ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN TẾ HANH
TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI
ĐỐI VỚI XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
CỦA VIỆT NAM Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số : 60 34 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy, cô giáo đã
tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong chương trình đào
tạo Thạc sỹ Quản lý Kinh tế trong thời gian học tập và nghiên cứu, đặc biệt là
Tiến sĩ Đoàn Quang Thiệu, người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
thực hiện Luận văn tốt nghiệp.
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp và các cơ
quan, đơn vị liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi sưu tầm tài liệu và tham
gia đóng góp ý kiến về chuyên môn trong quá trình nghiên cứu.
Tác giả luận văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Phạm vi nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn 3
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 37
2.2. Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin 37
2.2.2. Phương pháp tổng hợp thông tin 37
2.2.3. Phương pháp phân tích thông tin 38
2.2.3.1. Phân tích sự thay đổi về cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam 38
2.2.3.2. Phân tích các yếu tố tác động đến xuất nhập khẩu hàng hóa 39
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
3.1. Tổng quan về quá trình tự do hóa thương mại ở Việt Nam 49
3.2. Thực trạng về tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam 52
3.2.1. Về xuất khẩu hàng hoá 52
3.2.2. Nhập khẩu hàng hoá 57
3.3. Các yếu tố tác động đến xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam 58
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG
HOÁ CỦA VIỆT NAM 58
4.1. Quan điểm đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam 58
4.1.1. Đẩy mạnh xuất nhập khẩu đi đôi với phát triển kinh tế đối ngoại 58
4.1.2. Phát triển kinh tế về xuất nhập khẩu nhưng vẫn ổn định chính trị 60
4.1.3. Phát huy sức mạnh nội lực 60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
4.1.4. Mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại 61
4.1.5. Đẩy mạnh xuất nhập khẩu phải đi đôi với nâng cao hiệu quả kinh tế 62
4.1.6. Tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế trong hoạt động kinh tế đối ngoại 63
4.1.7. Chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế 64
4.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam 68
4.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách 68
4.2.2. Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ kinh tế đối ngoại 72
Khoa học kĩ thuật
NSNN
Ngân sách Nhà nước
SX
Sản xuất
XNK
Xuất nhập khẩu
WB
Ngân hàng thế giới
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Singapore 27
Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu kinh tế của Trung Quốc 28
Bảng 1.3: Một số chỉ tiêu kinh tế của Indonesia 31
Bảng 1.4: Một số chỉ tiêu kinh tế của Thái Lan 32
Bảng 3.1: Cơ cấu biểu thuế quan của Việt Nam (ĐVT: %) 49
Bảng 3.2: Thuế quan bình quân áp dụng đối với một số quốc gia và khu vực 50
Bảng 3.3: Biểu thuế quan của Việt Nam giai đoạn 1997-2010 51
Bảng 3.4: 20 thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam (Triệu USD) 52
Bảng 3.5: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang một số khu vực 54
Bảng 3.6: Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam 55
Bảng 3.7: Cơ cấu xuất khẩu hàng hoá phân theo BEC (%) 56
Bảng 3.8: Cơ cấu nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam 57
đã đạt được cho thấy quá trình tự do hoá thương mại đã mang lại nhiều lợi ích
cho Việt Nam về thương mại, tăng trưởng kinh tế, đầu tư nước ngoài và xoá
đói giảm nghèo.
Chỉ trong vòng 25 năm kể từ khi thực hiện chính sách tự do hoá thương
mại, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Trong giai đoạn
1986 - 2010, tăng trưởng thương mại bình quân đạt 18,32% một năm, tăng
trưởng xuất khẩu bình quân đạt 20,94% và tăng trưởng nhập khẩu bình quân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
đạt 16,90%. Để đạt được mức tăng trưởng cao về thương mại chúng ta cần
phải kể đến rẩt nhiều yếu tố như cải cách kinh tế, tăng trưởng GDP, chính
sách thương mại, Do vậy, việc nghiên cứu tác động của chính sách tự do
hoá thương mại đối với xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam có ý nghĩa
quan trọng không những về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn
trong việc đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy thương mại giữa Việt Nam và
phần còn lại của thế giới. Nhận thức tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu tác
giả xin phép được chọn đề tài “Tác động của tự do hoá thƣơng mại đối với
xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam” làm đề tài luận văn cao học.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu của đề tài này là nhằm phân tích tác động của tự do hóa
thương mại đối với xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tự do hoá thương mại, xuất
nhập khẩu hàng hóa. Trên cơ sở đó tác giả xây dựng mô hình phân tích các
yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam
giai đoạn 1998 - 2010.
