tư tưởng nhân văn và đạo đức kito giáo với văn hóa việt nam - Pdf 23


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN

NGUYỄN ANH
THƯỜNG

TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN VÀ
ĐẠO ĐỨC KITÔ GIÁO VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM TP.HỒ CHÍ MINH –
2013

1

1.Tính cấp thiết của đề tài

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, việc nghiên cứu, học hỏi, tiếp thu, chọn lọc các giá trị văn hóa của nhân loại, trong
đó tư tưởng triết học tôn giáo được xem là vấn đề cấp thiết. Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của thời đại, nhưng nó cũng có tính
hai mặt: một mặt nó sẽ mang lại cơ hội phát triển kinh tế, khoa học công nghệ cho các quốc gia chậm phát triển; mặt khác, nó
cũng là thách thức lớn cho các quốc gia khi hội nhập về văn hóa.
Kitô giáo đã có mặt ở Việt Nam hơn 400 năm; đã có những ảnh hưởng nhất định đến văn hóa Việt Nam và đặc biệt ảnh

Việt, ngôn ngữ trau chuốt. Bản thứ tư là của Linh mục Joseph Nguyễn Thế Thuấn (thuộc Dòng Chúa Cứu thế, học trường Kinh
thánh Giêrusalem bốn năm, từ 1952-1956): Tân ước, nhà Sách Đức Mẹ ấn bản năm 1965; Kinh thánh (Cựu ước và Tân ước)
xuất bản năm 1976; là bản dịch được giới học thuật đánh giá cao vì được dịch từ bản Kinh thánh Jerusalem (Bible de
Jerusalem); bản dịch này vừa có chú giải thuật ngữ khó hiểu, vừa có chỉ dẫn đối chiếu những nội dung tương đồng trong các
sách của Kinh thánh. Đặc biệt có các tiểu dẫn có giá trị nghiên cứu và tính khái quát rất cao trước khi vào nội dung cụ thể của
các phần hoặc các sách của Kinh thánh. Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá bản dịch này khá sát nghĩa với bản gốc, đồng thời chứa
đựng những kết quả nghiên cứu của các nhà thánh kinh học trường Jerusalem; tuy nhiên, ngôn ngữ của bản dịch hơi cổ, văn
phong không trau chuốt lắm, nhiều câu văn chưa được Việt hóa hoàn toàn…; người viết luận án, ngoài việc tra cứu các bản
Kinh thánh bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, cũng thường xuyên sử dụng, trích dẫn từ bản dịch này. Bản dịch thứ năm của Hồng Y
Joseph Maria Trịnh Văn Căn (1915 – 1990), dịch Kinh thánh dựa vào bản Bible de Jérusalem, có tham khảo tiếng Hipri,
Hylạp; bộ Tân ước xuất bản năm 1982, Toàn bộ Kinh thánh xuất bản năm 1985. Bản dịch này văn phong rất thuần Việt, tuy
nhiên nhiều nhà nghiên cứu không đánh giá cao vì không sát với bản gốc và thiếu chú giải. Bản thứ sáu là của Nhóm phụng vụ
giờ kinh, năm 1994 xuất bản Tân ước, năm 1998 xuất bản Kinh thánh Trọn bộ. Bản dịch này được nhiều người tham gia nhất
và đã được Tổng giám mục Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh phê chuẩn (Imprimur) nhưng hiện nay đang gây nhiều tranh
cãi cả về văn phong, cả về nội dung.

Trên lĩnh vực nghiên cứu về lịch sử - tôn giáo có một số công trình đã công bố như: Mười tôn giáo lớn trên thế giới
của Hoàng Tâm Xuyên (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Trong quyển sách này, tác giả đã trình bày khái quát
nguồn gốc và các đặc điểm cơ bản của nhiều tôn giáo phổ biến, như Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, … Riêng ở phần viết về
Kitô giáo, Hoàng Tâm Xuyên đã trình bày một cách khái lược về lịch sử ra đời, giáo lý, lễ nghi của Kitô giáo, chưa phân tích
gì đến nội dung của tư tưởng nhân văn và đạo đức Kito giáo; Tác phẩm Một số vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam của
Đỗ Quang Hưng, Tủ sách Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1991. Trong tài liệu này, tác giả trình bày về lịch sử quá trình du nhập và
phát triển của Kitô giáo qua các giai đoạn, đồng thời đánh giá về những hạn chế, những thăng trầm của Kitô giáo ở Việt Nam.
Đúng như tên của cuốn sách, nội dung chủ yếu bàn về những vấn đề mang tính sử học, cuốn sách cũng chưa phân tích vào
những nội dung và giá trị nhân văn và đạo đức Kito giáo; hay cuốn, Tôn giáo thế giới và Việt Nam của Mai Thanh Hải, Nxb.
Công an Nhân dân, Hà Nội, 2000, trong cuốn sách này, tác giả trình bày khái quát về quá trình ra đời, phát triển, giáo lý, lễ
nghi, cơ cấu tổ chức của các tôn giáo thế giới như Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo… và các tôn giáo bản địa của Việt Nam như
Cao Đài, Hòa Hảo…Về phần Kito giáo tác giả cũng chỉ trình bày những nét cơ bản của giáo lý chứ chua phân tích đánh giá về
tư tưởng luân lý đạo đức Kito giáo; hay cuốn Một số tôn giáo ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Thanh Xuân, Nxb. Tôn giáo, Hà
Nội 2005. Trong cuốn này, phần trình bày về Kito giáo, tác giả chỉ trình bày khái lược về lịch sử, về một số nội dung cơ bản về


