nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng vải tại huyện yên dũng, tỉnh bắc giang - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ NHUNG “NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƢỢNG VẢI
TẠI HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG” LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Lê Sỹ Lợi
2. PGS.TS. Đào Thanh Vân
THÁI NGUYÊN - 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là do chính tôi thực hiện, dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Lê Sỹ Lợi v à PGS. TS Đào Thanh Vân.
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả Nguyễn Thị Nhung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Mục đích 2
1.2. Yêu cầu 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Giới thiệu chung về cây Vải 4
2.1.1. Nguồn gốc và phân loại cây Vải 4
2.1.2. Các giống vải chủ yếu trên thế Giới và ở Việt Nam 6
2.1.3. Đặc điểm sinh vật học và yêu cầu ngoại cảnh của cây Vải 9
2.1.4. Các nghiên cứu về yêu cầu ngoại cảnh của cây vải 13
2.2. Các kết quả nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất
lượng vải trên thế giới và ở Việt Nam 17
2.2.1. Những nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây vải 17
2.2.2. Những nghiên cứu về các chất điều hoà sinh trưởng trên vải 21
2.2.3. Những nghiên cứu về tạo hình cắt tỉa và tác động của cơ giới 24

4.2.1. Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa đến thời gian ra lộc Thu 46
4.2.2. Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra lộc Thu 47
4.2.3. Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả
47
4.2.4. Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa đến năng suất, phẩm chất quả
50
4.2.5. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các biện pháp cắt tỉa 55
4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến năng suất, chất lượng vải
thiều 56
4.3.1. Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến khả năng đậu quả 56

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

v
4.3.2. Ảnh hưởng của GA3 đến khả năng giữ quả 57
4.3.3. Ảnh hưởng của GA3 đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất vải 59
4.3.4. Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến chất lượng vải 61
4.3.5 Hạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức phun GA3 62
4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá đến năng suất và chất lượng. 63
4.4.1.Ảnh hưởng của một số phân bón lá đến khả năng ra hoa và
đậu quả 63
4.4.2.Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng giữ quả 65
4.4.3.Ảnh hưởng của các loại phân bón qua lá đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất 66
4.4.4.
Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến chất lượng vải 69
4.4.5. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân qua lá 70
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
5.1. Kết luận 72

Yên Dũng 37
Bảng 4.2. Kết quả điều tra về mức độ đầu tư phân bón cho vải ở các
vùng nghiên cứu năm 2009 40
Bảng 4.3. Các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong thâm canh vải
của các hộ nông dân ở các vùng nghiên cứu năm 2009 42
Bảng 4.4. Tình hình sâu bệnh hại vải ở giai đoạn hoa và quả ở các vùng
nghiên cứu năm 2009 43
Bảng 4.5. Ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật cắt tỉa đến thời gian ra lộc
thu (ngày) 46
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra lộc thu 47
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả 48
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa đ ến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất 51
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa đến một số chỉ tiêu
quả vải 54
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến một số chỉ tiêu sinh
hoá quả vải 54
Bảng 4.11. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức cắt tỉa 55
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến tỷ lệ đậu quả 56
Bảng 4.13: Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến khả năng giữ quả 58
Bảng 4.14. Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất vải 61
Bảng 4.15. Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến một số chỉ tiêu quả vải 61
Bảng 4.16: Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến một số chỉ tiêu sinh hoá quả 62

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

viii
Bảng 4.17. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức phun GA3
(Tính cho 9 cây/công thức) 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU

Cây vải (Litchi sinensis Sonn) thuộc họ Bồ hòn, có nguồn gốc từ miền
Nam – Trung Quốc, Việt Nam và bán đảo Mã Lai. Cây vải là một trong
những cây ăn quả Á nhiệt đới đặc sản của Việt Nam. Quả vải có giá trị dinh
dưỡng cao, với hương vị thơm ngon nhiều chất bổ, được người tiêu dùng
trong và ngoài nước ưa chuộng. Trong thành phần của quả Vải có chứa các
chất có giá trị dinh dưỡng cao như: đường dễ tiêu; Vitamin B, C; Sắt;
Canxi….Quả Vải ngoài ăn tươi còn được chế biến như: Sấy khô, làm rượu
vang, bánh kẹo, nước giải khát… Hoa Vải hàng năm chứa một lượng mật lớn,
là nguyên liệu cho nghề nuôi ong. Ngoài ra cây Vải có khoang tán lớn, tán
tròn tự nhiên hình mâm xôi, cành lá sum suê quanh năm; nên cây Vải không
chỉ là cây ăn quả mà còn là cây bóng mát, cây chắn gió, cây tạo cảnh quan,
phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn, rửa trôi…góp phần cải tạo
môi trường sinh thái. Với những ưu điểm trên, hiện nay diện tích cũng như
sản lượng Vải ngày càng tăng cao trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Cục thống kê tỉnh Bắc Giang thì: Bắc Giang
là một trong những tỉnh có diện tích trồng Vải lớn (39.835 ha), chất lượng quả

1.1. Mục đích
Xác định các yếu tố hạn chế và áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nâng
cao năng suất, chất lượng vải huyện Yên Dũng – tỉnh Bắc Giang.
1.2. Yêu cầu
- Điều tra các hộ sản xuất vải, xác định yếu tố hạn chế năng suất, chất
lượng vải, nắm bắt thực trạng sản xuất và tiêu thụ vải của huyện.
- Phân tích đánh giá thực trạng và tìm ra các yếu tố hạn chế, những tiềm
năng thế mạnh phát triển cây vải của huyện.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật canh tác đến
năng suất và chất lượng vải của huyện.
- Bố trí thí nghiệm để đánh giá hiệu quả của một số biện pháp kỹ thuật
đến năng suất và chất lượng vải của huyện;
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải trong
thời gian tới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu
về cây vải của tỉnh Bắc Giang nói chung và của huyện Yên dũng nói riêng.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết các vấn đề khó
khăn trong sản xuất vải hiện nay của huyện như: năng suất chưa cao, vấn đề
về sâu bệnh, mẫu mã, chất lượng vải chưa đạt yêu cầu của thị trường… dẫn
đến hiệu quả sản xuất vải còn thấp.
Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ giúp các nhà khoa học và các cán
bộ kỹ thuật đưa ra các biện pháp canh tác mới phù hợp nhằm nâng cao năng
suất chất lượng vải, góp phần nâng cao giá trị sản xuất vải của người dân

đới trong đó có một số cây cho quả ăn ngon như vải, nhãn, chôm chôm. Về
đặc điểm phân loại cây vải là cây gỗ nhỡ, thường xanh, lá kép lông chim, hoa
nhỏ không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn, vỏ quả mỏng màu đỏ hồng hay đỏ nâu
mặt ngoài sần sùi có hạt, ăn hơi chua hay ngọt.
Theo FAO (1976) [49] theo tài liệu này viết về cây vải đã ghi lại thời
gian vào năm 100 trước công nguyên Hoàng Đế Hán Vũ đã đem vải vào miền
Nam Trung Quốc và miền Bắc Inđônêxia.
Theo nhiều tài liệu, cây Vải có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc,
Việt Nam và Bán đảo Malai.
Theo Trần thế Tục (2004) [37] nguồn gốc cây Vải có ở giữa miền Nam
Trung Quốc, Việt Nam và bán đảo Malaisia. Người ta thấy cây vải dại mọc
thành rừng trên diện rộng ở 4 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây,Vân Nam và
đảo Hải Nam (Trung Quốc), và theo điều tra của các nhà khoa học Trung
Quốc thì trên sáu vạn núi lớn ở huyện giáp ranh huyện Bác Bạch và huyện
Hồ Bắc của tỉnh Quang Tây đều có cây Vải dại, chứng tỏ cây Vải có nguồn
gốc từ Trung Quốc.
Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1989), [24] vào cuối thế kỷ
17, từ Trung Quốc, những cây vải đầu tiên được đưa đến myanma, sau đó lan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
rộng sang Đài Loan, mautirius, madagasca và Tây Ấn. Cuối thế kỷ 18 vải
được đưa sang Ấn Độ, Anh, Pháp, úc, Mỹ.
Đến thế kỷ 19, cây vải được đưa đến trồng tại israel. Vào những năm
30 của thế kỷ 20, các công nhân Hoa Kiều gốc Quảng Đông đã đưa cây vải
vượt qua xích đạo vào Công Gô. Hiện nay, vải được trồng ở gần 30 nước trên
thế giới nhưng chủ yếu được phân bố ở các nước vùng Đông Nam Á, châu
Đại Tây Dương, các đảo ở Thái Bình Dương và miền Nam châu Phi.
Ở châu Á, các nước trồng vải gồm có: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan,