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 4: Giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của
Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Những lý luận cơ bản về tự do hoá thƣơng mại
1.1.1.1. Khái niệm về tự do hoá thương mại
Tự do hoá thương mại là sự thay đổi chính sách của chính phủ mà nới
lỏng các can thiệp của chính phủ vào lĩnh vực buôn bán quốc tế. Có hai dạng
thay đổi về chính sách. Một là, các công cụ về giá như thuế quan, các phụ thu
và thuế. Hai là, các rào cản phi thuế quan như hạn ngạch, cấm nhập khẩu, cấp
phép nhập khẩu, … Tự do hoá thương mại thường được thực hiện thông qua
các giai đoạn, bắt đầu từ khi thuế quan, hàng rào phi thuế quan hoặc cả hai
được giảm thiểu cho tới khi không có sự thay đổi nào khác, đôi khi ngược lại.
Xu hướng này bắt nguồn từ quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế
giới với những cấp độ toàn cầu hoá và khu vực hoá, lực lượng sản xuất phát
triển vượt ra ngoài phạm vi biên giới của mỗi quốc gia, sự phân công lao
động quốc tế phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu, vai trò của các công ty đa
quốc gia được tăng cường, hầu hết các quốc gia chuyển sang xây dựng mô
hình kinh tế mở với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế so sánh của mỗi
nước. Tự do hoá thương mại đều đưa lại lợi ích cho mỗi quốc gia cho dù trình
độ phát triển có khác nhau và nó phù hợp với xu thế phát triển chung của nền
văn minh nhân loại.
- Tác động đến cơ cấu xuất nhập khẩu
Một trong những lý lẽ ủng hộ tự do hoá thương mại cho rằng quá trình
tự do hoá thương mại sẽ giúp đa dạng hoá xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng
hàng chế biến trong tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia. Trong thực tế,
việc tăng tỷ trọng hàng chế biến một phần là do các hoạt động lắp ráp và tăng
nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.
Cải thiện cơ cấu xuất khẩu là cần thiết vì rất nhiều lý do. Một là, cải
thiện cơ cấu xuất khẩu rất quan trọng đối với duy trì xuất khẩu ổn định và bền
vững. Hai là, nó giúp phát triển công nghệ và tăng cường hiệu ứng chảy tràn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
của khu vực xuất khẩu đối với phần còn lại của nền kinh tế. Ba là, nó giúp
giảm thiểu tính dễ bị thương tổn của nền kinh tế đối với các yếu tố bên ngoài,
giảm thiểu khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế và thiệt hại về tỷ lệ mậu
dịch.
Ngoài ra tự do hóa thương mại còn tác động đến cơ cấu sản phẩm, xuất
nhập khẩu, văn hóa xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm đứng vững trên thị
trường quốc tế.
1.1.2. Những lý luận cơ bản về xuất nhập khẩu hàng hoá
1.1.2.1. Khái niệm về xuất nhập khẩu hàng hoá
Xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia
với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị
trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của quốc gia trong phân công lao
động quốc tế. Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại
thương, đã xuất hiện từ rất lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức đầu
tiên chỉ là hàng đổi hàng, song ngày nay hình thức xuất khẩu đã được thể hiện
dưới nhiềuhình thức khác nhau.Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh
vực, trong mọi điều kiện kinh tế,từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến tư
gia tăng tiến bộ xã hội và góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế thế
giới và quốc tế hoá. Lợi thế so sánh đó là các lợi thế về vị trí địa lý, về lao
động, về tài nguyên và sở hữu phát minh sáng chế. Hiện nay hoạt động xuất
khẩu của nước ta là một trong những mục tiêu cấp bách hàng đầu được chú
trọng. Bởi nó đem lại lợi ích vô cùng to lớn cho sự phát triển kinh tế văn hóa
của đất nước và tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu quốc tế.