Trên phương diên nghiên cứu về thần học thì có rất nhiều tác phẩm của các chức sắc Kito giáo, tuy nhiên vì nhiều lý
do, các tài liệu đó ít được xuất bản chính thức, nhìn chung các tài liệu thần học ấy đều trình bày các vấn đề dưới gốc độ của
người có niềm tin về nhập thể, nhập thế, cứu chuộc, về sự phục sinh… của Đức Jesus và các mầu nhiệm, các bí tích và luân lý
của Kito giáo. Các tài liệu đó cũng có đề cập đến các nội dung về tư tưởng nhân văn và đạo đức Kito giao nhưng dưới gốc nhìn
của thần học, của niềm tin, chứ không phân tích đánh giá dưới gốc độ của triết học, của lý trí. Gần đây có một số tài liệu của
các tác giả nước ngoài được dịch hoạc biên dịch và được một số nhà xuất bản ấn hành. Trong đó có những cuốn đáng chú ý
như: Tóm lược học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo. Đây là cuốn sách do Hội đồng Giám mục Việt Nam chịu trách
nhiệm biên dịch, được Nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành năm 2007. Mặc dù là bản tóm lược nhưng cũng khá đồ sộ, gần 700
trang, trình bày gần như hầu hết mọi vấn đề của con người và đời sống xã hội nhưng bao giờ cũng được nhìn nhận đánh giá
dưới cái nhìn của thần học, của niềm tin Kito giáo. Cuốn Thần học Cơ đốc, gồm hai tập, của tác giả Millard J.Erickson, một
nhà thần học nỗi tiếng của giáo hội Tin Lành, nguyên tác bằng tiếng Anh, được Viện Thần học Tin lành Việt Nam biên dịch và
Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2007, đây cũng là một tác phẩm đồ sộ, với dung lượng gần 1400 trang. Nội
dung của tác phẩm bàn đến gần như tất cả những nội dung của thần học Kito giáo: từ vấn đề sáng tạo, Thiên Chúa, mặc khải,
nguyên tổ, loài người, tội lỗi, tự do, cứu chuộc… cũng vậy, mọi vấn đề đều được xem xét dưới gốc độ của thần học và đức tin
Kito giáo.

Trên lĩnh vực lịch sử triết học cũng có một số cuốn đáng chú ý: cuốn Triết học trung cổ Tây Âu của Doãn Chính và
Đinh Ngọc Thạch, Nxb. Thanh niên, Tp. Hồ Chí Minh, 2003. Trong cuốn này, các tác giả đã trình bày cô động tư tưởng triết
học của Kitô giáo, đặc biệt tư tưởng của các giáo phu như Augustin, Tertulien, Justin,… và đánh giá về những tích cực và hạn
chế của hệ thống triết học này dưới gốc độ duy vật biện chứng, tuy nhiên cuốn sách cũng chưa trình bày và phân tích sâu về
nội dung của tư tưởng nhân văn và đạo đức Kito giáo. Gần đây có cuốn Tìm hiểu quan niệm đạo đức trong Kinh thánh của tác
giả Trương Như Vương được Nhà Xuất bản Tôn giáo ấn hành năm 2005. Sách được Giám mục Nguyễn Văn Sang, Giám mục
giáo phận Thái Bình, GS.TS Đỗ Quang Hưng, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo viết lời giới thiệu. Trong cuốn
sách này tác giả trình bày khá hệ thống lần lượt các nội dung chính như: vấn đề chung về Kinh thánh, những quan niệm về giá
trị đạo đức trong Kinh thánh, những quan niệm về chuẩn mực đạo đức yêu người, những chuẩn mực trong cuộc sống gia đình,
trách nhiệm đối với Tổ quốc và những lời răn dạy về quan hệ xã hội, đời sống tôn giáo… Cuốn sách đã chỉ ra được một trong
những nội dung tư tưởng rất cơ bản của Kinh thánh là đạo đức, để từ đó có thái độ trân trọng và phát huy. Trên phương diên
nào đó, cuốn sách đã trình bày được những nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Kito giáo trong Kinh thánh, tuy nhiên, nếu
nhìn nhận dưới gốc độ triết học thì chúng tôi cho rằng tác giả nghiêng về một số nội dung cụ thể của đạo đức, chứ chưa trình

chất nghiên cứu nhân chủng học trên quan điểm Kito giáo, đồng thời cũng trình bày các quan niệm của Kinh thánh, của các
giáo phụ và các nhà thần học Kitô giáo về nguồn gốc của con người, về vị trí và vai trò của con người trong vũ trụ, về bản tính
của con người, về linh hồn, về tự do và trách nhiệm của con người với Chúa. Cuốn sách này trình bày khá nhiều nội dung, tuy
nhiên chỉ sơ lược, không phân tích hay đánh giá gì nhiều. Một số tài liệu bằng tiếng Pháp như: cuốn Aux origines d’une Eglise,
Rome et les missionsd’Indochine au XVIIe siècle, của Henri Chappoulie (1943), tome I, Paris. Cuốn sách này trình bày về
nguồn gốc ra đời của Kito giáo, của giáo hội Công giáo và quá trình truyền giáo ở Đông dương dưới quan điểm thần học luận
giáo sử ; hay cuốn, Histoire de L’Église của tác giả Bréhier L, Éditions du Cerf, 1971. Cuốn sách này thuần túy trình bày về
lịch sử giáo hội Công giáo ; hay cuốn Aux Origines d’une Eglise, Rome et les Missions d’Indochine au XVIIè siècle, của tác giả
Chappoulie 1943, tome 1, Éditions du Cerf. Cuốn sách này cũng trình bày về lịch sử giáo hội Công giáo và quá trình truyền
giáo ở Đông Dương thế kỷ 17…
Nhìn chung, trong khả năng hiểu biết hạn hẹp, nghiên cứu sinh nhận thấy hầu hết các công trình trên có xu hướng hoặc


nghiên cứu về lịch sử, hoặc tiếp cận và giải quyết các vấn đề dưới gốc độ thần học của Kitô giáo, hoặc nghiên cứu về nhân
chủng học Kito giáo, hoặc nghiên cứu những hạn chế và đóng góp của Kitô giáo dưới gốc độ lịch sử triết học…
Mặc dù trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về Kitô giáo, tuy nhiên nghiên cứu sinh nhận thấy chưa
có công trình nào thật sự đi sâu vào tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo dưới gốc độ lịch sử triết học và sự ảnh hưởng của
tư tưởng đó trong văn hóa Việt Nam. Vì vậy, thiết nghĩ đây là đề tài mới, không trùng lắp với các công trình đã công bố.

