LỊCH sử mỹ THUẬT Tìm hiểu một số loại hình nghệ thuật qua các thời kỳ - Pdf 24

LỊCH SỬ MỸ THUẬT
( Tìm hiểu một số loại hình nghệ thuật qua các thời kỳ)

A/. MỸ THUẬT THỜI LÝ

*. Đặc điểm mỹ thuật thời Lý
1. Nghệ thuật kiến trúc.

Trên cơ sở" thức kiến trúc Đông Sơn" đã hoàn chỉnh trong thời Bắc thuộc,
nhân dân ta lại tiếp thu Phật giáo và đi kèm với nó là việc xây dựng chùa tháp.
Hẳn trình độ xây dựng của thợ Việt có tay nghề cao, nên thái thú Tôn Tú đã
bắt hơn nghìn thợ thủ công Giao Chỉ đưa về Bắc để giúp vua Ngô xây dựng
kinh đô Kiến Nghiệp. Ngay khi đất nước giành được độc lập, công việc hàng
đầu là phải " an cư" và cũng để thể hiện diện mạo nhà nước, nên sau khi đã
định đô thì phải dựng đô.
1.1. Kiến trúc thành Thăng Long
Nếu Ngô Vương Quyền mở đầu nên chính thống, để có chỗ làm việc ngay
đã dùng lại kinh đo Cổ Loa vốn xây dựng từ hơn nghìn năm trước; Đinh Tiên
Hoàng thống nhất đất nước xây dựng kinh đô Hoa lư ở gần quê hương có núi
sông hiểm trở, và vua Lê Đại Hành vừa thắng ngoại xâm vẫn cần đến Hoa Lư
để thủ thế, thì vua Lý Thái Tổ với hoài bão xây dựng một quốc gia đàng
hoàng, sau khi hỏi ý kiến và được quần chúng đồng tình, đã quyết định xây
dựng kinh đô mới là Thăng Long.
Kinh thành Thăng Long được khởi dựng từ mùa thu năm 1010 đến mùa
xuân năm 1011 xong cơ bản, về sau được bổ xung vào năm 1029 và 1203.
Với dấu tích hiện còn bờ đê và những đoạn thành cao, nối lại cho vòng thành
khép kín dài trên 20km, được xây dựng ở vị trí trung tâm của đất nước nơi
giữa đồng bằng, các núi sông lớn đều chầu về, dễ dàng liên hệ với cả nước
bằng đường bộ hoặc bằng đường thuỷ, có thể tấn công hay phòng ngự đều
thuận lợi, từng được khai thác từ đầu thời đại đồ đồng và đến thế kỷ X đã trở
thành trung tâm kinh tế – văn hoá " muôn vật cực kỳ giàu tịnh đông vui".

ao, vườn ngự để vừa tôn cảnh trí vừa điều hoà khí hậu, đảm bảo môi trường
xanh, đẹp.
Ngoài Hoàng thành là nơi sinh hoạt cảu đủ tầng lớp xã hội, về cơ bản cũng
quy hoạch theo bốn phía. Phía bắc có hồ Dâm Đàm ( Hồ Tây) là thắng cảnh
nổi tiếng với đền Đồng Cổ tổ chức hội Thề hàng năm, đền Quáng Thánh,
cung Từ Hoa để công chúa cùng các cung nữ trồng dâu nuôi tằm, có các làng
hoa Nhật Chiêu, Nghi Tàm, Quảng Bá cung cấp hoa cho kinh thành. Phía nam
có phủ đệ của các thái tử, hoang tử và quan lại, doanh trại của quân đội, Văn
miếu và trường Quốc Tử Giám, chùa Thắng nghiêm với lầu Thiên Phật và quả
chuông 800 lạng bạc, đàn Xã Tắc để cầu được mưa và đàn Hoàn Khâu để tế
giáo, có trường bắn để đua ngựa, bắn cung và tập võ. Phía Đông là nơi buôn
bán nhộn nhịp, có hồ Lục Thuỷ với tháp Báo Thiên là đài chiến thắng, sông
Hồng thường mở hội đua thuyền. Phía Tây là khu nông nghiệp, có 13 trại mới
được khai thác, nhiều dinh thự trên những gò đồi, các vua Lý thường tổ chức
lễ mừng sinh nhật ở đây.
Khi thành Thăng Long khi xây dựng đã bám theo thuyết phong thuỷ, coi sông
To Lịch là con rồng vươn mình từ sông Nhuệ, ngoi lên sông Hồng đón ánh
dương và nhận nước, có rốn là núi Nùng tập trung khí thiêng, có chân đạp
vào hồ Trúc Bạch và hồ Gia Ngư.
Trong Hoàng thành các cung điện đều hướng tâm vào nơi vua coi chầu, phân
bố cân đối hai bên. Ngoài Hoàng thành, mỗi hạng dân ( sĩ – nông – công –
thuông ) có một hku vực hoạt động riêng, khu nào cũng đan xen nhiều thắng
cảnh và di tích, nhiều sinh hoạt văn hoá của triều đình.
1.2. Kiến trúc tôn giáo
Kiến trúc Phật giáo thời Lý được thư tịch nói đến nhiều và một số nơi còn
để lại dấu tích chùa tháp, mà tháp mới là công trình trung tâm.
a. Tháp phật
Tháp thời Lý là đền thờ phật giáo, trong lòng có pho tượng Phật như tháp
phật Tích, tháp Chương Sơn, tháp Tường Long Riêng tháp chùa Báo Thiên
với tên Đại Thắng Tư Thiêm lại mang tư cách đài chiến thắng báo công với

