ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––– NGUYỄN NGỌC TÂN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƢỢNG CỦA
HOA CÚC ĐÀI LOAN TẠI PHƢỜNG TÚC DUYÊN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP \
Mã số: 60.62.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thuý Hà
Thái Nguyên, năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày… tháng… năm 2011
Tác giả
Nguyễn Ngọc Tân
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT
: Công thức
ĐC
: Đối chứng
NL
: Nhắc lại
TGST
: Thời gian sinh trưởng
TLBH
: Tỉ lệ bệnh hại
TLSH
: Tỉ lệ sâu hại
TN
: Thí nghiệm
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển
hoa cúc Đài Loan 35
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng
chiều cao của hoa cúc Đài Loan 36
Bảng 4 4: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái ra lá của hoa
cúc Đài Loan 38
Bảng: 4.5. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất, chất lượng của
hoa cúc Đài Loan 40
Bảng 4.6a. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tình hình sâu hại của hoa
cúc Đài Loan 43
tăng trưởng chiều cao của hoa cúc Đài Loan 66
Bảng 4.18: Ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng đến động
thái ra lá của hoa cúc Đài Loan 69
Bảng 4.19: Ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng đến năng
suất, chất lượng của hoa cúc Đài Loan 71
Bảng 4.20a. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến tình hình
sâu hại của hoa cúc Đài Loan 75
Bảng 4.20b. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến tình hình
bệnh hại của hoa cúc Đài Loan 76
Bảng 4.21 Sơ bộ hạch toán thu chi phí khi sử dụng chất kích thích sinh
trưởng cho hoa cúc Đài Loan 77
DANH MỤC CÁC HÌNH
Đồ thị 1: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều
cao cây của hoa cúc Đài Loan 37
Đồ thị 2: Ảnh hưởng của mật động trồng đến động thái ra lá của hoa
cúc Đài Loan 39
Đồ thị 3: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây của hoa cúc Đài Loan 51
Đồ thị 4: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái ra lá của
hoa cúc Đài Loan 54
Đồ thị 5: Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến động thái
tăng trưởng chiều cao của hoa cúc Đài Loan 66 MỤC LỤC
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu 28
3.1.3 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2010 đến tháng 2 năm 2011 28
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
3.2.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển hoa cúc
Đài loan 28
3.2.2. Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và phát triển hoa cúc
Đài loan 29
3.2.3. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến sinh trưởng và phát
triển hoa cúc Đài loan 30
3.3. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31
3.3.1. Các biện pháp kỹ thuật áp dụng 33
3.3.2 Phân tích và xử lý số liệu 33
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1. Thí Nghiệm mật độ trồng 34
4.1.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ sống của hoa cúc Đài Loan 34
4.1.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển hoa cúc
Đài Loan 34
4.1.3 Ảnh hưởng mật độ trồng đến chiều cao hoa cúc Đài Loan 36
4.1.4. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái ra lá của hoa cúc Đài Loan 38
4.1.5. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất, chất lượng của hoa
cúc Đài Loan 40
4.1.6. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tình hình sâu bệnh hại của hoa
cúc Đài Loan 43
4.3.5. Ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng đến năng suất,
chất lượng của hoa cúc Đài Loan 70
4.3.6. Ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng đến tình hình
sâu bệnh hại của hoa cúc Đài Loan 74
4.3.7. Sơ bộ hạch toán thu chi khi sử dụng chất kích thích sinh trưởng
cho hoa cúc Đài Loan 77
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 78
5.1. Kết luận 78
5.2. Đề nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoa là một sản phẩm đặc biệt vừa mang giá trị tinh thần vừa mang giá
trị kinh tế. Đã từ lâu, hoa đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con người.
Xã hội càng phát triển nhu cầu về hoa càng tăng. Ngày nay hầu hết người dân
trên thế giới đều biết đến hoa và sử dụng hoa. Giá trị sản lượng hoa trên toàn
thế giới tính đến năm 1999 đạt gần 40 tỷ USD. Ở một số nước như: Hà Lan,
Mỹ, Trung Quốc ngành kinh doanh hoa được coi là một trong những ngành
quan trọng góp phần đáng kể cho ngân sách Quốc gia. (Theo Nguyễn Mạnh
Khải, Nguyễn Quang Thạch (1999) [11]).
Việt Nam có truyền thống sản xuất hoa từ lâu đời. Với khí hậu đa dạng,
đất đai màu mỡ, phần đông dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp nên rất
chỉnh theo hướng có lợi nhất cho người trồng hoa. Từ quan điểm như vậy, và
để khắc phục những hạn chế nêu trên, góp phần thực hiện mục tiêu mở rộng
diện tích, nâng cao hiệu quả sản xuất hoa cúc trong những năm tới, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng
cao năng suất, chất lượng của hoa cúc Đài loan (Chrysanthemum
morifolium) tại PhườngTúc Duyên thành phố Thái Nguyên.
2. Mục đích yêu cầu của đề tài
* Mục đích
Kết quả của đề tài nhằm cải thiện năng suất, chất lượng, độ bền hoa, hiệu
quả kinh tế đối với giống cúc Đài loan và góp phần hoàn thiện quy trình kỹ
thuật trồng hoa cúc Đài loan tại Thái Nguyên.
* Yêu cầu
- Xác định ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật: Xác định mật độ trồng,
phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng phù hợp để nâng cao năng suất và
chất lượng của giống cúc Đài loan.
- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cúc Đài
Loan đảm bảo tính khả thi cao, khả năng ứng dụng rộng rãi, hiệu quả thiết thực.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
thấp mẫu mã hoa chưa đẹp, chủng loại và hình dáng hoa chưa phong phú nên
không đáp ứng dược nhu cầu thị trường.
Theo kết quả điều tra, khảo sát thị trường tiêu thụ hoa, cây cảnh trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua cho thấy. Thị trường tiêu thụ hoa
cây cảnh của tỉnh chủ yếu là nội tỉnh, tại các khu dân cư tập trung đông như
TP Thái Nguyên, các thị xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Số lượng hoa, cây cảnh
sản xuất trong tỉnh mới chỉ đáp ứng được 62,3% nhu cầu thị trường, còn lại là
hoa được vận chuyển từ nới khác đến. Chủng loại hoa vận chuyển từ thị
trường khác đến Thái Nguyên chủ yếu là các loại hoa mà người dân địa bàn
tỉnh chưa sản xuất được hoặc sản xuất với số lượng còn hạn chế như: Hoa
lily, hoa hồng, hoa layơn
Theo niên giám thống kê của tỉnh Thái Nguyên năm 2006, dân số thành
thị là 260.000 người, nông thôn là 849.000 người. Như vậy khi đời sống ngày
càng được nâng cao thì nhu cầu thẩm mỹ ngày càng lớn, vì vậy với sự phát
triển về kinh tế của tỉnh, nhu cầu hoa ở đây trong những năm tới sẽ ngày một
tăng cao. Đây sẽ là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển, mở
rộng sản xuất hoa, cây cảnh trên địa bàn tỉnh.[15]
2.1.2. Cơ sở lý luận
2.1.2.1. Các nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá
Việc sử dụng phân bón thông thường cây hấp thụ nhờ lông hút của bộ
rễ và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: đất, nước, giống, thời tiết, côn trùng, vi sinh
vật… Mặt khác chi phí phân bón trong nông nghiệp chiếm đến 30 - 50%.
Trong lúc đó, mục đích của người sản xuất không chỉ nhằm đạt năng suất tối
đa mà còn tìm lợi nhuận cao nhất. Cho nên con người phải tìm đến những
biện pháp bón phân đạt hiệu quả cao nhất, tiết kiệm nhất, hiệu suất cao nhất.
Phân bón qua lá là biện pháp rất quan trọng trong những biện pháp đó. 5
6
Người ta đã xác định thời kỳ cây lớn cần nhiều các nguyên tố Ca, K và
N. Khi tạo hoa, trái, củ lại cần nhiều nguyên tố P, N, nguyên tố trung lượng
và vi lượng.