3.Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là nghiên cứu làm rõ tư tưởng nhân văn, đạo đức Kitô giáo, những giá trị, hạn chế và sự ảnh
hưởng của tư tưởng đó trong nền văn hóa Việt Nam, từ đóp góp phần nhỏ vào việc hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính
sách và công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Với mục đích như vậy, luận án đặt ra những nhiệm vụ chính sau đây:
Một là, trình bày khái quát về quá trình ra đời, phát triển và phân phái của Kitô giáo, chứng minh các tiền đề hình thành
Kitô giáo, lý giải về quá trình phát triển và phân phái Kitô giáo, phân tích các đặc điểm của các phái Kitô giáo và khái lược về
kinh điển (Kinh thánh) Kitô giáo.
Hai là, trình bày, phân tích nội dung tư tưởng nhân văn và đạo đức của Kitô giáo, đồng thời xác định những tính chất cơ
bản của những tư tưởng đó.
Ba là, trình bày về quá trình du nhập của Kitô giáo vào Việt Nam, về những đóng góp và hạn chế của Kitô giáo trong
quá trình truyền giáo ở Việt Nam, xác định những ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo trong nền văn hóa

Luận án chứng minh được tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo ảnh hưởng đến đời sống văn hóa người Việt
Nam cả 3 phương diện: văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức.
8.Kết cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, phụ lục, chú thích và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương,
10 tiết: Chương 1. Trình bày về quá trình hình thành và phát triển của Kitô giáo. Chương 2. Trình bày về tư tưởng nhân văn và
đạo đức Kitô giáo. Chương 3. Trình bày quá trình du nhập và ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo trong nền
văn hóa Việt Nam.

Chương
1

KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KITÔ
GIÁO

1.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH KITÔ GIÁO
1.1.1.
Điều

kiện

lịch
sử,
kinh

tế

- chính


chiếm hữu nô lệ hùng mạnh nhất cũng có nghĩa là nhà nước có nhiều nô lệ nhất, và chế độ nô lệ ở đây cũng khắc nghiệt nhất.
Nô lệ là tầng lớp tận cùng của xã hội, bị coi như những súc vật biết nói. Người ta có thể mua bán nô lệ như mua bán súc vật.
Tầng lớp nô lệ bị áp bức dã man, bị bóc lột tàn khốc. Đây là nguyên nhân khiến họ liên kết để đấu tranh chống lại tầng lớp chủ
nô. Trong những cuộc nổi dậy của nô lệ thì khởi nghĩa do Spactacus
1
lãnh đạo vào những năm 73 – 71 trước Công nguyên đã
gây được tiếng vang rất lớn. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, cuộc khởi nghĩa này bị dìm trong biển
máu. Kết cục là anh hùng nô lệ Spactacus bị hành hình. Cuộc khởi nghĩa không thành nên mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ,
giữa giới quý tộc với giới bình dân càng gay gắt hơn. Những người nghèo khổ càng ngày càng cùng khổ hơn. Niềm hy vọng
được giải phóng khỏi áp bức bóc lột của họ đã hoàn toàn bị dập tắt.
Trong bối cảnh đó, Đức Jesus xuất hiện và rao giảng giáo lý công bằng, bình đẳng, bác ái, khoan dung, tha thứ; hứa hẹn
một nước trời hoan lạc và vĩnh cữu. Thế nên, sự xuất hiện của Jesus cùng những giáo lý mầu nhiệm trở nên dễ dàng được
nhiều người đón nhận. Cũng như có lời nhận định rằng: vì Spactacus thất bại nên Jesus đã thành công. Bởi lẽ, dẫu sao những
con người nghèo khổ, bị áp bức cũng tìm thấy ở đây sự an ủi, vỗ về; cùng những lời hứa hẹn được giải thoát dù chỉ là thuần túy
về mặt tinh thần.
1.1.2.

Tiền
đề về văn
hóa
- tư tưởng với sự hình
thành
Kitô giáo
Kitô giáo ra đời ngoài tiền đề về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thì văn hóa tư tưởng của Do Thái giáo, tư tưởng triết
học, văn học Hy Lạp cổ đại cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Tiền đề về tư tưởng và văn hóa Do Thái giáo: Nếu xét về lịch sử và văn hóa thì Kitô giáo là tôn giáo thoát thai từ Do Thái
giáo. Những tư tưởng và văn hóa trong Kinh thánh Do Thái giáo chính là những tiền đề cơ bản hình thành nên Kitô giáo.
Trong Do Thái giáo có một niềm tin sâu xa về Chúa Cứu thế mà tiếng Do Thái gọi là Messia, tiếng Hy Lạp dịch thành
Christos. Messia mà các tổ phụ, tiên tri Do Thái như Abraham, Moses, David, Salomon, Isaiah, Samuel, Eliah… đã tiên báo và
mỏi mòn mong đợi từ lâu. Người Do Thái, dù là Pharisee, Saduseo hay Asseni, đều mang trong mình sự trông đợi Ðấng Cứu

là một danh hiệu để chỉ “người được xức dầu”, theo Thiên Chúa giáo, nghĩa là một người được chọn bởi Thiên Chúa.
Có thể nói Đức Jesus vừa là một nhân vật lịch sử lại vừa là một nhân vật của niềm tin tôn giáo. Với tư cách là một nhân vật
lịch sử, có những chứng cứ chứng minh sự tồn tại của Đức Jesus, với tư cách là một nhân vật của niềm tin tôn giáo Đức Jesus
được Kinh thánh, giáo lý và rất nhiều các tác phẩm thần học chứng minh về chương trình cứu độ của Đức Jesus, từ những lời tiên
báo, đến giáng sinh, rồi cuộc đời rao giảng Tin mừng, chịu chết khổ nhục trên thập giá, phục sinh, lên trời…
Các sách Phúc âm viết rằng người La Mã buộc tội Chúa Jesus vì muốn xoa dịu sự bất bình của giới cầm quyền Do Thái.
Nhưng một số học giả cho rằng đó là cách đế chế La Mã trừng phạt những người chống đối họ.Tín đồ Kitô giáo tin rằng việc
1
Spartacus
sinh 109 tr.CN - 71 trước CN), theo các sử học gia, là một đấu sĩ nô lệ, người đã trở thành một trong các thủ lĩnh của cuộc nổi dậy không thành
công của các nô lệ chống lại Cộng hòa La Mã được biết là Chiến tranh nô lệ lần ba.
5Đức Jesus chịu chết là một sự tiền định, vì đúng như những lời tiên tri đã chép trong Kinh Cựu ước những thế kỷ trước về cái
chết và sự sỉ nhục mà Đức Jesus phải chịu.
1.2.2. Quá trình phát triển và phân phái của Kitô giáo
Sau cái chết của Đức Jesus trên thập tử giá, các tông đồ đã đi truyền bá giáo lý Kitô giáo ở Bắc Phi, Tiểu Á, Ả Rập, Hy
Lạp và La Mã, để thành lập những cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên. Tuy nhiên, đó cũng là thời kỳ chính thức chính quyền La Mã
đàn áp Giáo hội qua chín đời hoàng đế.
Constantine I ban hành Sắc lệnh Milano năm 313: Constantine có lẽ được biết đến nhiều nhất vì ông là hoàng đế La
Mã đầu tiên theo Kitô giáo. Triều đại của ông là một bước ngoặt lịch sử của Kitô giáo. Năm 313, Constantine công bố chấp
nhận Thiên Chúa giáo trong Sắc lệnh Milan, bãi bỏ sự trừng phạt đối với những người theo Kitô giáo và trả lại các tài sản của
Giáo hội đã bị tịch thu. Triều đại lâu dài của Constantine, sự chuyển đổi của ông, và sự bảo trợ Giáo hội của ông đã thiết lập lại
vị thế mới của Kitô giáo trong toàn đế chế La Mã. Constantine đã bảo trợ Giáo hội về mặt tài chính, xây dựng nhiều thánh
đường khác nhau.
Đầu thế kỷ X, các dòng tu phương Tây lan rộng khắp nơi, dẫn đầu là dòng Benedicto. Đầu thế kỷ XI, các trường dòng

Kitô giáo
Danh từ Kinh thánh được dịch ra từ chữ Latin biblia có nghĩa là quyển sách. Ngày xưa người ta dùng vỏ cây cắt ra thật
mỏng như tờ giấy (papyrus) để ghi chép các tài liệu. Loại giấy papyrus được sản xuất, rồi bán đi các nơi từ thành phố Biblios.
Thành phố này của người Phênixi, và là một hải cảng ở phía bắc nước Do Thái, gần Beyruth, Libăng ngày nay.
Tín đồ Kitô giáo tin rằng Ðức Chúa Trời đã dùng những người viết (được xem là tác giả thứ hai) để truyền đạt lời của
Chúa. Và họ đều tin rằng chính Chúa (tác giả thứ nhất) là tác giả của cả quyển Kinh thánh. Vì vậy, Kinh thánh còn được gọi là
lời của Đức Chúa Trời.
Kinh thánh không còn lại một nguyên bản nào mà chỉ tìm được các bản sao chép rất xưa mà thôi. Vậy nên các bản đó có
giá trị như nguyên bản, và đã được gìn giữ rất cẩn thận trong những viện bảo tàng. Nguyên bản rất cổ của phần thứ nhất Cựu ước
đã được viết khoảng thế kỷ 13 trước Công nguyên. Phần cuối cùng Tân ước được viết xong khoảng năm 100 sau Công nguyên.
Kinh thánh gồm có phần Cựu ước và Tân ước. Theo thần học Kitô giáo, nội dung Cựu ước nói lên giao ước giữa Ðức
Chúa Trời và dân Do Thái. Còn Tân ước nói về giao ước mới của Ðức Chúa Trời với loài người.
1.3.2. Khái quát về nội dung và đặc điểm Kinh thánh
Khái quát nội dung và đặc điểm Kinh thánh Cực ước. Cựu ước gồm 46 cuốn, được chia thành các loại: Ngũ kinh,
Lịch sử, Tiên tri và Văn chương.
Ngũ kinh (Torah), trình thuật về công cuộc sáng tạo vũ trụ, con người; trình thuật về nguồn gốc của dân tộc Israel; trình
thuật cuộc hành trình của dân Israel từ Ai Cập về đất Palestine, về những luật lệ của Do Thái giáo… Sách Lịch sử trình bày về
các triều đại của Israel và các cuộc lưu đày của dân tộc Do Thái. Sách Tiên tri trình bày về nội dung tư tưởng của các vị ngôn
sứ mà người Do Thái cũng như Kitô giáo tin đó là những ngôn sứ được Chúa sai đến để truyền đạt lời của Chúa cho dân Israel.
Sách Văn chương trình bày về những trước tác văn thơ tôn giáo, châm ngôn, khôn ngoan, giảng dạy về cách đối nhân xử thế,
về lẽ sống cuộc đời.
Khái quát nội dung và đặc điểm Kinh thánh Tân ước
Tân ước bao gồm 27 cuốn: 4 sách Phúc âm, 21 Thư của các thánh tông đồ, 1 sách Tông đồ công vụ và 1 sách Khải
huyền.

Sách Phúc âm trình thuật về cuộc đời của Chúa Jesus từ nguồi gốc gia phả, quá trình giảng dạy giáo lý với những phép

lạ, cuối cùng là cuộc tử nạn và phục sinh. Sách Công vụ tong đồ trình thuật về hoạt động truyền giáo của các môn đồ của Chúa
Jesus sau khi Chúa Jesus qua đời; có thể hiểu đó là sự trình thuật về lịch sử giáo hội Kitô giáo thời sơ khai. Sách Thánh thư, là
những bức thư của các Tông đồ thời giáo hội sơ khai gửi cho các giáo đoàn, cá nhân để thông tin, giải thích, truyền đạt giáo lý


Chương
2

NỘI DUNG TƯ TƯỞNG NHÂN
VĂN

VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA KITÔ
GIÁO

2.1
CƠ SỞ TRIẾT HỌC CỦA TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN VÀ ĐẠO ĐỨC KITÔ GIÁO
Một trong những nội dung sâu sắc và phong phú của Kitô giáo là tư tưởng nhân văn và đạo đức. Tư tưởng nhân văn và
đạo đức Kitô giáo hình thành dựa trên cơ sở triết lý, tư tưởng nhất định, đó là quan niệm của Kitô giáo về nguồn gốc của vũ trụ
và vạn vật. Có thể nói, về phương diện triết học nhân sinh quan Kitô giáo thống nhất với thế giới quan của Kitô giáo
2.1.1 Vũ trụ quan của Kitô giáo
Kitô giáo quan niêm Thượng đế sáng tạo nên vũ trụ và vạn vật, truyền tải sinh khí cho trụ. Trong kinh Tin kính có câu:
“Tôi tin rằng Thượng đế là Cha toàn năng, Ðấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình”
3
. Mỗi vật đều phản ánh một
phần sự khôn ngoan và tốt lành của Thượng đế, đều có mục đích nhất định, không vật nào có thể tự mãn, mà phải tùy thuộc lẫn
nhau, để bổ túc và phục vụ cho nhau, mỗi vật ở một cấp bậc khác nhau.
2.1.2. Nhân sinh quan Kitô giáo
Về nguồn gốc của con người, Kitô giáo cho rằng nguyên tổ của nhân loại là do Chúa dựng nên từ bùn đất, Chúa thổi
sinh khí vào cho con người được sống, Chúa truyền cho con người phải sinh sôi nảy nở để cai quản muôn vật muôn loài
(xem

St 1-2).
Theo Kitô giáo, con người có hai phần: thân xác và linh hồn. Yếu tố làm con người hiện hữu là bản tính gồm cả phần
hồn và phần xác. Thân xác không phải là thứ nô lệ của linh hồn và cho linh hồn, không phải là yếu tố hoàn toàn thụ động.