Nhập khẩu cũng là một hoạt động diễn ra giữa hai hay nhều quốc gia
khác nhau ở trong các điều kiện môi trường và bối cảnh khác nhau. Nhập
khẩu tác động trực tiếp và quyết định đến sản xuất kinh tế, đời sống của mỗi
người trong mỗi một quốc gia. Nhập khẩu là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại cho sản xuất và các hàng hoá phục vụ tiêu
dùng mà trong nước chưa đáp ứng được hoặc sản xuất không hiệu quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Mỗi một quốc gia đều có một thế mạnh khác nhau, có thể tự sản xuất ra
nhiều loại hàng hoá khác nhau nhưng không thể không có sự trao đổi hàng
hoá với các quốc gia khác. Một quốc gia muốn phát triển được thì phải có một
nền kinh tế mở, thực hiện giao lưu trao đổi hàng hoá với các nước khác mà cụ
thể ở đây là phải thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu.
XNK là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Nó
không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ
mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi
nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn
định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân. XNK là hoạt động dễ
đem lại hiệu quả đột biến nhưng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với
một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước tham gia
XNK không dễ dàng khống chế được.
Hoạt động XNK được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều
một hình thức xuất nhập khẩu mà trong đó các nhà sản xuất, công ty xí nghiệp
và các nhà xuất khẩu, trực tiếp ký kết hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá
với các đối tác nước ngoài. Hình thức này không qua một tổ chức trung gian
nào, có thể trực tiếp gặp nhau cùng bàn bạc thảo luận để đưa đến một hợp
động hoặc không cần gặp nhautrực tiếp mà thông qua thư chào hàng, thư điện
tử, fax, điện thoại cũng có thể tạo thành một hợp đồng mua bán kinh doanh
thương mại quốc tế được ký kết.
Xuất và nhập khẩu trực tiếp có một số ưu điểm sau. Một là, giảm bớt
lợi nhuận trung gian sẽ làm tăng chênh lệch giữa giá bán và chi phí, tức là làm
tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất. Hai là, thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng
dẫn đến thống nhất và ít xảy ranhững hiểu lầm đáng tiếc. Ba là, giảm được chi
phí trung gian, nhiều khi chi phí này rất lớn, phải chia sẻ lợi nhuận. Bốn là,
giao dịch trực tiếp sẽ có điều kiện xâm nhập thị trường, kịp thời tiếp thu ý
kiến của khách hàng, khắc phục thiếu sót. Năm là, chủ động trong việc chuẩn
bị nguồn hàng, phương tiện vận tải để thực hiện hoạt động xuất khẩu và kịp
thời điều chỉnh thị trường tiêu thụ, nhất là trong điều kiện thị trường nhiều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
biến động.
Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu trực tiếp cũng có một số khó khăn nhất
định sau đây. Một là, đối với thị trường mới chưa từng giao dịch thường gặp
nhiều bỡ ngỡ, dễ gặp sai lầm, bị ép giá trong mua bán. Hai là, đòi hỏi cán bộ
công nhân viên làm công tác kinh doanh xuất khẩu phải có năng lực hiểu biết
về nghiệp vụ ngoại thương, ngoại ngữ, văn hoá của thị trường nước ngoài,
phải có nhiều thời gian tích luỹ. Ba là, khối lượng mặt hàng giao dịch phải lớn
mới có thể bù đắp được các chi phí trong giao dịch như: giấy tờ, đi lại, nghiên
cứu thị trường
- Xuất khẩu và gián tiếp (uỷ thác): Là hình thức xuất nhập khẩu mà
thị trường nước ngoài bị hạn chế, không thích ứng nhanh được với các biến
động của thị trường.