giống vải nhiều nhất. Tuy vậy trong số hơn 100 giống vải được trồng ở Trung
Quốc chỉ có khoảng 15 giống là có khả năng sản xuất theo hướng hàng hóa, ở
mỗi vùng sinh thái có một số giống chủ lực.
Ở tỉnh Quảng Đông, các giống vải trồng mang tính chất thương mại
baila, baitangying, hiye, feizixao, gwiwei, nuomici và huaizhi với diện tích
mỗi giống trên 20.000ha.
Tỉnh Vân Nam giống lanzhu được xem là giống trồng chính với diện
tích xấp xỉ 25.000ha. Các giống mới được chọn tạo có năng suất cao, phẩm
chất tốt, hạt lép là: giống Hoonghu (khối lượng quả trung bình 24g/quả, tỷ lệ
ăn được 79%, đường tổng số > 18,5%, năng suất cao và ổn định); giống
dongguan seedlesss là giống chín sớm, có khả năng thích nghi cao với điều
kiện môi trường, khối lượng quả lớn 35,3 – 62,0 g/quả, có tỷ lệ quả hạt lép
cao trên 90%, đường tổng số >17%, tỷ lệ ăn được trên 80% (Nghê Diệu
Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998) [24].
Theo gosh, 2000, [46], ở Ấn Độ, vải được trồng tập trung ở các bang
vùng phía Đông, chiếm trên 60% tổng diện tích. Ở các bang phía Bắc Ấn Độ,
diện tích vải chiếm 16%. Các bang trổng chủ yếu vải ở Ấn Độ là: bihar
(chiếm trên 75% diện tích), west belgan, tripura, asam và uttaranchal. Các
giống vải trồng quan trọng là: shahi, bombai, china, deshi, calcutta, rose
scented và mazaffarpur. Hai giống lai mới được chọn tạo là H-73 và H-105 có
tiềm năng cho năng suất cao, đang phát triển mạnh trong sản xuất.
Theo dixon và cộng sự, 2003, [45], có khoảng trên 40 giống vải chủ lực
được trồng ở australia. Các giống hiện tại đang được trồng ở Bắc queesland la kwai
May pink, fay zee siu và souey Tung kwai Mai Pink là giống trồng phổ biến ở
miền Trung, miền Nam Queesland và Bắc New South Wales cùng với 2 giống
Salathiel và Wai Chi. Các giống quan trọng nhất hiện nay là Tai So, Haak Ip, Kwai
May Pink, Bosworth N
0
3, Wai Chi, Fay Zee Siu, Salathiel.


4
Nam Phi
Taiso, Bengal
5
Mỹ
Taiso, Kaimana
6
Thái Lan
Taiso, Waichee, Baidum, Chacapat, Kom
7
Trung Quốc
Fay Zee Siu, Bahlwp, No mai chee, Souey Tung, Taiso
Nguồn: Menzel (1995, 2002)
2.1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, sự phân chia các giống còn mang tính chất tương đối.
Theo Trần Thế Tục(1998, 2004) [36], [37], các giống vải của nước ta có thể

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
phân chia theo thời vụ thu hoạch, đặc điểm sinh trưởng hoặc phẩm chất
quả. Xét theo đặc điểm sinh trưởng và phẩm chất quả, có các nhóm: vải
chua, vải nhỡ, vải thiều; Xét theo thời gian thu hoạch, có các nhóm vải:
chín sớm, chính vụ, chín muộn.
- Nhóm vải chua (hay còn gọi là tu hú): cây cao lớn (khoảng 20 m) lá
to, phiến lá mỏng. Khi ra hoa, chùm hoa vải từ cuống đến nụ hoa đều phủ một
lớp lông đen. Quả thường chín vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5. Khi chín vỏ
quả mầu đỏ tươi, trọng lượng quả 30 - 50g, vỏ dày, hạt to, cùi mỏng và rất
chua, tỷ lệ cùi chiếm 60 - 65% trọng lượng quả. ở nước ta hiện còn ở các tỉnh
trung du và miền núi nhu Phú Thọ, Hà Tây, Tuyên Quang,…