Theo Kitô giáo, bình đẳng về mặt luân lý nghĩa là: về nguyên tắc, mọi người trong xã hội đều bình đẳng về danh dự và
phẩm giá, đều xứng đáng được tôn trọng và quan tâm. Con người khác nhau trên phương diện thể lý, giới tính, về địa vị xã
hội,… nhưng được bình đẳng với nhau về mặt tinh thần. Nhu cầu được tôn trọng là một trong những nhu cầu cơ bản nhất của
con người.
Tự do và bình đẳng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Khi con người hiểu được mọi người đều có quyền tự do, giới
hạn của tự do, tự do đi với trách nhiệm và bổn phận với tha nhân, biết được tự do như một thuộc tính đặc trưng của con người 3
Kinh Tin Kính (tiếng Latinh: Symbolum Apostolorum hoặc Symbolum Apostolicum), được xem là một lời tuyên bố niềm tin Kitô giáo ngay
từ thời sơ khai. Kinh này được sử dụng rộng rãi trong các giáo phái Kitô giáo.
4
Hội đồng Giám mục Việt Nam, Học thuyết xã hội, số 251
7thì con người tôn trọng quyền của mỗi người, xem mọi người đều có quyền bình đẳng về mặt luân lý. Mỗi người có tự do
nhưng không được lạm dụng quyền tự do để làm phương hại đến người khác, ngược lại phải biết lấy tự do để tôn trọng và phục
vụ tha nhân.
2.2.3. Tư tưởng giải phóng con người
Tư tưởng nhân văn Kitô giáo cũng bàn đến vấn đề giải phóng con người như một trong những nội dung quan trọng
nhất. Cụ thể là tư tưởng giải phóng con người khỏi những ràng buộc của luật lệ và những quan niệm phi nhân tính. Trước khi
Kitô giáo ra đời, có giai đoạn xã hội Israel quan niệm lề luật được chép trong Cựu ước (Xh, 12) là chuẩn mực tuyệt đối mà con
người phải tuân thủ một cách trọn vẹn, không có bất cứ một lý do gì để thoái thác kể cả đau ốm, bệnh tật. Thế nhưng khi Đức
Jesus xuất hiện, Ngài đã khẳng định: lề luật phải vì con người, chứ không phải con người vì lề luật, ngày sabat được lập ra
cũng vì con người, con người làm chủ cả ngày sabat. Tư tưởng giải phóng con người khỏi những điều xấu xa tội lỗi. Kitô giáo
cho rằng, con người từ thủa mới được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, tốt lành, thánh thiện nhưng do nguyên tổ đã nghe
lời dụ dỗ của con rắn, bất tuân lệnh Chúa, phạm tội ăn trái cấm nên sự thánh thiện đó mất dần đi và loài người bị những thế lực
của tội lỗi xấu xa như ghen ghét, hận thù, tham lam, đố kỵ không chế. Đức Jesus xuống thế làm người chuộc lại lỗi lầm của
nguyên tổ, rao giảng giáo lý về niềm tin và tình yêu thương. Ai tin vào Chúa, yêu mến Chúa và tha nhân sẽ được giải phóng

Kitô giáo quan niệm công bằng là điều kiện sơ khởi và cần thiết của một xã hội nhân bản, không thể xây dựng một xã
hội phát triển, an hòa, nếu không tôn trọng các đòi hỏi căn bản của công bằng. Các nhà thần học Kitô giáo cho rằng, công bằng
có một đặc tính khẩn thiết hơn bác ái, vì thuật ngữ “công bằng” bao gồm một thực thể cưỡng bách nghiệm ngặt hơn. Xét theo
bản thể, công bằng là trả cho người khác những cái thuộc về họ, phục hồi những gì họ bị cưỡng đoạt. Nói cách khác, thực hiện
đức công bằng là chuyển giao cho tha nhân quyền hồi phục, quyền lấy lại những sự vật mà mình đang thừa hưởng.
Về tư tưởng bác ái, thuật ngữ bác ái trong tiếng Việt được phiên âm từ tiếng Hán (tình yêu thương đại đồng), dịch từ tiếng
Hy Lạp là agape, tiếng Latinh là caritas, trong tiếng Pháp là charité. Trong nhiều trường hợp, thuật ngữ caritas cũng được dịch là
đức yêu thương, tình yêu thương. Thuật ngữ bác ái có nội hàm rất phong phú, được xem là một trong những phạm trù nền tảng
của đạo đức Kitô giáo.
Bác ái Kitô giáo được hiểu là tình yêu thương chân thật, phổ biến, vượt trên tình cảm bình thường của con người, là
“tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả và chịu đựng tất cả” (1Cor 13, 7-8); “nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông,
không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không
mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật, không tính toán hơn
thua”
(1Cr, 13: 1-13).
Vấn đề quan hệ giữa công bằng và bác ái của Kitô giáo: có thể nhận thấy, tư tưởng về công bằng và bác ái trong Kitô
giáo có mối quan hệ biện chứng rất sâu sắc. Nếu bác ái mà không dựa trên công bằng thì đó là bác ái duy tín, duy cảm, không hiện
thực nhưng nếu công bằng mà không có bác ái sẽ là công bằng lạnh lùng, thiếu sinh khí, thiếu nhân văn trọn vẹn. Theo luân lý
Kitô giáo, mọi hoạt động bác ái phải đảm bảo tối thiểu sự công bằng, tuy nhiên người tín đồ phải cố gắng xa hơn yêu cầu tối thiểu
để có được tinh thần bác ái, yêu thương tha nhân như chính mình.
2.3.2. Tư tưởng khiêm nhường và nhẫn nhục của Kitô giáo
Về khái niệm khiêm nhường, theo nghĩa phổ thông khiêm nhường được hiểu là sự nhún nhường, khiêm tốn, nhường
nhịn, là hạ mình thấp hơn những gì tốt đẹp mà mình đang có. Theo Kitô giáo, khiêm nhường là nhân đức luân lý dùng để chỉ
việc chấp nhận sự thật về chính mình, biết trân trọng, tôn trọng người khác, biết loại bỏ hình ảnh hào nhoáng giả tạo mà chấp
nhận hình ảnh đích thực của mình; khiêm nhường là một nhân đức cao cả nhất chống lại “sự kiêu ngạo”. Theo truyền thống
Kinh thánh, khiêm nhường hệ tại vào sự tôn trọng trật tự do Chúa đã sắp đặt. Quyền định đoạt sự thiện và sự ác là của Chúa.
Khi con người muốn chiếm đoạt quyền đó, con người rơi vào kiêu ngạo, làm đảo lộn trật tự ban đầu. 5

