sinh vật có khả năng phân giải cellulose từ phân và dạ cỏ của
động vật nhai lại. Đầu thế kỷ 20, người ta phân lập được các nhóm vi khuẩn
hiếu khí phân giải cellulose. Trong môi trường có độ ẩm cao thường làm tăng
khả năng phân giải cellulose và hemicellulose của các nhóm vi khuẩn, nhưng
chủ yếu là các nhóm vi khuẩn hiếu khí. Một số nhóm vi khuẩn có khả năng
phân giải cellulose: Pseudomonas, Bacillus, Cellulomonas, Vibrio, Cellvibro,
Rumicocus falvefeciens, R. albus,…
Trong thực tế, người ta thấy chi Pseudomonas và Bacillus thuộc nhóm
hiếu khí là các chi có tần suất phân lập được cao nhất. Ngoài ra, còn có các chi
kị khí phân lập được trong dạ cỏ của động vật nhai lại như Rumicocus
falvefecien, R.albus.
Nhóm xạ khuẩn: Xạ khuẩn là một nhóm vi khuẩn đặc biệt, Gram dương,
hiếu khí, tế bào đặc trưng bởi sự phân nhánh, hệ sợi chia thành khuẩn ty cơ
chất và khuẩn ty khí sinh, bào tử bắn, thường có mặt quanh năm trong các loại
đất. Xạ khuẩn phân giải cellulose thường được phân lập từ các mẫu đất, mùn
rác, mẫu mùn, ở những nơi có chứa cellulose. Một số nhóm xạ khuẩn phân
giải cellulose: Actinomyces, Streptomyces, Thermoactinomyces,
Micromonospora, Proactinomyces.
Xạ khuẩn được ứng dụng phổ biến hiện nay là Streptomyces. Các xạ
khuẩn này thuộc nhóm ưa nóng sinh trưởng phát triển tốt ở nhiệt độ 45-50
0
C
rất thích hợp cho các quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ.
Nhóm nấm: Có nhiều loài nấm có khả năng phân giải cellulose mạnh
Quá trình ủ compost là quá trình chuyển hoá của các chất có nhiệt năng
cao thành các chất có nhiệt năng thấp, và như vậy luôn luôn gắn liền với việc
thải năng lượng ra môi trường. Do ủ compost là quá trình oxy hoá không hoàn
toàn nên nhiệt năng sinh ra trong quá trình này thấp hơn nhiều so với nhiệt
năng được tạo thành do đốt nguyên liệu. Nhiệt năng sinh ra trong quá trình ủ
compost có tác dụng làm bay hơi nước của khối ủ và làm tăng nhiệt độ môi
trường.
Kết quả nghiên cứu sự biến động nhịêt độ trong quá trình ủ compost từ
một số nguồn nguyên liệu được tập hợp trong bảng 1. Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
9
Bảng 1: Động thái nhiệt độ trong quá trình ủ compost với một số phế phụ
phẩm nông nghiệp, chế biến (
o
C)
Thời gian
Nguồn cơ chất
Bã bùn mía
Bã dong riềng
Phân gà
Phân trâu, bò
0 giờ
32,5
26,5
32,7
29,8
1 tuần
Nồng độ oxy; Tiềm năng phân giải của vi sinh vật;…
Khả năng có thể phân giải được của một số nguồn nguyên liệu compost
được tổng hợp trong bảng 2
Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
10 Bảng 2: Mức độ phân giải tối đa của một số nguyên liệu compost
Nguyên liệu
Độ phân giải tối đa (%)
Nguyên liệu tự nhiên:
- Xenlulo sau khi xử lý hoá chất
- Xenlulo sau khi xử lý cơ học
- Hemixenlulo
- Lignin
- Mỡ
- Protein
90
50
70
0
40-50
50
Cây trồng
- Cỏ
- Cây thân gỗ lá nhọn
- Cây thân gỗ lá to
60,7
độ khối ủ và làm khô nguyên liệu đồng thời tăng cường oxy c
1
gam nguyên liệu khô.