năng hấp thu mạnh. Rễ vải có nấm cộng sinh, nấm này giúp cho rễ hút được
nước, dinh dưỡng trong điều kiện khô hạn.
Thân, cành: cây vải trưởng thành cao từ 10-15 m, tán hình mâm xôi,
hình bán cầu, đường kính tán 8-10 m. Thân có đường kính lớn, vỏ nhẵn, mầu
tối, gỗ mầu nâu. Cây vải một năm ra 3-4 đợt lộc, trong đó đợt lộc thu là quan
trọng nhất, nó chính là cành mẹ để phân hoá mầm hoa và ra hoa kết quả cho
năm sau.
Lá vải: lá kép lông chim gồm 2-3 đôi, mọc so le, lá chét cứng, dai, có
chất sừng. Cuống lá ngắn, lá có mầu xanh đậm, rìa lá không gợn sóng, nhẵn
bóng, mặt dưới lá màu trắng xám, gân nhẵn không nổi rõ trên lá. Mút lá nhọn,
gốc lá hơi tù, lá non khi mới ra có mầu tím đỏ, khi thành thục màu xanh đậm.
Các giống vải khác nhau có hình dạng và màu sắc lá khác nhau. Tuổi thọ của lá
trung bình từ 1-2 năm, tuỳ thuộc vào chế độ nước, nhiệt độ và dinh dưỡng.
Hoa: vải có 3 loại hoa cơ bản: hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính. Hoa
vải rất bé và không có cánh. Hoa đực có khả năng tung phấn để thụ tinh, hoa
cái được thu tinh sẽ phát triển thành quả. Hoa lưỡng tính có khả năng kết quả
được nhưng ít thấy. Hoa cái thường có 2 bầu, sau khi được thụ tinh thường có
một bầu phát triển thành quả.
- Hoa cái: hoa cái phát triển hoàn toàn, gồm 3 bộ phận bầu nhụy, vòi
nhụy và đầu nhụy, đầu nhụy phân hoá khá rõ. Bầu nhụy phát triển thường có 2
– 3 tâm bì. Trong bầu nhụy có phôi châu mọc ngược có thể thụ tinh kết quả.
Khi nhụy đã chín thì đầu nhụy tiết ra dịch dính là thời điểm thụ phấn tốt nhất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
Chỉ nhị của loại hoa này rất ngắn khoảng 0,5 cm chỉ cao bằng bầu nhị bao phấn
to. Hoa cái sau khi thụ phấn, thụ tinh sẽ đậu quả. Với các giống khác nhau, tuổi
cây khác nhau thì tỷ lệ hoa cái cũng khác nhau.
- Hoa đực: thường gọi là ’’hoa giả’’, bao gồm hoa đực và nhuỵ cái hoàn

2.1.3.2. Đặc điểm ra lộc của vải
Điều kiện khí hậu và chế độ chăm sóc khác nhau có ảnh hưởng rất lớn
đến thời gian ra lộc của cây vải.
- Lộc Xuân
Lộc Xuân thường mọc ra từ tháng 2 đến tháng 3, tùy thuộc vào tình
trạng cây khỏe hay yếu, nhiệt độ không khí cao hay thấp, chế độ chăm sóc đầy
đủ hay hạn chế. Cây khỏe mạnh thì lộc thu năm trước ra sớm, cây không có lộc
đông, đến cuối tháng 12 chồi ngọn tích lũy đủ dinh dưỡng nên lộc Xuân ra khá
sớm, phần nhiều phát sinh vào giữa hoặc cuối tháng 1, sau khi có mưa phùn.
Thời gian thành thục đợt lộc Xuân từ 60-70 ngày. Nếu lộc Xuân ra nhiều sẽ
ảnh hưởng tới chất lượng và số lượng và chất lượng hoa, thậm chí làm cho quả
rụng nhiều do có sự cạnh tranh dinh dưỡng giữa lộc và hoa.
- Lộc Hè
Thời gian phát sinh lộc Hè từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 6. Cây non
hoặc cây tơ khi chưa vào thời kỳ cho quả có thể ra từ 1-2 đợt lộc Hè. Thời gian
từ ra lộc Hè đến thành thục dài hay ngắn tùy thuộc vào trạng thái sinh trưởng
của cây, chế độ chăm sóc và điều kiện thời tiết. Thời gian này dài là trên 40
ngày, ngắn khoảng 1 tháng. Có trường hợp lộc non chưa già chắc ngọn đã tiếp
tục nhú đợt lộc mới. Do liên tục sinh trưởng, nếu cung cấp dinh dưỡng không
đầy đủ thì lộc non sẽ ít và yếu.
- Lộc Thu
Thông thường, lộc Thu ra từ thánh 8 đến tháng 10, cũng có khi ra sớm từ
cuối tháng 7, tùy theo từng giống. Lộc Thu là cành quan trọng để năm sau ra
quả. Đối với cây vải kinh doanh, lộc Thu phát sinh đúng lúc sẽ hình thành cành
mẹ tốt, thuận lợi cho việc ra hoa, đậu quả ở thời kỳ sau.
Cây vải tơ khỏe mạnh có thể phát sinh hai đợt lộc Thu vào cuối tháng 7
đến đầu tháng 8 và cuối tháng 9 đến đầu thánh 10 (với vải sơm, các đợt lộc Thu
ra sớm hơn từ 20 đến 30 ngày).
Cây vải trưởng thành thường ra một đợt lộc Thu vào cuối tháng 8-9. Cây
vải chăm sóc kém có khi không ra được lộc Thu. Vì thế, biện pháp kỹ thuật bồi