chừng như là một. Thật ra, khoan dung và tha thứ là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ thống nhất với nhau. Xét
về mặt ngôn ngữ, khoan dung có thể được sử dụng như một tính từ (tinh thần khoan dung, tolerant spirit), hay như một danh từ
(sự khoan dung, tolerance); còn tha thứ là một động từ (tha thứ cho ai đó, forgive someone). Theo đó, “khoan” là độ lượng
rộng rãi, và “dung” là tiếp nhận, bao bọc. Vậy “khoan dung” nghĩa là rộng lượng bao dung.
Về tư tưởng khoan dung, Kitô giáo quan niệm, khoan dung là một nhân đức luân lý thể hiện trạng thái tâm hồn con
người mở rộng với tha nhân, sẵn sáng đón nhận những tư tưởng, hành động của tha nhân trái ngược với mình, là sự hiểu biết
và độ lượng với người khác, là sự chấp nhận người khác, tư tưởng khác, nền văn hóa khác, chủng tộc khác, tôn giáo khác và
không bắt người khác phải rập khuôn như mình. Lòng khoan dung sinh ra từ nỗi cảm thông, lòng trắc ẩn, sự hiểu biết và tin
vào điều tốt đẹp nơi tha nhân.
Còn tha thứ, theo Kitô giáo là một nhân đức luân lý cảm thức và bỏ qua lỗi lầm của người khác đã xúc phạm, làm tổn
hại đến tinh thần hay vật chất của mình. Có thể hiểu tha thứ là một trong những hành vi biểu hiện của đức khoan dung.
2.4.

TÍNH

CHẤT

CỦA



TƯỞNG NHÂN

VĂN



ĐẠO

ĐỨC

văn

đạo

đức

Kitô giáo

tính

phổ
biến
Nếu bỏ qua tính duy tâm và thần học trong cách lý giải về nguồn gốc và mục đích thì tư tưởng nhân văn và đạo đức
Kitô giáo thể hiện tính nhân loại phổ biến. Những tư tưởng như đề cao con người và vai trò con người trong vũ trụ, đề cao
quyền tư do, bình đẳng, công bằng, bác ái, khoan dung, tha thứ… là những tư tưởng mà nhân loại từ Tây sang Đông, từ cổ chí
kim và hầu hết con người ở bất cứ xã hội nào cũng trân trọng và hường đến như những lý tưởng cao đẹp của nhân loại. Hơn
nữa, tư tưởng nhân văn và đạo đức của Kitô giáo được trình bày trên đây cũng tương đồng với những tư tưởng nhân văn và đạo
đức của các học thuyết như: Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, Mặc gia

KẾT LUẬN CHƯƠNG
2
7
Thứ nhất khiêm nhường chớ kiêu ngạo, thứ hai rộng rãi chớ hà tiện, thư ba giư mình sạch sẽ chế mê dâm dục, hãy nhịn nhục chớ hờn giận,
thư năm kiêng bớt chớ mê ăn uống, thứ sáu yêu người chớ ghen ghét, thứ bảy siêng năng việc lành thiêng liêng chớ làm biếng.
9
truyền giáo là nhu cầu tự thân, là nghĩa vụ thực hiện mệnh lệnh của Kinh thánh rằng, “Hãy đi khắp thế gian và rao giảng Phúc
âm cho mọi
người”
(Mt, 28, 19). Vì vậy, khi các nhà khoa học, các nhà thám hiểm, các nhà phát kiến địa lý tìm ra được những
vùng đất mới, những dân tộc xa lạ thì đấy là nơi mà các nhà truyền giáo phải có nghĩa vụ đến để truyền giáo. Giáo hội có các
tổ chức (Bộ truyền giáo, các hội truyền giáo, các dòng truyền giáo), kinh phí, chiến lược để truyền giáo… Vì thế chuyện Kitô
giáo được truyền vào Việt Nam gần như là tất yếu, chỉ là vấn đề sớm hay muộn.
3.1.2. Các giai đoạn truyền giáo của Kitô giáo ở Việt Nam
Căn cứ chủ trương, phương hướng và chiến lược truyền giáo của Kitô giáo, có thể chia quá trình truyền giáo của Kitô
giáo ở Việt Nam thành hai giai đoạn: giai đoạn trước Công đồng Vatican II (trước năm 1965) và giai đoạn từ Công đồng
Vatican II đến nay.
Vậy, Kitô giáo đã du nhập vào Việt Nam hơn bốn trăm năm, chủ yếu là Công giáo, đầu thế kỷ XX phái Tin Lành mới
du nhập vào Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm, Kitô giáo cũng đã bám rễ khá sâu trong đời sống văn hóa Việt Nam
nói chung và trong một bộ phận người dân Việt Nam là tín đồ nói riêng.
3.2. Một số những đóng góp và hạn chế của Kitô giáo trong quá trình truyền giáo ở Việt Nam
Trong quá trình truyền giáo ở Việt Nam, Kitô giáo đã có những đóng góp đáng trân trọng trong nền văn hóa Việt Nam;
làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú hơn về hình thức và đa dạng hơn về sắc thái. Tuy nhiên, trong quá trình truyền giáo,
Kitô giáo cũng có những hạn chế, nếu không nói là những sai lầm đáng tiếc, làm tổn hại đến tình đoàn kết dân tộc, gây chia rẻ
lương, giáo và những tổn thương văn hóa khá lâu dài.
3.2.1. Một số những đóng góp của Kitô giáo trong quá trình truyền giáo ở Việt Nam
Kitô giáo là một trong những cầu nối văn hóa sớm nhất giữa phương Tây và Việt Nam. Tôn giáo nói chung được xem
như một thành tố văn hóa, “được coi là có chức năng truyền tải văn hoá (transculturel)”
8
. Trong bối cảnh nhất định, Kitô giáo
vừa là tác nhân văn hóa, vừa đóng vai trò là cầu nối văn hóa. Kitô giáo ra đời ở Palestine, thuộc Trung cận Đông, nhưng đã
sớm được truyền bá và phát triển mạnh ở châu Âu. Từ thế kỷ IV, Kitô giáo đã trở thành quốc giáo của đế chế Rôma rộng lớn.
Vì thế, Kitô giáo mang trong mình dấu ấn sâu sắc của nền văn minh phương Tây. Vì thế, khi truyền vào Việt Nam, như một lẽ
tất yếu, Kitô giáo đã chuyển tải được những thành tố của văn hóa, văn minh phương Tây đến văn hoá Việt Nam và ngược lại,
thông qua những nhà truyền giáo, Kitô giáo đã quảng bá văn hóa, đất nước và con người Việt Nam cho phương Tây nói riêng
và cho thế giới nói chung.