- Chùa dựng trên một cột: Sử cũ cho hay Thăng Long có " Lầu chuông một
cột, sáu cạnh, hình hoa sen " trong điện Linh Quang, chùa Linh Xứng (Thanh
Hoá) có toà sen trối lên mặt nước, trong có tượng Ngũ Trí Như Lai sắc vàng
rực rỡ". Đặc biệt chùa Một Cột tức Diên Hựu tự được bia và sử cũ miêu tả:
chùa được dựng giữa hai lần hồ, có hành lang bao quanh và cầu cong đi vào,
riêng cây cột đã cao tới mười trượng chạm đủ ngàn cách sen. Đỉnh cột dựng
ngôi chùa mang hình bông sen là " y theo mưu mới, lại đưa vào dấu tích
xưa". Dấu tích xưa là là kiểu nhà mái tròn khắc trên trống đồng Đông Sơn, là
cây hương dựng trên đầu trụ, là cái chòi trên cành cây Trên cơ sở đó đã
sáng tạo theo mưu mới là giấc mơ cảu vua Lý Thái Tông được Quan Âm dắt
lên đài sen. Truyền rằng riêng cây cột đá đã cao hơn 20m, vậy ngôi chùa trên
đó phải lớn và toàn cảnh rất rộng.
- Chùa kiêm hành cung: loại chùa này gắn với hoàng gia, thường được nhà
vua ghé thăm, để lên chùa, tổ chức cùng quân thần đối cảnh làm thơ. Được
xây ở nơi thắng cảnh, gần với núi sông ngoạn mục, chiếm cả vạt núi, đồng
thời cũng hay có tháp phật để trải rộng lại vươn cao.Hình điêu khắc ở những
chùa này phổ biến là rồng để vừa gợi nguồn nước vừa tượng trưng cho vua.
Tiêu biểu là các chùa Phật Tích, Tường long, Long Đọi, Chương Sơn.
- Chùa gắn với cả quý tộc và dân làng : Các bà Hoàng thương tham gia đóng
góp, có thể dựng ở các sườn núi ( như chùa Vĩnh phúcm chùa Tĩnh Lự ở Bắc
Ninh) nhưng phổ biến là ở cánh bãi đầu làng ( như chùa Bà Tấm ở Hà Nội,
chùa Hương Lãng ở Hưng Yên), mặt bằng khá rộng, điều khắc không có hình
rồng, thường có tượng con sấu trên thành bậc cửa và sư tử đội toà sen mà
dân gian gọi là " ông Sấm" gắn liền với việc cầu đảo cần cho nông nghiệp lứa
nước.
- Chùa làng: dựng ở cùng quê hẻo xóm núi ít người qua lại ( như chùa Chèo ở
Bắc Giang, chùa Kim Hoàng ở Hà Tây), quy mô nhỏ, dấu vết còn lại hiếm hoi,
không được thư tịch đề cập. Có thể lúc đầu đây chỉ là thảo am hay mái đá.
Đôi khi có sự tham gia cảu quy tộc nhưng ở miền núi khuất nẻo.
Kiến trúc chùa thời Lý tuy không còn, song thư tịch đương thời đôi khi có

1m85 ( tương đương 6 thước thời Lý). Phần bệ không còn nguyên và đã làm
lại toà sen cao thêm 0m84 nữa, vốn xưa ở trong lòng tháp và được thếp
vàng. Đã từ lâu phần sơn thếp bong hết để lộ đầy đủ phần lõi được chạm rất
cẩn thận và hoàn chỉnh. Tượng được bố cục theo khối nón vững vàng, ngồi
thiền khuỳnh hai đầu gối, lưng thẳng đứng, mắt hơp cúi xuống, do đó từ trên
cao có sự giao cảm với các Phật tử đang chiếm bái. Toàn thân tượng khuôn
trong đường viền khép kín, nhưng do mảng khối óng chuốt nên cứ chập chờn
– nhất là khi được chiếu sáng. Tượng mang vẻ đẹp quý phái cảu người phụ
nữ Việt Nam. Mặt trái xoan, cổ cao 3 ngấn, thân hình dong dỏng, mình mỏng.
Đỉnh đầu có nhục kháo nhô cao, tóc xoăn, tai dài là những quý tướng. Đôi
mắt đăm chiêu khép hở, cặp lông mày thanh cong giao tế nhị, các ngón tay
thon thả. Tấm áo dài óng ả có đường gân cuộn xoáy ở bả vai phải, rồi lượn
theo các nếp áo như trôi chảy vào không gian, chỉ đọng lại ở thân mình vì bị "
vướng". Tượng được tạo bằng những mảng khối óng mượt, đường nét minh
triết, từng chi tiết tao nhã và trí tụê. Tất cả toát lên vẻ đẹp cổ điển về một
tâm hồn từ bi, vị tha. Khối tượng tính lặng, trang nghiêm nhưng được đặt
trên toà sen nửa khối cầu lại toạ ấn tượng chao đảo. Toà sen này làm lại ở
thời sau, hơi nhỏ so với khuỳnh chân ngồi thiền. Đối chiếu với bức bệ tượng
các chùa khác cùng thời kỳ dưới toà sen còn thiếu khối tượng sư tử hay đôi
lân chầu ngọc. Phần dưới cùng là bệ bát giác khối nón gồm nửa dưới là
những lớp sóng vừa dàn ra lại vươn lên, từng đợt mênh mông vô tận, nửa
trên là hai tầng bậc cấp thu vào, có mặt nằm chạm hoa dây như cúc cuống
hoa có người bé tí leo trèo, có mặt đứng chạm rồng rắn thoắt đuôi nhau,
Ngược với khôi tượng trơn, phần bệ phủ kín hoa văn với kỹ thuật tỉ mỉ, chính
xác như chạm vàng bạc.
Chùa Ngô Xá ở chân núi cũng có pho tượng Phật đưa từ phế tích tháp
Chương Sơn ở đỉnh núi xuống, lớn bằng người thực, cấu tạo chung giống như
tượng chùa Phật Tích, nhưng khuôn mặt thực hơn với người Việt ( long mày
không giao nhau, mũi hơi gãy, mặt hơi xếch, tai không chảy). Tượng Phật
chùa Kim Hoàng bị mất đầu, thân hình cso thô hơn tượng Phật Tích một chút

thế nằm cao 1m, rộng 1m36, còn ở chùa Hương Lãng (Hưng Yên) chỉ có một
con chạm cả phần đuôi, dài 2m30 còn phần đầu như ở chùa Bà Tấm. Hình
dáng là con sư tử phủ phục đội toà sen, trán có chữ Vương là chúa rừng
xanh. Ngoài những lông xù cuộn xoáy, dọc chân và quanh mép còn có hang
hoa văn dấu hỏi tựa nhau, quang miệng có những bông hoa nhiều cánh,
phần đuôi được trang trí rất kỹ, có lẽ do sư tử gầm như tiếng sấm, lại cũng
do ước vọng cần mưa nên địa phương gọi sư tử là " ông Sấm"
Còn 5 cặp tượng thú chùa Phật Tích, từ giữa toả ra là sư tử – voi – trâu – tê
giác – ngựa, tất cả đều to bằng trâu ngựa thực và đều nằm trên toà sen, là
những con vật thiêng cảu thế giới nhà Phật.
Tượng và bệ liền khối đá. Trang trí phần bệ đáng chú ý hơn cả là con vật
thần thoại gần giống như người nhưng đươi lại uốn lượn như mình rồng,
chạm tinh tế, thống nhất phong cách nghệ thuật Lý. Song phần tượng, cả 5
loại thú đề là những con vật thực, từ con vật rất thân thuộc ( trâu) đến
những con vật hầu như không có ở Việt Nam ( sư tử) nhưng đều được chạm
rất thực, khối hình to mập, dáng khoẻ chắc, cso phần xa với phong cách Lý
mà đến thời Trần mới phát triển.
2.2. Chạm khắc trang trí
Trong điêu khắc Lý đặc biệt phải kể đến mảng chạm nổi trên đá với sự tinh
khéo như chạm vàng, bạc. ở đây nổi lên một số đề tài là rồng, nhạc công, vũ
nữ và hoa lá.
a. Hình rồng rắn

Có một số con rồng rất lớn, thân đuôi ra dài vài mét ( như ở cột đá chùa
Dạm, đế bia chùa Long Đọi và chùa Chương Sơn, trong ao rồng cảu Phật
Tích), song phần lớn là những con rồng nhỏ dài mười phân nằm trong một số
đồ án gọn xinh theo các hình tròn, thoi, chữ nhật, lá đề, nửa lá đề nhưng
luôn thống nhất về cấu tạo : đầu to với bờm tóc mượt bay, răng nanh cuộn
xoắn với môi trên lại có thêm đường viền thành chiếc mào phập phồng như
ngọn lửa, mũi như đoạn vòi co dãn, lông mày cuộn vòng lên cả hai đầu và

múa tiến vào vòng sáng, động tác múa thống nhất nhưng tay lại biểu diễn
những nhạc cụ khác nhau, từng cặp từ hai đầu vào giữa là trống cơm và
trống da, đàn nguyệt và nhị, tiêu và sáo, đàn tranh và đàn thập lục, cặp
phách nở và chập. Từng người đều chân thấp chân cao, mình uốn vặn ba
khúc, từ búi tóc cao và cổ chân còn toát ra nhưng dải lụa bay lượn nhịp
nhàng, phục trang đẹp gọn làm nổi các đường lượn của thân thể tròn lẳn.
Bức chạm đông người mà không che khuất nhau, ai cũng ở chính diện với độ
lớn bằng nhau, ở đây như có cả tính dân chủ công đồng làng xã.
Đề tài vũ nữ còn được thể hiện ở tay vịn thành bậc cửa tháp Chương Sơn, cả
2 mặt giống nhau : lớp trên chạm bảy vũ nữ, lớp dưới chạm băng hoa. Băng
hoa mặt trong chia ra các ô tam giác vuông cân để ứng với các đầu bậc thì
để trơn, và do đó bức chạm phải để dốc 450 hình người mới đứng. Băng hình
vũ nữ cao 0m27 và dài 2m15, từng hình đều to, rõ và dáng chung như các
nhạc công Phật Tích nhưng hai tay đaư lên cao dâng hiến, tay trước cầm cả
hoa và lá sen cuộn tròn.
c. Hình hoa lá

Trên nhiều mặt phẳng cảu kiến trúc và của bệ tượng người xưa thường
chạm hoa lá theo từng băng dài, phần lớp là cúc sen đan xen nhau. Dây hoa
với nhữg lá nhỏ toả về hai bên là chung cho cả hai thứ hoa, uốn lượn bao lấy
từng bông hoa tròn. Hoa được cách điệu nhưng có thể nhận ra sen và cúc, có
khi chỉ là hoa cúc nhưng nhìn góc độ khác nhau, đều lớn như nhau. Hai loại
hoa này thường được gán cho hai tính chất thanh cao ( sen) và ẩn sĩ ( cúc),
song trong văn hoá tâm linh nó còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn. Nhà thơ Trần
Nguyên Đán ở thời Trần đã nhận ra ở hoa cúc có khí mạnh và tài năng cảu
trời đất, nó coi thường cả uy của sương và sự lấn của tuyết.
- Cúc còn tượng trưng cho mặt trời để đôi rồng chầu vào, là biểu hiện của khí
dương. Còn sen ở nước,cả trong Phật thoại và triết lý dân gian đều xem là
dấu hiệu yếu tố âm, gợi hình mặt trăng. Hình chạm hai thứ hoa này đan xen
nhau còn là sự hoà hợp âm dương để tạo phúc cho cuộc sống cả xã hội, và

hiện một cách hiện thực.
Mặc dù nhà Lý quản lý đất nước sau khi thoát khỏi Bắc thuộc đã hơn 70
năm, sog hầu như không được thừa hưởng thành quả mỹ thuật của các triều
Ngô - Đinh – Tiền Lê. Nhưng mỹ thuật Lý vừa xuất hiện đã đạt được vẻ đẹp
cổ điển chuẩn mực, nó là biểu hiện cảu ý thức muốn xây dựng một quốc gia
đàng hoàng có nền văn hoá riêng, nên trên cái nền xã hội thái bình thịnh trị,
được Phật giáo gợi hứng đã biết sáng tạo trên cơ sở sự hứng khởi của đất
nước, khai thác yếu tố thích hợp từ trong vốn cổ Đông Sơn và qua giao lưu lại
tiếp nhận một phần thành quả của các nền văn hoá láng giềng. Đó là hướng
đi đúng, tạo phẩm chất nghệ thuật cao cho mỹ thuật Lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status