c. Nhiệt độ
Quá trình ủ compost luôn gắn với việc giải phóng năng lượng. Nhiệt độ
đống ủ tăng nhanh hay chậm phụ thuộc vào số lượng và chủng loại nguyên
liệu. Nhiệt độ phù hợp nhất cho quá trình ủ được nhiều nghiên cứu xác định
khoảng 55
o
C. Nhiệt độ tăng lên quá 60
o
C quần thể vi sinh vật trong đống ủ sẽ
giảm mạnh. Với nhiệt độ trên 70
o
C độ hoạt động của vi sinh vật sẽ giảm 10-
15% so với nhiệt độ 60
o
C. Ở nhiệt độ 75-82
o
C người ta không còn xác định
được hoạt động nào của vi sinh vật. Đối với nguyên liệu chứa nhiều xenlulo
nhiệt độ tối ưu được xác định là dưới 55
o
C.
d. Thành phần dinh dưỡng của nguyên liệu
Số liệu trong bảng 1 cho thấy hàm lượng đạm trong các nguồn nguyên liệu
rất khác nhau. Đảm bảo cho quá trình ủ xảy ra tốt nhất cần điều chỉnh tỉ lệ C/N
phù hợp cho nguồn nguyên liệu ủ. Tỷ lệ này được xác định khoảng 20:1 đến
30:1. Đối với nguyên liệu nguồn gốc từ gỗ tỷ lệ C/N có thể cao hơn khoảng
35:1 đến 40:1. Thông thường người ta bổ sung vào nguyên liệu ủ các chất hữu
Bacillus và Azotobacter
2.5. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng compost
Chất lượng Compost được đánh giá dựa trên 4 yếu tố sau:
- Mức độ lẫn tạp chất (thủy tinh, plastic, đá, kim loại nặng, chất thải hóa
học, thuốc trừ sâu …)
- Nồng độ các chất dinh dưỡng (dinh dưỡng đa lượng N, P, K; dinh
dưỡng trung lượng Ca, Mg, S; dinh dưỡng vi lượng Fe, Zn, Cu, Mn, Mo, Co,
Bo …)
- Mật độ vi sinh vật gây bệnh (thấp ở mức không ảnh hưởng có hại tới cây
trồng).
- Độ ổn định (độ chín, hoai) và hàm lượng chất hữu cơ. Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
13
2.6. Những lợi ích và hạn chế của quá trình ủ compost
a. Lợi ích
Làm mất hoạt tính của vi sinh vật gây bệnh: Nhiệt của chất thải sinh ra từ
quá trình phân hủy sinh học có thể đạt khoảng 60
0
C, đủ để làm mất hoạt tính
của vi khuẩn gây bệnh, virus và trứng giun sán nếu như nhiệt độ này được duy
trì ít nhất một ngày. Các sản phẩm của quá trình chế biến Compost có thể thải
bỏ an toàn trên đất hoặc sử dụng làm chất bổ sung dinh dưỡng cho đất.
Thu hồi dinh dưỡng và cải tạo đất: Các chất dinh dưỡng (N, P, K) có trong
chất thải thường ở dạng hữu cơ phức tạp, cây trồng khó hấp thụ. Sau quá trình
làm phân Compost, các chất này được chuyển hóa thành các chất vô cơ như
NO
3
Tây Ban Nha và Thái Lan, rơm rạ và vỏ trấu thường được đem đốt. Các nước
Mỹ, Đức, Italia đã xử lý bằng cách chôn vùi chiếm 60-80% rác thải nông
nghiệp [1]. Nhiều nghiên cứu cho thấy vùi rơm rạ vào đất trồng lúa đã làm
năng suất lúa tăng 5-7% so với công thức đốt rơm rạ thành tro bón [11]. Thái
Lan và Indonesia là những quốc gia ở khu vực Đông Nam Á sớm nghiên cứu
đưa rơm rạ vào sản xuất điện (theo Báo điện tử thông tin thương mại Việt Nam
ngày 18/6/2008).
Bên cạnh việc sử dụng nguồn rác thải nông nghiệp để làm nhiên liệu (bao
gồm cả việc đốt trực tiếp lấy nhiệt, đốt lấy nhiệt để chạy các tuôcbin phát điện
hay để nuôi nấm mốc sản sinh etanol, sản xuất nhựa sinh học), để nuôi trồng
thủy sản (trộn vào cùng thức ăn nuôi cá), để làm các vật liệu của công nghiệp
sản xuất đồ gốm, sản xuất các vật liệu hấp phụ dùng trong xử lý nước thải, sản
xuất silic công nghiệp, đa số lượng rác thải còn lại bị đốt bỏ không sử dụng.
Xử lý các phế phụ phẩm nông nghiệp bằng biện pháp hóa học, sử dụng
ammonia (urê) đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu, ở Bangladesh (1981) và
các nước Đông Nam Á trong những năm gần đây. Phương pháp này có thể áp
dụng cho các nông trại nhỏ. Tuy nhiên sự ủng hộ từ nông dân đã không được
như mong đợi. Gần đây công nghệ này cũng đã được áp dụng ở Trung Quốc
[27].
Luận văn Thạc sỹ Sinh học Nguyễn Thị Yên
15
Trung Quốc là nước sản xuất gạo lớn và tạo ra 230 triệu tấn rơm/rạ mỗi
năm, gồm thân, lá sau khi thu hoạch. Rơm thường được sử dụng làm nguồn
thức ăn cho gia súc, sưởi ấm nhà ở, sản xuất giấy. Tuy nhiên, phần lớn trong số
rơm rạ lại bị tiêu hủy, gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. Các
chuyên gia nghiên cứu thuộc trường Đại học Công nghệ Hóa học Bắc Kinh
đang thử nghiệm phương pháp xử lý rơm bằng NaOH, mội loại dung dịch phổ
biến giống như một loại kiềm ăn da. Tác động của NaOH sẽ phá hủy một số
mắt xích trong hợp chất sinh học khó phá vỡ của rơm/rạ, cho phép hợp chất
đất ở các khu vực ôn đới bởi vì nhiệt độ và ẩm độ cao ở khu vực nhiệt đới sẽ
làm gia tăng quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ. Để giải quyết vấn đề này,
nông dân ở các khu vực nhiệt đới được khuyến cáo nên sử dụng bón phân hữu
cơ hoặc vùi các phụ phẩm nông nghiệp vào đất. Điều này không chỉ làm tăng
lượng hữu cơ trong đất mà còn đảm bảo ổn định năng suất và duy trì dinh
dưỡng đất trong một thời gian dài.
Qua 3 năm các tác giả nghiên cứu trên vùng trồng lúa ở Califonia (Mỹ) đã
cho thấy rằng hạt lúa lấy đi khoảng 45 kg K
2
O/ ha/ năm (1 vụ/ năm), trong khi
rơm rạ lấy đi khoảng gần 160 kg. Khi cả rơm rạ và hạt lúa được lấy đi khỏi
ruộng thì lượng kali mất đi khoảng 210kg K
2
O/ ha/ vụ. Với lượng lớn kali bị
lấy đi như thế này thì dù có bón liều lượng kali thật cao (ví dụ 150kg K
2
O/ ha)
thì cũng chưa bù đắp được cho cây lúa có một nền dinh dưỡng kali bền vững
để có thể đạt được năng suất cao ở các vụ sau. Vì vậy, nếu trả lại rơm rạ cho
ruộng lúa thì lượng bón kali hàng vụ có thể đủ để cân bằng dinh dưỡng kali
cho cây lúa. Ngoài ra nhiều nguyên tố dinh dưỡng khác cũng được trả lại đất
cùng rơm rạ, góp phần làm bền vững và cân bằng dinh dưỡng trong đất lúa
[13]
Hiện nay nguồn rác thải trong nông nghiệp thường được xử lý bằng
phương pháp sinh học, sử dụng công nghệ vi sinh có điều khiển, giảm đáng kể
sự ô nhiễm môi trường do nguồn rác thải này gây ra và đáp ứng nhu cầu về
phân bón hữu cơ vi sinh. Xử lý rác thải nông nghiệp bằng công nghệ lên men
vi sinh vật là nhờ vi sinh vật có sẵn trong rác thải và vi sinh vật thuần chủng bổ
sung trong quá trình xử lý mà rác thải phân hủy thành những phần nhỏ hơn,