3.2.2. Những hạn chế của Kitô
giáo
trong quá trình hội nhập ở Việt Nam
Tự tôn và áp đặt trong quá trình truyền giáo ở Việt Nam:
Kitô giáo truyền vào Viện Nam, vì mang nặng tính thần học Phương Tây nên các nhà truyền đạo đã tuyệt đối hóa tư
tưởng giáo lý Kitô, từ đó phủ định tất cả những tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng khác. Trong lịch sử, đã có giai đoạn các nhà
truyền giáo xem giáo lý Kitô là chân lý, là con đường duy nhất để được giải thoát, để lên thiên đường. Chính sự tự tôn này đã
đưa đến những hành động cực đoan, thiếu nhân văn trong quá trình truyền giáo của các vị truyền giáo Kitô; gây nên ác cảm
cho nhiều người Việt Nam đối với Kitô giáo.
Sau Công đồng Vatican II, Giáo hội đã nhìn nhận lại vấn đề và có những sửa sai. Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng thừa
nhận về quá khứ truyền giáo ở Việt Nam có nhiều “bóng tối, tội lỗi”
9
Vì những vết thương văn hóa thường không dễ lành, nên
chúng ta cần nhiều thời gian và những động thái thiện chí để hàn gắn.
Tính bảo thủ và yêu sách trong quá trình hội nhập: Ngày nay, Kitô giáo đã có những thay đổi mềm dẻo và linh hoạt
hơn trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên, một số luận điểm Kitô giáo vẫn thể hiện ít nhiều tính bảo thủ. Với một số lễ nghi
trong đời sống sinh hoạt, Kitô giáo vẫn bộc lộ sự cứng nhắc trong một xã hội đang chuyển mình từng ngày. Chẳng hạn, về vấn
đề hôn nhân, để được xem là vợ chồng đúng giáo luật, hai người muốn kết hôn với nhau phải mất rất nhiều thời gian và nhiều
công đoạn, theo quy định của giáo lý công giáo. Cho dù người ngoài tín đồ có đồng ý theo đạo hay không cũng phải theo đúng
lễ nghi hôn phối Kitô giáo. Trong thực tế, nhiều đôi yêu nhau, một người Kitô giáo, một người ngoài Kitô giáo gặp nhiều khó
khăn về thủ tục, về những quy định của Giáo hội hơi khắt khe nên nhiều đôi không thể tiến tới hôn nhân.
3.3. Ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo trong văn hóa Việt Nam
Dưới những cách tiếp cận khác nhau có thể nhận thấy Kitô giáo ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam dưới những phương
diện khác nhau. Ở đây luận án trình bày tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam dưới ba khía
cạnh: văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức. Mặc dù phân chia thành ba khía cạnh văn hóa như thế để tiện bề tiếp
cận và trình bày, nhưng cũng chỉ có tính chất tương đối. Vì thực ra không thể phân chia một cách rạch ròi ba khía cạnh như thế
được, nhiều trường hợp chúng có tính liên hệ mật thiết khó tách rời; chẳng hạnh như, trong văn hóa ứng xử, văn hóa tổ chức đã có
văn hóa nhận thức, văn hóa nhận thức lại được nhận diện bởi văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức.
3.3.1. Tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo ảnh hưởng đến văn hóa nhận thức truyền thống Việt Nam

Cụ thể, trong mười giới răn có tới bảy giới răn khuyên răn con người từ trong suy nghĩ đến hành động không được làm điều
bất nhân, bất chính với tha nhân mà phải đối xử với tha nhân bằng tinh thần khoan dung và bác ái. Tình cảm đạo đức tôn giáo
được tín đồ tiếp thu, tạo thành đức tin thiêng liêng bên trong và chi phối hành vi ứng xử của họ trong các quan hệ cộng đồng.
Các tổ chức hoạt động hướng thiện của con người được tôn giáo hóa sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, nhiệt thành hơn. Do tuân thủ

9
Hội đồng giám mục Việt Nam, Thư chung, 1980.
11những điều răn dạy về đạo đức của tôn giáo, nhiều tín đồ đã sống và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội ngày
càng tốt đẹp hơn.
3.3.3. Tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo ảnh hưởng đến văn hóa tổ chức của người Việt Nam
Văn hóa tổ chức (organisational culture) được hiểu là cách thức tổ chức của một tập thể theo những quan niệm, quan
điểm nhất định, có tính tổng thể, tính lịch sử, tính nghi thức, tính xã hội và tính duy trì ổn định. Hay nói như Hofstede: “văn
hóa tổ chức là “lập trình tập thể một đầu óc có tính khu biệt các thành viên của một tổ chức này với các tổ chức khác”.
Xuất phát từ tư tưởng nhân văn và đạo đức của mình, tín đồ Kitô giáo cũng hình thành nên những tổ chức lớn, nhỏ trong
hệ thống các tổ chức văn hóa xã hội ở Việt Nam, như: Uỷ Ban Bác ái Xã hội – Caritas Việt Nam, Ủy ban Đoàn kết Công giáo
Việt Nam, Hội Bảo vệ sự sống, Cô nhi viện, Hội An táng thai nhi, Dòng tu Nữ tử Bác ái chuyên phục vụ người nghèo, Dòng Saint
Paul chuyên chăm lo bệnh nhân, Hội Tobia chuyên chăm sóc người sắp qua đời và lo việc an táng… Các tổ chức này đều lấy tư
tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo làm kim chỉ nam. Vì vậy, các tổ chức này đã thể hiện rất rõ tính đặc trưng của văn hóa Kitô
giáo trong tổ chức.
Trong điều kiện xã hội Việt Nam hiện nay đang có nhiều khó khăn về kinh tế, ý tế, học đường, nhiều hậu quả của tệ nạn
xã hội… thì việc có các tổ chức, dòng tu hoạt động bác ái, từ thiện thuần túy nhằm giúp đỡ những người nghèo khổ, bệnh tật,
bất hạnh không phân biệt thành phần, tôn giáo… được xem là sự đóng góp tích cực đáng trân trọng.
Các tổ chức hoạt động bác ái của Kitô giáo, dù là tổ chức của giáo phận, giáo xứ, dòng tu hay những nhà hoạt động giáo
dân thiết lập nên thì vẫn có sự giám sát và điều phối của giám mục địa phận. Giám mục chịu trách nhiệm về công tác giáo huấn
của thực hiện giáo luật của Giáo hội trong các hoạt động bác ái tại giáo phận. Dù được tổ chức theo luật dân sự hay giáo luật,
các tổ chức bác ái Kitô giáo có trách nhiệm hoạt động phù hợp với các giáo huấn, giá trị nhân văn và đạo đức của Giáo hội.
Giám mục giáo phận được quyền xác định tổ chức nào có đủ tư cách pháp lý để thực hiện trách nhiệm thuộc giáo quyền.