Những kết quả nghiên cứu tác dụng của humat đã cho thấy hiệu quả về
cải tạo tính chất vật lý của đất, làm thay đổi tính chất hoá học của đất và hiệu
quả sinh học-kích thích sinh trưởng cây trồng.
2.1.2.2. Một số ứng dụng về dinh dưỡng qua lá
Theo nghiên cứu của Nguyễn Anh Kết - GĐ công ty Thanh Hà và cộng
sự đã đưa ra kết luận: Sử dụng phân bón lá hữu cơ sinh học KH giảm được
chi phí cho nhà nông, không độc hại cho người sử dụng và môi trường. Chẳng
hạn, nếu 01 ha bị ngập mặn từ 0,3 - 0,6%, diện tích thu hoạch không đáng kể
hoặc mất trắng thì khi đưa sản phẩm phân bón lá hữu cơ sinh học KH vào
chăm bón khi thu hoạch lợi nhuận tăng bình quân 4050000 - 6750000
đồng/ha. Nếu áp dụng với diện tích lớn hàng ngàn ha sẽ đưa lại một con số
không hề nhỏ. Có thể thấy rằng mặc dù chi phí cho sản xuất ít nhưng đem lại
hiệu quả kinh tế cao đồng thời cây trồng sẽ kịp thời vụ.
Ở những thời điểm thời tiết không thuận, phân bón lá được coi là chất
điều hoà sinh trưởng do có chứa nhiều các chất tăng trưởng, vitamin và một
số vi lượng rất cần thiết cho quá trình sinh trưởng của cây. Phân bón hữu cơ
lỏng Ước mơ nhà nông AGRODREAM được sản xuất từ phế thải tài nguyên
biển như cá, rong biển, tôm, cua, da động vật, phế thải giàu prôtein từ quá
trình sản xuất thực phẩm (thịt, nấm, bã bia, bã đậu tương, cám) theo phương
pháp thuỷ phân bằng enzyme ở nhiệt độ thấp nên các axit amin và vitamin
còn lại trong phân nhiều hơn. Phun phân bón lá thay cho phân bón thúc nhưng
chúng. Chính vì vậy mà sự cân bằng giữa các hormon có một ý nghĩa quyết
định. Nhìn chung có thể phân thành hai loại cân bằng là sự cân bằng chung và
sự cân bằng riêng giữa các hoocmon.
Sự cân bằng chung: Sự cân bằng chung được thiết lập dựa trên cơ sở
hai nhóm phytohoocmon có hoạt tính sinh lý trái ngược nhau: Nhóm chất kích
thích sinh trưởng và nhóm chất ức chế sinh trưởng. Sự cân bằng này được xác
định trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây. Trong quá trình phát 8
triển cá thể từ khi cây sinh ra cho đến khi cây chết thì sự cân bằng trong
chúng diễn ra theo quy luật là ảnh hưởng các kích thích giảm dần và ảnh
hưởng các ức chế tăng dần.
Sự cân bằng riêng: Trong cây có vô số các quá trình phát sinh hình thái
và hình thành cơ quan khác nhau như rễ, thân, lá, hoa, quả, sự nảy mầm, sự
chín đều được điều chỉnh bởi sự cân bằng của hai hay một vài hoocmon
đặc hiệu. Tái sinh rễ hoặc chồi được điều chỉnh bằng tỷ lệ giữa Auxin và
Xytokinin trong mô. Nếu tỷ lệ này nghiêng về Auxin thì rễ được hình thành
nhanh hơn và ngược lại. Hiện tượng ưu thế ngọn cũng được điều chỉnh
bằng tỷ lệ Auxin/Xytokinin. Auxin làm tăng ưu thế ngọn còn Xytokinin lại
làm giảm ưu thế ngọn
Tại bất cứ một thời điểm nào trong các quá trình đó cũng đều xác định
được một sự cân bằng đặc hiệu giữa các hoocmon đó. Con người có thể điều
chỉnh các quan hệ cân bằng đó theo hướng có lợi cho con người (Hoàng Minh
Tấn, Nguyễn Quang Thạch, 1994) [17].
b.Vai trò sinh lý của các chất điều tiết sinh trưởng
Vai trò sinh lý của Auxin:Auxin là một chất kích thích sinh trưởng,
trình tổng hợp axit nucleic, protein, diệp lục do đó mà ảnh hưởng đến hoạt
động sinh lý của cây (Hoàng Minh Tấn - Nguyễn Quang Thạch, 1993)[21].
d. Ưu điểm của việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất hoa.
Chất điều tiết sinh trưởng thực vật ngày càng được ứng dụng rộng rãi
trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong nghề trồng hoa nói riêng
Với nghề trồng hoa sử dụng chất điều tiết sinh trưởng có nhiều
thuận lợi, đó là:
- Hoa không phải là thực phẩm cho người và vật nuôi, do đó các ảnh
hưởng độc hại (nếu có) của chất điều tiết sinh trưởng không ảnh hưởng
đến con người và vật nuôi.
- Ở nồng độ rất thấp các chất điều tiết sinh trưởng đã phát huy tác dụng
đối với cây trồng nói chung và với hoa nói riêng nên dư lượng của nó trong
đất, nước là không đáng kể.
- Tác dụng của chất điều tiết sinh trưởng đối với hoa nhanh, rõ rệt.
- Các chất điều tiết sinh trưởng có thể làm thay đổi một số đặc điểm thực
vật học của cây hoa: thay đổi chiều cao cây, màu sắc lá, thời gian sinh trưởng, sự
ra hoa, chất lượng và tuổi thọ của hoa. Những chất có tác dụng kích thích sự sinh
trưởng của cây gọi là chất kích thích sinh trưởng như: Auxin, Gibberellin,
Xytokinin Những chất có tác dụng kìm hãm các quá trình sinh trưởng của cây
gọi là chất kìm hãm sinh trưởng như: Axit abxixic, Etylen 10
e. Nguyên tắc sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng
- Việc sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng thực vật trong nghề trồng
hoa cũng tuân theo các nguyên tắc chung như khi sử dụng chúng với các cây
trồng khác trong nông nghiệp là:
loại thực vật hoa cúc được xếp vào lớp hai lá mầm (Dicotyledonec), phân lớp
cúc (asterydae), bộ cúc (asterales), họ cúc (asteraceae), phân họ giống hoa
cúc (asteroideae), chi Chrysanthemum.[3]. Theo điều tra hiện nay thì chi
Chrysanthemum ở Việt Nam có 75 giống 200 loài và trên thế giới có tới
20.000 loài và trên 1.000 giống. Trong đó có 4 loài thông dụng nhất, được sử
dụng nhiều nhất để chơi hoa, làm cảnh đó là: C. morifolium; C. maximum; C.
coronarium; C.indicum.[10]
2.3. Nguồn gốc, lịch sử phát triển cây hoa cúc
Theo tài liệu cổ Trung Quốc thì hoa cúc có cách đây 3.000 năm. Trong
văn thơ Hán cổ hoa cúc có 30 - 40 tên gọi khác nhau như: Nữ hoa, Cam hoa,
Diên hoa Hoa Cúc có nguồn gốc từ một số loài dã sinh thuộc loại cúc
(Dendran thema), trải qua quá trình trồng trọt lai tạo và chọn lọc từ những
biến dị để có được những giống cúc ngày nay. Tuy không có những ghi chép
về lịch sử trồng trọt bắt đầu từ thời nào nhưng trong Sở từ (Trung Quốc) có
nói đến “Thu Cúc”. Có một bộ sách nổi tiếng về hoa cúc sớm nhất là vào năm
1104 đời Bắc Tống do Lưu Mông viết gọi là cúc Phổ. Sau đời Tống, sách tài
liệu về hoa cúc không dưới 30, 40 quyển, nội dung đề cập đến những vấn đề
giống, phân loại trồng trọt, sâu bệnh đã đóng góp rất lớn trong việc phát
triển hoa cúc ở Trung Quốc nói riêng và của thế giới nói chung. Đặng Văn
Đông (2005)[5]
Tuy nhiên phải từ những năm 1930 việc trồng hoa cúc ở Trung Quốc
mới bắt đầu được coi trọng, bảo hộ và đề cao. Lần đầu tiên vào năm 1982
Trung Quốc tổ chức triển lãm hoa Cúc ở Thượng Hải với trên 1.000 giống,
đánh dấu bước chuyển quan trọng trong sự nghiệp trồng hoa cúc. Các nhà làm
vườn thế giới đã thảo luận rất sôi nổi về việc phân loại hoa cúc và tương đối
thống nhất với cách phân loại của Trung Quốc. Năm 1993 giáo sư Lý Hồng
Triết trong tác phẩm “Hoa Cúc Trung Quốc” đã thu thập và mô tả trên 6.000
mẫu giống hoa cúc sau đó chỉnh lý thành tập sách trên 3.000 giống, ông đã
khi cây thực sinh còn nhỏ mới có rễ chính thức rõ ràng. Đầu chóp rễ có sức
phân nhánh mạnh, trong điều kiện đất thích hợp thì rất nhanh hình thành bộ
rễ có nhiều nhánh, điều đó có lợi cho sự hút nước và dinh dưỡng. Rễ của các 13
cây nhân từ phương pháp vô tính đều phát sinh từ thân và đều là rễ bất định.
Thân cúc bất kể ở đốt hay giữa lóng đều rất dễ hình thành rễ bất định, vì vậy
cây hoa cúc là một loại cây rất dễ nhân giống từ thể dinh dưỡng.[12]
2.4.2. Thân
Theo Nguyễn Xuân Linh (2002) Cúc là cây thân thảo nhỏ, có nhiều đốt
giòn rễ gẫy, càng lớn càng cứng, cây dạng bò hay đứng. Kích thước thân cao
hay thấp, to hay nhỏ, cứng hay mềm phụ thuộc vào từng giống và thời vụ
trồng. Những giống nhập nội thường to, mập, thẳng và giòn. Những giống cúc
dại hay cổ truyền Việt Nam thì ngược lại thân nhỏ, mảnh và cong. Thân có ống
tiết nhựa mủ trắng, mạch có bản ngăn đơn. Phụ thuộc vào từng giống, thông
thường chiều cao cây đạt từ 30 - 80cm, thậm chí có khi đến 1,5 - 2m. [9]
2.4.3. Lá
Lá cúc xẻ thuỳ có răng cưa, lá đơn mọc so le nhau, mặt dưới bao phủ
một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân hình mạng lưới. Từ mỗi nách lá thường
phát sinh ra một mầm nhánh. Phiến lá to nhỏ, dày mỏng, xanh đậm nhạt hay
xanh vàng còn tuỳ theo giống. Bởi vậy, trong sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế
cao thường tỉa bỏ các cành nhánh phụ đối giống cúc đơn và để cây sinh
trưởng phát triển tự nhiên đối với các giống cúc chùm. Từ những đặc điểm về
thân lá cho thấy, những giống cúc có năng suất cao thường có bộ lá gọn, thân
cứng mập và thẳng, khả năng chống đổ tốt.
2.4.4. Hoa, quả
C (thích hợp
cho vụ Thu Đông) bên cạnh đó có một số giống chịu nhiệt độ cao hơn (30 -
35
o
C). Nếu các giống ưa lạnh đem trồng vào thời vụ nóng, cây sẽ phát triển
kém, sinh trưởng yếu, màu sắc hoa nhợt nhạt dẫn đến chất lượng hoa xấu.
Ngược lại cúc chịu nhiệt, trồng vào thời vụ lạnh khi nhiệt độ thấp hơn 15
o
C
cây hầu như ngừng sinh trưởng hoặc sinh trưởng chậm, nhiệt độ thích hợp
cho cúc ra rễ là 16
o
C nên trong điều kiện miền Bắc Việt Nam việc giâm cành
cúc trong mùa hè nóng ẩm là hết sức khó khăn nếu không có biện pháp kỹ
thuật tác động phù hợp như tưới tiêu, bảo vệ thực vật và điều chỉnh hợp lý
một số yếu tố: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm bằng phương pháp nhân tạo (Đặng
Văn Đông, Đinh Thế Lộc, (2003)[7].