- Xuất khẩu gia công uỷ thác: Đây là hình thức kinh doanh mà trong đó
có một đơn vị đứng ra nhậpnguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho xí nghiệp
gia công, sau đó thu hồi sản phẩm để xuất khẩu cho nước ngoài. Đơn vị này
được hưởng phí uỷ thác theothoả thuận với các xí nghiệp sản xuất.
- Buôn bán đối lưu (xuất khẩu hàng đổi hàng): Buôn bán đối lưu là một
phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu,
người bán đồng thời là người mua. Khối lượng hàng hoá được trao đổi có giá
trị tương đương. Ở đây mục đích của xuất khẩu không phải thu về một khoản
ngoại tệ mà nhằm thu về một khối lượng hàng hoá với giá trị tương đương.
Tuy tiền tệ không được thanh toán trực tiếp nhưng nó đượclàm vật ngang giá
chung cho giao dịch này. Lợi ích của buôn bán đối lưu là nhằm mục đích
tránh được các rủi ro về sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại
hối. Đồng thời có lời khi các bên không đủ ngoại tệ thanh toán cho lô hàng
nhập khẩu của mình. Thêm vào đó, đối với một quốc gia buôn bán đối lưu có
thể làm cân bằng hạn mục thường xuyên trong cán cân thanh toán quốc tế.
- Xuất khẩu theo nghị định thư: Đây là hình thức mà doanh nghiệp xuất
khẩu theo chỉ tiêu của nhà nước giao cho để tiến hành xuất một hoặc một số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
mặt hàng nhất định cho chính phủ nước ngoài trên cơ sở nghị định thư đã ký
giữa hai Chính phủ.
- Xuất khẩu tại chỗ: Xuất khẩu tại chỗ là hình thức kinh doanh xuất
khẩu đang có xu hướng phát triển và phổ biến rộng rãi do ưu điểm của nó
đem lại. Trong trường hợp này hàng hoá và dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài
biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất
khẩu. Như vậy, xuất khẩu tại chỗ là việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho
- Tái xuất khẩu: Tái xuất là sự tiếp tục xuất khẩu ra nước ngoài những
mặt hàng trước đây đã nhập khẩu với điều kiện hàng hoá phải nguyên dạng
như lúc đầu nhập khẩu. Cũng có trường hợp hàng không về trong nước, sau
khi nhập hàng, giao hàng đó ngay cho người thứ ba. Như vậy ở đây có cả hoạt
động mua và bán nên mức rủi ro có thể lớn và lợi nhuận có thể cao. Hình thức
này được áp dụng khi một doanh nghiệp không sản xuất được hay sản xuất
được nhưng với khối lượng ít, không đủ để xuất khẩu nên phải nhập vào để
sau đó tái xuất. Hoạt động giao dịch tái xuất bao gồm hai hoạt động xuất khẩu
và nhập khẩu với mục đích thu về một khoản ngoại tệ lớn hơn lúc ban đầu bỏ
ra. Các bên tham gia gồm có: nước xuất khẩu, nước tái xuất khẩu và nước
nhập khẩu.
- Tái nhập khẩu: Là nhập khẩu từ nước ngoài mà hàng trước đó đã xuất
khẩu nhập lại hàng đó không qua chế biến. Về nguyên lý, tái nhập khẩu
không tính vào hàng nhập khẩu mặc dù phải quá thủ tục hải quan. Nhiều hàng
tái xuất thực hiện ở các khu tự do thương mại, khu này nằm ngoài vòng kiểm
tra cảu hải quan. Hàng nhập vào khu này không nộp thuế hải quan kể cả hàng
nhập để tái xuất đi nước khác. Nhưng nếu hàng này từ khu tự do thương mại
lại chuyển vào các vùng khác của nước đó (nước chủ nhà khu tự do thương
mại) thì phải nộp thuế nhập khẩu theo tỷ lệ chung của hải quan.