nếu cành thu có hai đợt thì độ dài của cả hai đợt phải đạt 20-30cm trở lên,
giống chính vụ, chín muộn cành thu một đợt: 12-18cm, cả ha đợt đạt 18-22cm
trở lên.
Lá: sinh trưởng bình thường, thành thục tốt, sung mãn. Giống chín sớm
tốt nhất một cành thu phải có 30 lá/cành, giống chính vụ và muộn chỉ ra một
đợt cành thu phải đạt 21-25 lá/cành (nhiều hơn càng tốt), hai đợt cành thì phải
đạt 40-50 lá/cành trở lên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
+ Không có lộc Đông mọc trên cành.
+ Sự phân bố của cành mẹ đều trên tán cây, số lượng thích hợp.
Như vậy nắm chắc được đặc điểm ra lộc của cây vải sẽ giúp có biện
pháp điều chỉnh thời gian phát sinh, tăng trưởng các đợt lộc tùy theo mục đích
chăm sóc tạo bộ khung tán (thời kỳ kiến thiết cơ bản) hay thúc đẩy ra hoa, đậu
quả thuận lợi (thời kỳ kinh doanh).
Mặt khác thông qua việc sử dụng các biện pháp cắt tỉa, bón phân, tưới
nước giúp cây vải ra hoa, đậu quả ổn định, tránh được ra quả cách năm hay
mất mùa liên tục.
Việc khống chế được tốc độ sinh trưởng và thời gian phát sinh cành mẹ
mùa thu cũng có thể khống chế được thời gian phân hóa mầm hoa, từ đó điều
chỉnh mầm hoa
2.1.4. Các nghiên cứu về yêu cầu ngoại cảnh của cây vải
Vải là cây ăn quả Á nhiệt đới, yêu cầu rất chặt chẽ đối với các yếu tố khí
hậu: nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng Yếu tố ngoại cảnh tác động trực tiếp đến
sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lương vải.
Nhiệt độ:
Nhiệt độ là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sinh
trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải. Nhiệt độ bình quân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ đực, cái của hoa vải. Ở Trung Quốc
qua phân tích liên tục từ 1978 - 1985 về quan hệ giữa nhiệt độ bình quân ngày
của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm đã phát hiện giữa chúng
có mối tương quan nghịch, nhiệt độ càng thấp thì tỷ lệ hoa cái càng cao. Các
kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, nhiệt độ không khí bình quân thời kỳ ra
hoa có tương quan nghịch với thời gian ra hoa. Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh
hưởng tới thời kỳ nở hoa và sự phát triển của quả. Nhiệt độ bình quân hữu
hiệu càng cao thì quả vải sinh trưởng, phát triển càng nhanh và ngược lại
(Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998) [24]
Theo Vũ Công Hậu (1999) [17] và Trần Thế Tục (1998) [36], nhiệt độ
có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây vải. Những vùng
trồng vải thường có nhiệt độ bình quân 10 – 17
0
C, nhiệt độ thấp nhất không
quá -2
0
C, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của cây vải là 24 - 29
0
C.
Theo Phạm Văn Côn (2004) [10], nhiệt độ là một trong những nhân tố
khí hậu chính và không điều khiển được, nó quyết định diện tích trồng trọt và
ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất cây trồng. Với cây vải, khi ra hoa, đậu quả cần
nhiệt độ hơi lạnh và khô, tổng tích ôn khoảng 2.500 – 2.600
0
C. Ở thời kỳ hình
thành chồi hoa (tháng 11, 12), cây vải gặp trời lạnh và khô, đọt hoa ra thoát,
ngược lại trời nóng và ẩm thì cây vải sẽ ra đọt lá. Vào tháng 1, 2, khi hoa nở,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status