như là cầu nối chuyển tải hai chiều văn hóa, văn minh giữa châu Âu và người Việt Nam. Thêm nữa, các nhà truyền giáo Kitô
giáo có công sáng tạo nên chữ Quốc ngữ, một thành tựu văn hóa quan trọng trong xã hội hiện đại. Ngoài ra, Kitô giáo còn làm
phong phú thêm văn hóa Việt Nam trong lĩnh vực văn học, âm nhạc, kiến trúc, hội họa, ; đóng góp về tư tưởng luân lý đạo
đức, lối sống. Trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của
Nhà nước, tín đồ Kitô giáo đang chung tay cùng cộng đồng trong nhiều hoạt động xã hội, như làm từ thiện, giúp đỡ những
người bị chất độc da cam, những người bị tàn tật, những mảnh đời bất hạnh trong xã hội. Bên cạnh những đóng góp đáng trân
trọng, thì với sự nhìn nhận khách quan có thể thấy rằng, trong quá trình du nhập và truyền giáo ở Việt Nam, Kitô giáo đã có
một số hạn chế như quá tự tôn, quá áp đặt văn hóa, tạo nên những tổn thương văn hóa.
Tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo đã ảnh hưởng vào trong đời sống văn hóa của một bộ phận người dân Việt
Nam. Cụ thể là đã ảnh hưởng đến đời sống tín đồ Kitô giáo Việt Nam cả về văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ
chức. Tạo nên một sắc thái trong đời sống văn hóa Việt Nam.

KẾT LUẬN
CHUNG

Qua ba chương của luận án về đề tài Tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo với văn hóa Việt Nam, có thể rút ra một
số kết luận cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Kitô giáo là tôn giáo chính thức ra đời từ đầu Công nguyên. Tuy nhiên, ngọn nguồn tư tưởng đã có từ hằng
ngàn năm trước, với những quan niệm về một Đấng Messia từ trời xuống để giải thoát cho dân Do Thái, hay từ những tư tưởng
thần thoại của các triết gia Hy Lạp cổ đại về một một vị thần có thể làm người được mạnh danh là Logos (Thần ngôn)… Ngoài

10
Công đồng Vatican II, số 48.
12những tiền đề về văn hóa, tư tưởng sâu xa ấy, điều kiện kinh tế - chính trị xã hội của đế chế La Mã vào những thập niên

luật lệ và hủ tục phi nhân tính.
Nội dung tư tưởng đạo đức cơ bản của Kitô giáo là bàn về các phạm trù công bằng, bác ái, khiêm nhường, nhẫn nhục,
khoan dung và tha thứ như những chuẩn mực luân lý Kitô giáo. Trong quá trình phân tích, so sánh, đánh giá, luận án cũng chỉ
ra rằng tư tưởng đạo đức của Kitô giáo có rất nhiều điểm tương đồng với tư tưởng đạo đức của Phật giáo, Nho giáo và cũng
phù hợp với những quan niệm về đạo đức truyền thống của văn hóa Việt Nam.
Tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo có những tính chất như tính duy lý, tính hệ thống, tính kết hợp, tính duy tâm -
siêu hình và tính nhân loại phổ biến. Các tính chất đó vừa thể hiện đặc trưng của tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo, vừa thể
hiện tính ưu điểm và nhược điểm của tư tưởng ấy đối với thực tiễn cuộc sống.
Thứ ba Kitô giáo du nhập vào Việt Nam từ khoảng giữa thế kỷ XVI. Ngoài những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội,
bối cảnh lịch sử thế giới và Việt Nam thế kỷ XVI, truyền giáo là một nhu cầu tự thân của Kitô giáo, là một mệnh lệnh của đức tin,
nên việc Kitô giáo du nhập vào Việt Nam là tất yếu. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, đến
nay, số lượng tín đồ Kitô giáo có khoảng bảy triệu người. Trong đó, khoảng sáu triệu người Công giáo và khoảng 1 triệu người
Tin Lành phân bố gần như khắp các vùng trên lĩnh thổ Việt Nam.
Với cách nhìn nhận khách quan có thể thấy rằng, trong quá trình du nhập và truyền giáo, Kitô giáo đã có một số đóng
góp đáng trân trọng, như đóng vai trò là cầu nối văn hóa của Việt Nam với phương Tây, sáng tạo ra chữ quốc ngữ và du nhập
ngành in và báo chí vào Việt Nam, làm phong phú về kiến trúc, nghệ thuật, không gian thiêng, thời gian thiêng trong văn hóa
Việt nam. Tuy nhiên, cũng có những hạn chế trong quá trình truyền giáo như, đã quá tự tôn, tự mãn, quá áp đặt văn hóa và đã
có một thời kỳ phủ định những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, tạo nên những tổn thương văn hóa.
Tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo đã ảnh hưởng vào trong đời sống văn hóa của một bộ phận người Việt Nam. Cụ
thể là những tư tưởng ấy đã ảnh hưởng đến văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức của những người tín đồ Kitô
giáo ở Việt Nam; đã tạo nên một sắc thái trong đời sống văn hóa Việt Nam; góp phần cụ thể hóa những chuẩn mực đạo đức của
văn hóa Việt Nam; làm phong phú thêm các quan niệm về nhân sinh quan, về giá trị nhân văn và đạo đức trong đời sống văn hóa
Việt Nam. Tư tưởng nhân văn và đạo đức Kitô giáo có thể cộng hưởng với những giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc ta để
làm cho nền văn hóa vừa phong phú, vừa đậm đà, ấm áp tình người hơn trong cuộc sống hôm nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status