ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––
TRƢƠNG KHÁNH LINH GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM,
CHI NHÁNH BẮC NINH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN THỰC
tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định.
Tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô
giáo và những độc giả quan tâm đến đề tài này.
Tác giả
Trƣơng Khánh Linh iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
LỜI MỞ ĐẦU 1
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Bố cục của luận văn 3
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HUY ĐỘNG
VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 4
1.1. Cơ sở lý luận 4
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại 4
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 5
1.1.2.1. Huy động vốn 5
1.1.2.2. Cấp tín dụng 7
1.1.2.3. Các hoạt động dịch vụ khác 8
1.2. Nội dung quản lý huy động vốn của NHTM 9
1.2.1. Nguồn vốn của NHTM 9
2.2.2. Phương pháp thống kê, toán thống kê và phân tích số liệu thống kê 32
2.2.3. Phương pháp đánh giá dựa trên các lý luận kinh tế cơ bản của lĩnh
vực Ngân hàng – Tài chính 33
2.2.4. Phương pháp phân tích thông tin 33
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 33
2.3.1 Tổng vốn huy động từ dân cư, tổ chức 33
2.3.2. Vốn đi vay 34
v
2.3.3. Kỳ hạn vốn 34
2.3.4. Loại tiền huy động 35
2.3.5. Huy động vốn so với cho vay 35
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NH NGOẠI THƢƠNG – CN BẮC NINH 36
3.1. Đặc điểm kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh ảnh hưởng đến hoạt động huy
động vốn của các NHTM 36
3.1.1. Tình hình dân cư 36
3.1.2. Tình hình các doanh nghiệp 37
3.1.3. Số liệu kinh tế vĩ mô của địa phương 37
3.1.4. Chủ trương đường lối phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh 37
3.1.5. Số lượng các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 38
3.2. Khái quát về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi
nhánh Bắc Ninh 39
3.2.1. Quá trình thành lập và phát triển của Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh 39
3.2.2. Mô hình tổ chức và hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh 39
3.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm qua của NH TMCP NT
Bắc Ninh 40
3.2.4. Các hoạt động dịch vụ khác 45
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CV
Cho vay
KCN
Khu công nghiệp
HĐV
Huy động vốn
NH
Ngân hàng
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTW
Ngân hàng Trung ương
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN
Ngân hàng thương mại Nhà nước
NHNTVN
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
PGD
Phòng Giao dịch
QTD
Quỹ Tín dụng
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Biểu đồ dư nợ phân theo thời gian từ 2007 - 2011 43
Hình 3.2. Đồ thị tỷ trọng vốn huy động so với vốn cho vay 44
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ trọng huy động vốn trong tổng nguồn vốn 48
Hình 3.4. Biểu đồ tiền gửi của TCKT phân theo kỳ hạn 52
Hình 3.5. Biểu đồ tiền gửi của dân cư phân theo kỳ hạn 55
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khủng khoảng tài chính kinh tế thế giới trong những năm vừa qua và
hiện đang đặt ra câu hỏi của cả thế giới và nước ta: phải xem xét lại toàn bộ từ
hệ thống lý luận đến tổ chức thực hiện hoá ổn định, để có được một hệ thống
tài chính đảm bảo cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của mỗi nước và
cả trên thế giới.
Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò chủ lực trong việc là
trung gian giữa tiết kiệm và đầu tư, chu chuyển vốn nhàn rỗi đóng góp một
phần cho sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi đất nước. Có thể nói hệ thống
ngân hàng ngày nay đang phát triển hết sức mạnh mẽ được để là “huyết
mạch” của nền kinh tế.
Ngày nay sự cạnh tranh của các ngân hàng rất gay gắt, cụ thể trên địa
Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh qua các năm 2007, 2008,
2009, 2010, 2011.
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài.
Đề tài: nêu lên được khái niệm về huy động vốn tại ngân hàng
thương mại.
- Xác định được các nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Bắc Ninh
như vốn chủ sở hữu, vốn huy động từ dân cư, vốn huy động từ tổ chức, vốn đi
vay, vốn uỷ thác đầu tư….
- Dựa trên các tài liệu, số liệu đã được công bố để phân tích, đánh giá
và đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn tại Ngân
hàng Ngoại thương Bắc Ninh.
- Qua kinh nghiệm thực tiễn, các bài học đã rút ra từ ngân hàng thương
mại trên địa bàn trong việc quản lý huy động vốn, quản lý nguồn vốn áp dụng
cho Ngân hàng Ngoại thương Bắc Ninh một cách có hiệu quả. 3
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục
bảng biểu, sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình
bày theo bố cục gồm có 04 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của Ngân hàng
thương mại tại Việt Nam.
Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thương
Bắc Ninh.
Chƣơng 4: Các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác huy động
vốn tại Ngân hàng Ngoại thương Bắc Ninh.
4
tất cả các tổ chức tài chính vẫn là các NHTM. Đây là tổ chức tài chính lớn
nhất, quan trọng nhất trong giới kinh doanh tiền tệ. NHTM là nơi cung cấp
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm,
dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
Từ khi mới ra đời và trải qua hàng trăm năm phát triển, dù hoạt động
của các ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng phong phú song các ngân
hàng luôn duy trì ba mảng nghiệp vụ truyền thống, đó là: Huy động vốn, Cấp
tín dụng và Cung ứng dịch vụ.
1.1.2.1. Huy động vốn
Huy động vốn là một hoạt động quyết định sự tồn tại của một ngân
hàng, là đặc điểm riêng có của ngành kinh doanh, là tiêu chí quan trọng và
duy nhất để phân biệt giữa ngân hàng và doanh nghiệp khác. Chính chức năng
huy động vốn mà các NHTM có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Đồng
thời, huy động vốn cũng là hoạt động hết sức quan trọng quyết định sự thành
bại, phát triển của các NHTM trong quá trình cạnh tranh.
Là hoạt động đầu tiên, quan trọng của một NHTM nhờ đó mà ngân
hàng có nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình. Thực hiện “Tiền”-
“Tiền” nối tiếp (Tiền – Hàng - Tiền) của nền kinh tế.
Hoạt động huy động vốn là một trong những nghiệp vụ tạo vốn quan
trọng hàng đầu của NHTM. Nó quyết định quy mô kinh doanh, khả năng sinh
lời và các rủi ro tiềm tàng với mỗi ngân hàng và là nền tảng cho sự thịnh
vượng và phát triển của ngân hàng. Huy động vốn là một trong những hoạt
động hết sức đặc thù của NHTM, là tiêu chí quan trọng và duy nhất để phân
biệt giữa ngân hàng và doanh nghiệp khác. Chính sự huy động vốn để cung
cấp cho sản xuất và dịch vụ đã giúp cho các NHTM có vai trò quan trọng đối
với nền kinh tế. Đồng thời, huy động vốn cũng là hoạt động hết sức quan
trọng đối với quá trình cạnh tranh giữa các NHTM.
7
Đối với khách hàng, nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho họ một
kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, tạo cho họ cơ hội
gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác nghiệp vụ huy động vốn còn
cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất giữ và tích lũy vốn tạm thời
nhàn rỗi. Nghiệp vụ huy động vốn cũng cung cấp cho khách hàng có cơ hội
tiếp cận các dịch vụ ngân hàng khác, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho nhu cầu sản xuất kinh
doanh hoặc tiêu dùng.
Ở Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi một lượng
vốn rất lớn mà huy động vốn qua ngân hàng là một trong những nguồn quan
trọng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đất nước. Đây cũng là một trọng trách của hệ thống ngân hàng thương
mại nước ta trong giai đoạn hiện nay…
1.1.2.2. Cấp tín dụng
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản
tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn
trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán,
bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
(i) Cho vay
Trong các khoản mục biểu thị cho hoạt động sử dụng vốn của ngân
hàng thì khoản mục cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất, thường vào khoảng 60%
- 80% tổng tài sản. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay
giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có
hoàn trả cả gốc và lãi. Nguồn để cho vay là các khoản mà ngân hàng huy
động được cùng với số vốn tự có của ngân hàng. Nghiệp vụ cho vay là nghiệp
vụ sinh lời chủ yếu của các ngân hàng. Thời gian qua, hoạt động cho vay của
các NHTM Việt Nam được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế, và dưới
9
(i) Hoạt động thanh toán
Ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán của mình bằng các dịch vụ
thông qua việc mở tài khoản cho khách hàng là các cá nhân và các tổ chức.
Ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán thông qua các hình thức như séc,
thẻ, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng…
Thông qua việc giải quyết các nhu cầu về thanh toán, chi trả mà các
ngân hàng thương mại đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình lưu
thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn, tiết
kiệm chi phí lưu thông, do đó góp phần tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế thị
trường càng phát triển, hoạt động thanh toán ngày càng hoàn thiện và phát
huy hiệu quả thì vai trò của ngân hàng thương mại càng được nâng cao. Hoạt
động thanh toán cũng là tiền đề để hỗ trợ các hoạt động huy động vốn và sử
dụng vốn cùng phát triển.
Một nền kinh tế phát triển bền vững, một quốc gia ổn định nền tài
chính thì càng có hệ thống thanh toán qua ngân hàng phát triển đến mức thanh
toán bằng tiền mặt ở thấp nhất.
(ii) Các hoạt động khác
Ngoài ra, NHTM còn thực hiện nhiều hoạt động khác như quản lý ngân
quỹ, kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng, chứng khoán, bảo quản vật có giá,
cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, các dịch vụ bảo hiểm…
1.2. Nội dung quản lý huy động vốn của NHTM
Quản lý huy động vốn là việc tăng cường các nguồn đầu vào từ vốn chủ
sở hữu, vốn huy động nền kinh tế (cá nhân tổ chức), đi vay… và việc sử dụng
nguồn đầu vào đó một cách có hiệu quả (cụ thể là cho khách hàng vay) vì
mục tiêu cụ thể là đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
1.2.1. Nguồn vốn của NHTM
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo
lập, huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng.
vốn của chủ sở hữu, nếu không có sự bảo đảm nào khác.
11
Vì vậy, với chức năng bảo vệ này, vốn chủ sở hữu được coi như tài sản
đảm bảo mang lại niềm tin với khách hàng. Nó là căn cứ quyết định đến quy
mô và khối lượng vốn huy động bên ngoài của ngân hàng cũng như danh mục
tài sản đầu tư của NHTM…
1.2.1.2. Huy động tiền gửi
Nếu vốn chủ sở hữu là điều kiện đầu tiên để ngân hàng hoạt động thì
tiền gửi của khách hàng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
mỗi ngân hàng. Tiền gửi của khách hàng là tài nguyên quan trọng nhất của
NHTM, tiền gửi có thể được phân thành các loại như sau:
* Tiền gửi thanh toán (Tiền gửi không kỳ hạn)
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút tiền
ra bất cứ lúc nào và ngân hàng luôn có nghĩa vụ phải thỏa mãn các nhu cầu
đó. Loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán.
Khi kinh tế hàng hoá phát triển, xu hướng thanh toán không dùng tiền
mặt càng trở nên phổ biến hơn. Cá nhân và các tổ chức đều có thể mở tài
khoản giao dịch tại ngân hàng, ngân hàng sẽ làm nhiệm vụ giữ và thanh toán
hộ trong phạm vi số dư cho phép theo lệnh của chủ tài khoản. Người gửi tiền
có thể gửi vào tài khoản hoặc rút ra bất cứ lúc nào. Do tính bất định về
thời gian của loại tiền gửi này nên trong tiếng Anh nó được gọi là
Demand deposit
Trước thập niên 70 của thế kỷ trước, tiền gửi không kỳ hạn là bộ phận
lớn nhất trong tài sản nợ của các NHTM với xấp xỉ 70%. Tuy nhiên sau đó,
với việc cải tiến hệ thống quản lý bằng vi tính, các NHTM dễ dàng vào bất cứ
lúc nào, chuyển các khoản tiết kiệm hoặc tài khoản có kỳ hạn sang tài khoản
không kỳ hạn cho người gửi tiền sử dụng séc. Vì vậy, người gửi tiền có
khuynh hướng gửi tiền vào tài khoản có kỳ hạn và tiết kiệm để có lãi cao hơn.
Tuy vậy các khoản gửi không kỳ hạn vẫn còn xấp xỉ 25% tài sản nợ của các
thuận, nhưng trên thực tế để thu hút loại tiền gửi này với kỳ hạn dài, hầu hết
13
các ngân hàng đều cho phép rút tiền trước hạn với điều kiện khách hàng chì
được hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc hưởng một mức lãi suất thấp hơn
tương ứng theo từng thời điểm rút trước hạn đã được hai bên thỏa thuận hoặc
do ngân hàng quy định.
* Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của ngân hàng. Các tầng
lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền
tiết kiệm). Với các nguồn này, họ có thể gửi tiết kiệm tại ngân hàng nhằm
mục đích bảo toàn và sinh lợi, đặc biệt là nhu cầu an toàn. Nhằm thu hút
nhiều tiền gửi tiết kiệm, ngân hàng mở rộng mạng lưới huy động vốn: đa dạng
về hình thức (nội tệ, ngoại tệ, vàng…) và kỳ hạn (ngắn hạn, trung hạn, dài
hạn) với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn.
Loại tiền gửi có kỳ hạn phổ biến và cổ điển nhất là tiền gửi tiết kiệm có
sổ (passbook saving account). Tiền gửi vào, các khoản rút ra được thể hiện
trên một cuốn sổ nhỏ do NHTM cấp. Cuốn sổ này có giá trị như chứng thư
xác nhận về khoản tiền đã gửi. Những loại tiền gửi có kỳ hạn phổ biến khác là
Giấy chứng nhận tiền gửi (certificates of deposits) viết tắt là CDS, chứng thư
tiết kiệm (saving certificates), trái phiếu tiết kiệm (savings bonds). Các loại
này là hàng hóa trên thị trường tiền tệ.
Về mặt nguyên tắc tiền gửi có kỳ hạn với thời gian càng lâu, lãi suất sẽ
càng lớn bởi vì ngân hàng hoàn toàn có thể dùng tiền gửi này đem đầu tư vào
những dịch vụ hoặc sản xuất có tính lâu dài hơn với lợi tức ổn định hơn. Tại
các nước đang phát triển như Việt Nam do hàng hoá trên thị trường chứng
khoán chưa nhiều, môi trường đầu tư còn nhiều bất cập nên dân chúng ưa
thích gửi tiền vào hệ thống các NHTM để an toàn hơn. Do đó trên thực tế tiền
gửi của dân cư luôn chiếm tỷ trọng khá lớn và là nguồn vốn có tính ổn định
nhất trọng tổng vốn huy động của ngân hàng.
15
- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn
hạn khác.
- Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác.
Ngoài ra NHNN còn cho NHTM vay bổ sung vốn thiết hụt tạm thời
trong thanh toán bù trừ. Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng
Chính phủ chấp thuận, NHNN còn cho vay đối với các NHTM tạm thời mất
khả năng chi trả có nguy cơ gây mất an toàn cho toàn hệ thống.
Vốn vay các TCTD khác và vay của NHTW thường chỉ chiếm tỷ trọng
nhỏ trong tổng vốn kinh doanh của NHTM (Vốn vay của các TCTD khác
hoặc NHTW chỉ diễn ra khi ngân hàng mất khả năng thanh khoản tạm thời,
cho dù NHTW vẫn là nguồn cuối cùng có vai trò quyết định sự ổn định của hệ
thống ngân hàng) cho nên ngoài tác dụng góp phần gia tăng vốn, mở rộng
kinh doanh của ngân hàng nó còn có ý nghĩa trong việc đảm bảo khả năng
thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn của NHTM.
1.2.1.4. Nguồn vốn khác
Bên cạnh các nguồn vốn nêu trên, trong quá trình hoạt động các NHTM
còn có thể tạo lập vốn cho mình từ nhiều nguồn khác: Vốn trong thanh toán là
số vốn có được do ngân hàng là trung gian thanh toán trong nền kinh tế, vốn
ủy thác đầu tư, tài trợ của chính phủ hoặc của các tổ chức trong và ngoài nước
cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngoài ra ngân
hàng còn làm đại lý bán cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệp, cũng như
thu hộ lợi tức từ đầu tư chứng khoán cho khách hàng Những nghiệp vụ này
cũng tạo thêm được nguồn vốn cho ngân hàng.
Các nguồn vốn khác của ngân hàng có thể không nhiều, thời gian sử
dụng đôi khi rất ngắn, nhưng nguồn vốn này ngân hàng không phải tốn kém
chi phí huy động nhưng lại có điều kiện phát triển các nghiệp vụ và dịch vụ
ngân hàng khác, phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng.