ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
oOo
NGUYỄN TRỌNG HÂN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẨY MẠNH TÍN DỤNG
TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
(ACB) – CHI NHÁNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
ii
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập tại trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh – Đại
học Thái Nguyên em đã được sự chỉ dạy ân tình của quý thầy cô. Trong quá trình
làm việc tại Ngân hàng Á Châu chi nhánh Quảng Ninh, em đã định hướng và thực
hiện đề tài tâm đắc của mình. Đề tài được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của
các anh chị tại cơ quan và những ý kiến hướng dẫn quý báu của các thầy cô trường
Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên.
Em xin chân thành cảm ơn:
Quý thầy cô trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh - Đại học Thái
Danh mục hình ix
Mở đầu 1
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Phạm vi & đối tượng nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3
5. Bố cục luận văn 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Giới thiệu hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu 5
1.1.1 Sự cần thiết của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu 5
1.1.2 Nhu cầu tài trợ xuất nhập khẩu 7
1.1.3 Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu 10
1.2 Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu 12
1.2.1 Khái niệm, vai trò của tín dụng ngân hàng 12
1.2.2 Các hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại 14
1.2.3 Rủi ro trong tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại 23
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Việt Nam 24
1.3.1 Chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước 24
1.3.2 Môi trường kinh tế chính trị, xã hội trong và ngoài nước 25
1.3.3 Khả năng ý thức thanh toán của doanh nghiệp xuất nhập khẩu 26
iv
1.3.4 Năng lực cho vay của ngân hàng 26
1.3.5 Các nhân tố khác 26
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1. Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 28
3.7.5 Nguồn lực tài chính 75
3.7.6 Nghiên cứu và phát triển 76
3.7.7 Những điểm mạnh và điểm yếu 79
Chƣơng 4: CHIẾN LƢỢC VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU 81
4.1 Xây dựng chiến lược 81
4.1.1 Ma trận SWOT 81
4.1.2 Phân tích chiến lược 81
4.1.3 Lựa chọn chiến lược 82
4.2 Mục tiêu và giải pháp phát triển dịch vụ tài trợ xuất nhập khẩu 83
4.2.1 Mục tiêu 83
4.2.2 Giải pháp phát triển dịch vụ tài trợ xuất nhập khẩu 84
4.3. Kiến nghị 95
4.3.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước 95
4.3.2 Đối với Hội sở ACB 96
4.3.3 Đối với chi nhánh ACB Quảng Ninh 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động kinh doanh 3 năm 39
Bảng 3.2: Doanh số chiết khấu và cho vay tài trợ xuất nhập khẩu 42
Bảng 3.3:Tình hình thu phí bảo lãnh tại ngân hàng 43
Bảng 3.4: Mục tiêu hoạt động của chi nhánh năm 2012 44
Bảng 3.5: Tình hình huy động vốn và cho vay của ACB Quảng Ninh so với
các tổ chức tín dụng trên địa bàn năm 2011 45
Bảng 3.6: Mối quan hệ giữa đối tượng khách hàng & nhu cầu TTXK 46
Bảng 3.7: Mong đợi của khách hàng đối với tài trợ xuất nhập khẩu 47
Bảng 3.8: Số khách hàng giao dịch tài trợ xuất nhập khẩu tại chi nhánh 48
Bảng 3.9: Đánh giá của khách hàng về ACB Quảng Ninh và các đối thủ cạnh tranh 53
Bảng 3.10: Các sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu của các ngân hàng 53
Bảng 3.11: Tình hình mạng lưới phân phối của các ngân hàng 53
Bảng 3.12: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài của ACB Quảng Ninh 56
Bảng 3.13 Biểu phí bảo lãnh 59
Bảng 3.14 Điều kiện về doanh số xuát khẩu bình quân 61
Bảng 3.15 Điều kiện về năng lực và thị trường của đơn vị xuất khẩu 61
Bảng 3.16 :Lãi suất cho vay theo hạn mức thấu chi 65
Bảng 3.17: Lãi suất cho vay bằng USD có tài sản đảm bảo 66
Bảng 3.18: Lãi suất cho vay bằng USD không tài sản đảm bảo 66
Bảng 3.19: Lãi suất cho vay bằng các loại ngoại tệ khác 67
Bảng 3.20: Chi phí dành cho quảng cáo tại chi nhánh 68
Bảng 3.21 :Tình hình nhận biết ACB Quảng Ninh của khách hàng 69
Bảng 3.22: Phương tiện truyền thông yêu thích 70
Bảng 3.23: Thống kê trình độ cán bộ-công nhân viên năm 2010 71
Bảng 3.24: Đánh giá một số chỉ tiêu tài chính của chi nhánh 75
Bảng 3.25: Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong của ACB Quảng Ninh 80
Bảng 3.26: Ma trận SWOT 81
Bảng 3.27: Ma trận hoạch định chiến lược QSPM 82
theo lộ trình, chấp nhận sự gia tăng nhanh chóng của các Ngân hàng thương mại
(NHTM) nước ngoài có kinh nghiệm, điều kiện tài chính và hiểu rất rõ về pháp luật
Việt Nam. Các NHTM trong và ngoài nước sẽ được thực hiện chính sách như nhau,
không phân biệt đối xử. Thực tế đó sẽ dẫn đến cạnh tranh trong lĩnh vực NH ngày
càng trở nên gay gắt hơn trong cuộc đua đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền
kinh tế.
Chưa bao giờ khách hàng (KH) Việt Nam lại có cơ hội tha hồ chọn lựa như
vậy. Mối quan tâm hàng đầu của các NH lúc bấy giờ là làm sao để KH biết đến sự
hiện diện của mình, đặt niềm tin ở mình, có tình cảm và yêu thích sản phẩm dịch vụ
mang thương hiệu của mình, lựa chọn mua và cảm thấy tin tưởng, tự hào khi sử
dụng sản phẩm dịch vụ của mình. Tuy nhiên, với tất cả những điều trên thì ngay cả
những NH lớn, có tiềm lực mạnh và bề dày lịch sử như NH Á Châu (ACB) cũng
phải nổ lực nhiều nếu có mong muốn đạt được và duy trì lâu dài. 2
Chính vì thế, NH ACB đã và đang tiến hành nhiều biện pháp để cải tiến và
đa dạng các loại hình dịch vụ của mình, trong đó dịch vụ tài trợ xuất nhập khẩu
(TTXNK) luôn được xem là một mảng lớn, chiến lược trong các dịch vụ tài chính.
Vốn từ lâu, NH ACB được biết đến như là một trong những NH đứng đầu trong lĩnh
vực này. Tuy nhiên, "nếu ta không thay đổi hướng đi, thì chắc chắn ta sẽ đi đến nơi
ta xuất phát". Thật vậy, nhu cầu của KH luôn biến đổi, thị trường luôn biến động và
đối thủ cạnh tranh cũng không ngừng thay đổi chiến lược. Như vậy, làm thế nào để
hiểu rõ và đáp ứng được nhu cầu của KH? Làm thế nào để thích nghi với những
thay đổi của thị trường? Hơn lúc nào hết, phải đưa ra các giải pháp để phát huy tác
dụng cao nhất.
Với nhận thức về sự cần thiết ấy, tôi đã chọn đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ
YẾU ĐẨY MẠNH TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á
CHÂU (ACB) – CHI NHÁNH QUẢNG NINH” cho việc nghiên cứu luận văn thạc
sỹ của mình.
Lý luận cũng như thực tiễn phát triển kinh tế thế giới đã cho thấy hoạt động
xuất nhập khẩu là một trong những lĩnh vực trung tâm quan trọng nhất trong toàn
bộ các hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia. Hoạt động xuất nhập khẩu đã góp phần
đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách, đặc biệt là thu ngoại tệ, cải thiện cán
cân thanh toán giải quyết công ăn việc làm cho người dân, thúc đẩy nhanh quá trình
tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của đất nước trong nền kinh tế
toàn cầu.
Việt Nam từ nền kinh tế lạc hậu và kém phát triển chuyển sang xây dựng nền
kinh tế thị trường thì việc mở rộng buôn bán, quan hệ với nước ngoài là hết sức cần thiết.
Sau khi nhận thức được những sai lầm trong đường lối kinh tế, Đảng và Nhà nước ta
quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới theo hướng "mở cửa" nền kinh tế hướng mạnh về
xuất khẩu, không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện với các nước trên thế giới,
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước. Nhờ vậy, hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động XNK nói riêng của
Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng kể và ngày càng khẳng
định vị trí của mình trong toàn bộ nền kinh tế. 4
Để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh XNK cần phải nâng cao chất lượng và
đa dạng hoá các mặt hàng, muốn vậy phải có sự đầu tư thích đáng cho quá trình sản
xuất, kinh doanh như đổi mới công nghệ, máy móc, trang thiết bị. Nhưng trên thực
tế, vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trên lĩnh vực này còn ít ỏi, không
thể giúp cho các doanh nghiệp tự đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng. Xuất phát
từ thực tế này và để đạt được mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra thì cần có sự
đầu tư của NHTM với tư cách là trung tâm cung ứng vốn, hỗ trợ đắc lực cho lĩnh
vực XNK của nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng tài trợ XNK là một hoạt động hết sức phức tạp, chứa
đựng nhiều rủi ro. Nó không chỉ chịu tác động của chính sách kinh tế trong nước mà
còn chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm, nguồn luật khác nhau và bị ảnh hưởng
Để đạt được hiệu quả kinh tế đồng thời đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa
dạng ở trong nước, các quốc gia đều mong muốn có được những sản phẩm chất
lượng cao với giá rẻ hơn từ các nước khác đồng thời mở rộng được thị trường tiêu
thụ đối với các sản phẩm thế mạnh của mình. Chính từ mong muốn đó đã làm nảy
sinh hoạt động thương mại quốc tế.
Hoạt động thương mại quốc tế thông qua mối quan hệ rộng rãi vượt ra ngoài
biên giới quốc gia sẽ là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế bên
ngoài, đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế ở mỗi khu vực
và trên toàn thế giới.
Thương mại quốc tế được cấu thành bởi hai bộ phận cơ bản xuất khẩu và
nhập khẩu. Do vậy, xác định được vai trò quan trọng cũng như có sự quan tâm thích
đáng đến hoạt động XNK là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động thương mại quốc tế.
Đối với Việt Nam, ngoài những đặc điểm nêu trên chúng ta còn có những nét
đặc thù riêng đó là nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng kĩ thuật lạc
hậu, công nghệ thủ công đang rất cần được đổi mới, bên cạnh đó tiềm lực xuất
khẩu lại lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Tất cả những điều này cho thấy
hoạt động XNK đối với nước ta càng quan trọng hơn.
Vai trò của XNK đối với sự phát triển kinh tế được thể hiện qua một số khía
cạnh cơ bản sau: 6
* Xuất khẩu
- Xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho đất nước tạo điều kiện
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển. Thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu, Nhà nước sẽ khuyến khích các
ngành, nghề phát triển bởi họ phần nào có được thị trường tiêu thụ ổn định và
mở rộng hơn. Đồng thời, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế sẽ tạo
cho các nhà sản xuất sự năng động và sáng tạo trong kinh doanh, sự quan tâm
phẩm, hạ giá thành Song trên thực tế do khả năng tài chính có hạn nên hầu hết các
doanh nghiệp đều cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Nhu cầu tài trợ cho hoạt động XNK nảy sinh từ những đòi hỏi đó và nó gắn
liền với các giai đoạn của hoạt động này.
Do hoạt động thương mại quốc tế hiện nay là rất đa dạng và vì thế cũng hết
sức phức tạp (nó bao gồm nhiều mối quan hệ như: thương mại giữa các nước phát
triển, thương mại giữa các nước đang phát triển, thương mại giữa các nước phát
triển và đang phát triển ) nên để phù hợp với điều kiện Việt Nam cũng như với đề
tài nghiên cứu, ở đây tôi chỉ xin đề cập đến hoạt động thương mại quốc tế giữa các
nước phát triển và đang phát triển.
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển
chủ yếu là hàng hoá tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, kỹ thuật, công nghệ. Đây
là những hàng hoá mà để hoàn thành hoạt động xuất khẩu cần phải trải qua nhiều
giai đoạn khác nhau từ phân tích nhu cầu, kí kết hợp đồng, sản xuất cung ứng, lắp
ráp chạy thử đến thanh toán tiền hàng. Nhu cầu tài trợ thường để đáp ứng các chi
phí cho quảng cáo, thiết kế mẫu mã, sản xuất và cung cấp công trình.
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển
chủ yếu là các mặt như nông, lâm, thuỷ hải sản, hàng thô hay mới qua sơ chế Và
nhu cầu tài trợ thường là để thu mua chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu vốn tạm
thời. 8
Để có cái nhìn tổng quát về nhu cầu tài trợ nảy sinh trong hoạt động XNK ta
sẽ xem xét nhu cầu tài trợ của các nhà xuất khẩu và nhập khẩu hình thành trong
cùng một hoạt động XNK hàng hoá máy móc, thiết bị kĩ thuật, công nghệ.
* Nhu cầu tài trợ cho xuất khẩu
Việc thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hoá máy móc thiết bị thường kéo dài
từ nhiều tháng cho tới vài năm, do đó thông thường nhu cầu tài trợ thường nảy sinh
ở nhiều giai đoạn khác nhau. Cụ thể:
- Giai đoạn bảo hành: Trong giai đoạn này người mua có quyền yêu cầu
được bảo hành ở ngân hàng của nhà xuất khẩu trước khi thanh toán.
- Giai đoạn thanh toán: Hiện nay, để việc cung cấp hàng hoá xuất khẩu
được thuận lợi người xuất khẩu thường phải dành cho người mua một ưu đãi thanh
toán trong nhiều năm mà người xuất khẩu và ngân hàng của họ có thể chấp nhận
được. Trong thời gian chờ được thanh toán nhà xuất khẩu thường có nhu cầu được
tài trợ để đảm bảo vốn cho quá trình tái sản xuất tiếp theo.
* Nhu cầu tài trợ nhập khẩu
Với hoạt động nhập khẩu, nếu như nhà xuất khẩu có nhu cầu tài trợ để đẩy
mạnh hoạt động bán hàng thì các nhà nhập khẩu cũng nảy sinh nhu cầu tài trợ để
mua hàng khi khả năng tài chính không đáp ứng được. Vì vậy về phía nhà nhập
khẩu cũng hình thành nhu cầu tài trợ trên nhiều mặt.
- Giai đoạn trước khi kí kết hợp đồng: Ở giai đoạn này các nhà nhập khẩu
cần có những chi phí cho việc thuê các chuyên gia phân tích chính xác nhu cầu của
mình để tiến hành đấu thầu một cách phù hợp.
- Giai đoạn sau khi kí kết hợp đồng: Sau khi kí kết được hợp đồng, nhà nhập
khẩu cần được tài trợ để đặt cọc, tạm ứng cho nhà xuất khẩu .
- Giai đoạn sản xuất và hoàn thành công trình: Trong giai đoạn này nhà
nhập khẩu có thể phải thực hiện những khoản thanh toán giữa chừng cho nhà xuất
khẩu hay tài trợ cho các công việc ở điạ phương để chuẩn bị cho đầu tư. 10
- Giai đoạn cung ứng và vận chuyển hàng hoá: Tuỳ theo điều kiện cung
ứng hàng hoá có thể nảy sinh nhiều phí tổn về vận chuyển và bảo hiểm đối với các
nhà nhập khẩu.
- Nhận hàng hoá: Nếu tiến hành thanh toán cung ứng hàng hoá khi xuất
trình chứng từ (có thư tín dụng kèm theo hoặc theo điều kiện D/P) thì thường nhà
nhập khẩu chỉ có thể nhận được hàng khi giá trị trên hoá đơn đã ghi rõ hoặc có thể
tài trợ được.
* Phát hành cổ phiếu: Với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay họ có thể
phát hành cổ phiếu công ty để huy động nguồn vốn trung và dài hạn. Hình thức này
có ưu điểm là doanh nghiệp có được sự chủ động trong việc huy động và sử dụng
vốn, giảm được nguy cơ phá sản khi gặp khó khăn (vì có thể không phải phân chia
lợi tức cổ phần hoặc có thể hoãn trả lợi tức khi bị lỗ hoặc không có nhiều lãi) hay
làm tăng vốn chủ sở hữu, giảm hệ số nợ của doanh nghiệp Tuy nhiên, chỉ có các
doanh nghiệp thỏa mãn những điều kiện nhất định mới được sử dụng hình thức này.
Với nước ta, do thị trường tài chính còn chưa phát triển nên hình thức tài trợ này
còn ít được sử dụng hoặc nếu có sử dụng thì hiệu quả chưa cao.
* Phát hành trái phiếu công ty: Đây cũng là một hình thức tài trợ khá phổ
biến trong nền kinh tế thị trường gần như cổ phiếu.
Trái phiếu là một giấy chứng nhận nợ của doanh nghiệp. Sử dụng phát hành
trái phiếu doanh nghiệp có thể huy động vốn cho hoạt động kinh doanh mà không
dẫn đến phải chia quyền kiểm soát doanh nghiệp như khi sử dụng cổ phiếu thường.
Tuy nhiên, với trái phiếu doanh nghiệp thường phải trả lợi tức cố định cho dù hoạt
động kinh doanh có lãi hay không. Điều này dễ làm tăng khả năng phá sản đối với
doanh nghiệp khi gặp khó khăn về tài chính. Ngoài ra, với thị trường tài chính chưa
phát triển như đã nói trên thì hình thức này cũng khó phát huy tốt được ưu thế của
nó.
* Tín dụng ngân hàng: Ngân hàng có thể tài trợ cho các doanh nghiệp thông
qua nhiều hình thức và với những mục đích sử dụng khác nhau như: cho vay ngắn
hạn theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hợp đồng, cho vay có đảm bảo để thu 12
mua dự trữ, sản xuất, nhập khẩu nguyên vật liệu, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động.
Hoặc cho vay dài hạn để đầu tư dự án, mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công
nghệ Tuỳ vào từng doanh nghiệp mà Ngân hàng có thể áp dụng những hình thức
nhất định sao cho thuận lợi với cả hai bên. Một đặc điểm khá nổi bật của tín dụng
ngân hàng là có khả năng linh hoạt về lãi suất cũng như thời hạn.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK được thể hiện qua
các mặt sau:
- Thứ nhất, giống như các nguồn tài trợ khác tín dụng ngân hàng là một
nguồn vốn quan trọng đối với các doanh nghiệp XNK để thu mua dự trữ, sản xuất,
tiêu thụ hàng hoá, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất cũng
như tái sản xuất của doanh nghiệp.
- Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp trên thị trường.
Kinh doanh có hiệu quả là yêu cầu của hạch toán kinh tế đồng thời cũng là
một trong những điều kiện cung cấp tín dụng của ngân hàng. Do đó, tín dụng ngân
hàng thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả kinh doanh, nâng cao
mức doanh lợi. Bên cạnh đó, với khả năng linh hoạt về thời hạn và lãi suất của tín
dụng ngân hàng sẽ khuyến khích sự chủ động và sáng tạo của các doanh nghiệp
trong việc sử dụng vốn sao cho phù hợp với nhu cầu về vốn trong mỗi thời kỳ khác
nhau.
- Thứ ba, tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt dộng XNK diễn ra thuận lợi và
nhanh chóng hơn.
- Thứ tư, xuất phát từ tính rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK cao và do
việc thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa người mua và người bán sự có mặt của ngân hàng
sẽ là một đảm bảo cho cả hai bên, nhà xuất khẩu sẽ hạn chế được những rủi ro
không thanh toán khi ngân hàng đứng ra đảm bảo cung cấp tín dụng cho nhà nhập
khẩu và ngược lại nhờ nguồn tín dụng của ngân hàng nhà nhập khẩu thực hiện được
những nhập khẩu quan trọng trong khi khả năng tài chính của họ chưa đáp ứng
được. 14
- Thứ năm, ngân hàng là một đầu mối tiếp nhận các nguồn tài trợ của nước
ngoài cho hoạt động XNK. Bởi vì hiện nay phần lớn các nguồn tài trợ của các tổ
chức tài chính- tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào đó được thực hiện qua các ngân
hơn so với giá trị họp đồng.
Thông thường mức ký quỹ L/C phụ thuộc vào các yếu tố sau.
+ Khả năng thanh toán của khách hàng.
+ Đối tượng khách hàng
+ Loại L/C: L/C trả chậm thì mức ký quỹ thấp, loại L/C trả ngay thì
bắt buộc mức ký quỹ cao hơn.
+ Loại hàng hoá nhập khẩu, khả năng tiêu thụ.
Trên cơ sở các yếu tố trên, ngân hàng sẽ quyết định mức ký quỹ, nếu như
khách hàng không có đủ số dư trên tài khoản thì phải tiến hành làm đơn xin vay
ngoại tệ ký quỹ L/C.
- Cho vay thanh toán hàng nhập khẩu hoặc tài trợ thanh toán toàn bộ chứng
từ giao hàng.
Theo hình thức này khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh doanh
mang tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất kinh doanh. Đồng thời
khách hàng phải lên kế hoách tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán khi đến
thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khoản thiếu hụt với ngân hàng tài trợ. Trên
cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phản ánh của khách hàng, ngân hàng sẽ ra
quyết định tài trợ và xác định mức ngân hàng chấp nhận tài trợ.
* Đối với L/C trong thanh toán hàng xuất khẩu
- Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở trên cơ sở L/C đã được
chấp nhận do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà nhập khẩu. Ngân
hàng có thể cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu để tiêu thụ sản phẩm và có thể thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng.
- Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước tiền hàng xuất khẩu: 16
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể
thương lượng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền
cho mình trước khi bộ chứng từ được thanh toán.