- Chuyển khẩu: Là hàng mua của nước này bán cho nước khác, không
làm thủ tục XNK. Như vậy, trong hoạt động chuyển khẩu không có hành vi
mua bán mà chỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho, lưu bãi,
bảo quản,… Bởi vậy mức độ rủi ro trong hoạt động nói chung là thấp và lợi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
nhuận cũng không cao.
- Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá: Sở giao dịch hàng hoá là một thị
trường đặc biệt, tại đó thông qua những người môi giới do sở giao dịch chỉ
sản xuất hàng hoá. Và vì vậy trên quy mô toàn thế giới thì tổng sản phẩm
cũng sẽ được gia tăng.
Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, xuất nhập khẩu có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên cơ sở khai thác
và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và thế mạnh sẵn có về lao động, đất đai
và các tài nguyên khác của nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho nhân
dân lao động, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và qui trình công nghệ sản xuất,
thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá đất nước, đáp ứng các yêu cầu cơ
bản và cấp bách về sản xuất và đời sống, đồng thời góp phần hướng dẫn sản
xuất, tiêu dùng và điều hoà cung cầu để ổn định thị truờng trong nước.
- Đối với nhập khẩu: Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của
thương mại quốc tế, nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến
sản xuất và đời sống. Nhập khẩu là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật
công nghệ tiên tiến, hiện đại cho sản xuất và các hàng hoá cho tiêu dùng mà
sản xuất trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng nhu
cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu những thứ mà sản xuất
trong nước sẽ không có lợi bằng xuất khẩu, làm được như vậy sẽ tác động tích
cực đến sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế
quốc dân về sức lao động, vốn, cơ sở vật chất, tài nguyên và khoa học kĩ
thuật. Chính vì vậy mà nhập khẩu có vai trò như sau:
+ Thúc đẩy nhanh quá trình sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyển
dịch cơ cấu kinh tế cao theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
+ Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo
một sự phát triển cân đối ổn định, khai thác đến mức tối đa tiềm năng và khả
năng của nền kinh tế vào vòng quay kinh tế.
+ Đảm bảo đầu vào cho sản xuất tạo việc làm ổn định cho người lao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
nhập khẩu máy móc thiết bị, hiện đại hoá hàng công nghiệp xuất khẩu trên thế
giới. Trong thương mại quốc tế xuất khẩu không chỉ để thu ngoại tệ về mà
còn là với mục đích bảo đảm cho nhu cầu nhập khẩu hàng hoá dịch vụ khác
nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, tăng trưởng nền kinh tế và tiến tới xuất
siêu, tích luỹ ngoại tệ. Xuất khẩu với nhập khẩu trong thương mại quốc tế vừa
là tiền đề của nhau, xuất khẩu để nhập khẩu và nhập khẩu để phát triển xuất
khẩu. Đặc biệt ở các nước kém phát triển , một trong những vật cản chính đối
với sự phát triển kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn. Vì vậy nguồn huy động cho
nước ngoài được coi là nguồn chủ yếu cho quá trình phát triển. Nhưng mọi cơ
hội đầu tư hoặc vay nợ nước ngoài chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư hoặc người
cho vay thấy được khả năng xuất khẩu của quốc gia đó. Vì đây là nguồn bảo
đảm chính cho nước đó có thể trả nợ được.
+ Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại.
Hoạt động xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất định hướng
sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu
sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã đang và sẽ thay đổi mạnh mẽ. Có hai
cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu với sản xuất và sự dịch chuyển cơ
cấu kinh tế. Cách nhìn nhận thứ nhất coi thị trường là mục tiêu để tổ chức sản
xuất và xuất khẩu, quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Cách nhìn nhận thứ hai cho rằng: chỉ
xuất khẩu những hàng hoá thừa trong tiêu dùng nội địa, khi nền kinh tế còn
lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng. Nên chỉ chủ
động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm vi
hẹp và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát
triển.
+ Xuất khẩu là một trong những nhân tố cơ bản để thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế quốc gia. Một là, xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng