một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai - Pdf 24

Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
Lời nói đầu
Giai quyết tranh chấp đất đai là một trong những chủ trương lớn của
Đảng và Nhà nước, nhàm giữ gìn ổn định sản xuất, đời sống, tình đoàn kết
trong nội bộ nhân dân, giữ gìn an ninh, trật tự và ngăn ngừa hành vi vi phạp
pháp luật nghiêm trọng có thể xảy ra.
Qua hơn 10 năm thi hành Luật Đất đai năm 1993 đấ thu được kết quả
quan trọng trong việc bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn tài nguyên đất
đai quốc gia, đảm bảo cơ chế nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước về đất
đai. Tuy nhiên, do tác động nhiều mặt của cơ chế thị trường, mà trực tiếp là
quá trình đô thị hoá và chuyển dịch cơ cấu theo vùng, tiếu vùng làm phát
sinh tranh chãp phức tạp, kéo dài, thậm chí có nơi đâ trở thành điểm nóng.
Nguyên nhân phát sinh tranh chấp là dân không có thói quen cắm cột
mốc, quá trình canh tác bị sai lệch hoặc chuyển nhượng, tặng, cho không
làm đầy đủ các thủ tục hợp lệ. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các cơ
quan chức năng gặp không ít khó khăn khi tìm chứng cứ để xác định tính
khách quan của vu kiện, thậm chí có nhiều trường hợp phải suy đoán theo
lập luận của các bên. Từ đó, xảy ra tình trạng khiếu kiện vượt cấp, thư gửi
nhiều nơi và qua nhiều cấp giải quyết mà các bên vẫn khiếu nại.
Luật Đất đai năm 2004 ra đời, đánh dấu một bước tiến mới trong
công tác giải quyết tranh chấp đất đai. Luật xác định rõ: tranh chấp đất đai
có thể giải quyết thông qua hai con đường hành chính và tố tụng hành
chính. Bằng thủ tục hành chính, sẽ chỉ có hai cấp giải quyết một tranh chấp
và Chủ tịch UBND cấp tĩnh có quyền đưa ra quyết đính giải quyết khiếu
nại cuối cùng. Với trường hợp các bên tranh chấp đã có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc một trong các giấy từ hợp pháp khác, nếu không
đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu thì có quyền lựa chọn một trong
hai phương án; Khiếu nại lên cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện ra Toà.
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
Việc quy định '"hai cấp” trong giải quyết tranh chấp đất đai se tháo

chức năng nhiệm vụ được giao.
Phần thứ nhất
Mô tả tình huống
Ông Nguyễn Vãn A đi bộ đội chiến đâu ở chiến trường miền Nam,
khi phục việc trở về quê hương, năm 1979 gia đình ông được UBND thị
trấn B cấp cho lô đất mang tên Nguyễn Văn A với diện tích 360m2 ở khối
9 - Thị trân B - Huyện C. Gia đình ông lúc bây giờ gồm có 5 người; Hai vợ
chồng Ông, anh con trai cả tên là Nguyễn Văn D, anh con trai thứ tên là
Nguyễn Văn L và anh con trai út tên là Nguyễn Văn M. Do đặc điểm xung
quanh lô đất được cấp là ao tự nhiên chưa gia cho bộ nào quản lý cho nên
trong quá trình sử dụng đất gia đình ông A đã cải tạo lấp ao để mở rộng
diện tích vườn trồng rau cho gia đình.
Vào năm 1992, UBND thị trấn có chủ trương làm đường liên khối đi
qua lô đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông A chia nó thành 2 mảnh,
một mảnh có nhà ở và một mảnh đã trồng hoa màu, Trong năm 1992, ông
A cưới vợ cho anh con trai cả là Nguyễn Văn D, vợ chồng anh Nguyễn
Văn D cùng ở chung với gia đình ông, cũng trong năm này ông Nguyễn
Văn A đã thuê xe đố đất và cải tạo phần đất đang sử dụng canh tác trồng
hoa màu, mục đích cải tạo thành đất ở. UBND thị trấn viết giấy mời ông A
lên xuất trình giấy tờ về quyền sử dụng đất của ông A, cán bộ địa chính thị
trấn B cho rằng đất của gia đình ông A thừa diện tích. Cán bộ địa chính
hướng dẫn cho ông A về làm đơn xin giao đất làm nhà cho con trai cả của
ông tên là Nguyễn Văn D và gửi cho thị trấn để giải quyết Theo hướng dẫn
của cán bộ địa chính thị trấn, ông Nguyễn Văn D (con trai cả của ông
Nguyễn Văn A) đã làm đơn và được UBND thị trấn B giao 100m
2
trên diện
tích lô đất mà gia đình ông A đang trồng hoa màu đế làm đất ở, đồng thời
UBND thị trấn thu của ông A 6,000,000 đồng tiền kinh tế đất. Còn lại
130m

địa chính, tư pháp và các thành viện có liên quan xác minh sự việc và tham
mưu để UBND thị trấn có thông báo số 04 ngày 25/03/2008 với nội dung:
"Diện tích đất mà gia đình ông Nguyễn Văn A trồng rau là do gia đình tự ý
khai phá, nằm ngoài diện tích đất mà UBND thị trấn B cấp, hiện đã chấm
dứt quyền sử dụng đất sau khi đi được đền bù hoa lợi, gia đình đã làm đơn
nhất trí nhận 3.000.000 đ tại thời điếm năm 1996”. Do không đồng ý với
cách giải quyết đó nên ông Nguyễn Văn A tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi
UBND Huyện C với nội dung như trên và khẳng định không đồng ý với
cách giải quyết của UBND thị trấn B
Nhận được đơn tiếp tục khiếu nại của ông A ngày 02/5/2008 UBND
huyện B đã ban hành Quyết định số 229/QĐ-UB về việc thành lập đoàn
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
thanh tra giải quyết đơn khiếu nại ông Nguyễn Văn A khối 9 - Thị trấn B -
Huyện C - Tỉnh B gồm các thành viên như sau: Phòng Tài nguvên Môi
trường, Phòng Thanh tra, Quản lý đô thị huyện và Chủ tịch UBND thị trấn
B. Đoàn có nhiệm vụ tiến hành xác minh, kiểm tra làm rõ những nội dung
trong đơn khiếu nại của ông NguvễnVãn A và kiến nghị, báo cáo Chủ tịch
UBND huyện C xử lý.
Quả trình xác minh hồ sơ địa chính hiện đang lưu tại UBND thị trấn
A cho thấy
+ Tại hồ sơ địa chính lập năm 1991. thì sổ mục kê ruộng đất lập ngàỵ
15/5/1991 và bản đồ địa chính (Tờ số 2 trang 50) có tên ông Nguyễn Văn A
đăng ký thữa đất có ký hiệu là 200a với diện tích, là 360m
2
, số liệu diện
tích này trùng với số liệu ông Nguyễn Văn A khiếu nại trong đơn, Tại thời
điểm này đường liên khối chưa được phản ảnh lên bản đồ.
Năm 1992 đường liên khối được nâng cấp và mở rộng, phần diện
tích đường đi qua thừa đất của ông Nguyễn Văn A là 60m

Nguyễn Văn M sử dụng, hiện nay đi được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cũng mang tên ông Nguyễn Văn A
Tổng diện tích 3 thửa đất là 297m
Đối chiếu với hồ sơ mà ông Nguyễn Văn A cung cấp gồm có:
Giấy chứng nhận đất ở đứng tên ông Nguyễn Văn A được sử dụng
với diện lích 360m2 gồm 130m2 diện tích đất ở và 230m2 diện tích đất
giao cho gia đình sử dụng sản xuất tại khối phố 9 Thị trấn B do ông Phan
Thanh H ký nhưng không đề thời gian,
Như vậy đốí chiếu với hồ sơ địa chính hiện đang lưu giữ tại UBND
Thi trấn B và các giấy tờ do ông Nguyễn Vãn A cung cấp, thì thửa đất.
mang số hiệu 200a vởi diện tích 360m được lập trong bản đồ địa chính năm
1991 của gia đình ông Nguvễn Văn A sử dụng đã có biến động về diện
tích. Nguyên nhân là do đường liên khối đã được mở rộng và nâng cấp đã
cắt ngang qua một phần diện, tích của thửa đất này, đồng thời do có một
phần diện tích đã được chuyền nhượng cho ông Nguyễn Thanh Tùng, đo đó
diện, tích đất của gia đình ông A hiện nay chỉ còn 205m
2
giảm 115m
2
.
Theo báo cáo của UBND thị trấn B, việc UBND thị trấn quyết định
mở rộng và nâng cấp con đường liên khổi được thực hiện với chủ trương
“Nhà nước và nhân dân cùng làm” không đền bù việc giải phóng mặt bằng,
chỉ thực hiện đền bù hoa màu nếu có, theo hồ sơ làm đường còn lưu lại thì
diện tích đất vườn của ông À được thu hồi (không đền bù) để làm đường là
60m
2
.Theo biên bản họp khối, các hộ gia đình của ông A đã ký hợp đồng
ký giao đất không phải đền bù. Vậy diện tích đất ở và đất vườn của gia
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3

quy hoạch cấp xen canh cho ba Đặng Châu M năm 2007 nguyên là đất ao
hoang do UBND thị trển quản lý được thể hiện tại hồ sơ địa chính nêu trên
hiện đang lưu giữ tại thị trấn B, gia đình ông Nguyễn Văn A chỉ cải tao một
phần điện tích đất đế trồng hoa màu và đã được UBND thì trấn B đền bù
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
3.000.000đ. Gia đình ông Nguyễn Văn A không có hồ sơ giấy tờ đế chứng
minh quyền sử dụng đất đối với thửa đất đã nêu trên; đồng thời gia đình
ông A cũng không thực hiện nghĩa vụ Nhà nước đối với phần điện tích đó.
Giao cho UBND thị trấn B hướng đẫn các hộ gia đình có liên quan làm thủ
tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp
luật và nghiêm túc kiêm điểm các cá nhân liên quan đến việc bán đất cho
hai hộ Nguyễn Văn D và Đặng Châu M. Đất của hai hộ này sẽ được xử lý
theo quy định của Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất.
Thửa đất mang số hiệu là 200a với diện tích là 360m2 được lập trong
bản đồ địa chính năm 1991 của gia đình ông Nguyễn Văn A đang sử dụng
hiện nay có biến động về diện tích đất, nguyên nhân do đường liên khối
được mở rộng và nâng cấp đã cắt ngang một phần của thửa đất nào (60m
2
),
đồng thời do có một phần đã được chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh
Tùng. Việc UBND thị trấn quyết định mở rộng và nâng cấp con đường liên
khối được thực hiện với chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” đã
được nhân dân trong khối bàn bạc dân chủ, thống nhất mở đường không
nhận tiền đền bù, nếu diện tích làm đường không năm trong khu vực công
trình nhà ở đã xây dựng của dân, chỉ đền bù hoa màu (nếu có); tại thời
điểm UBND thị trấn B chủ trương thi công đường liên khối thì gia đình
ông Nguyễn Vãn A đã ký biên bản thống nhất không đền bù, nên trả lời
cho gia đình ông A biêt là sự việc đã được giải quyết xong trong năm 1992
(thời điểm làm đường liên khối),

Nguyễn Văn A, khối 9, thị trấn B , huyện C để góp phần tuyên truyền phổ
biến giáo dục ý thức tuân thủ nghiêm minh các văn bản pháp luật đất đai và
pháp luật khiếu nại tố cáo đối với cá nhân ông A, UBND thị trấn B, UBND
huyện c và các cơ quan tổ chức có liên quan.
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
Phần thứ ba
Phân tích nguyên nhân và hậu quả
1. Nguyên nhân:
Vụ việc này đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm do một số
nguyên nhân chủ quan và khách quan như sau:
a. Nguyên nhân khách quan:
- Trong một thời gian dài, công tác quản lý đất đai bị buông lỏng,
quy trình quản lý thiếu chặt chẽ, thiếu khoa học. Hồ sơ địa chính, tài liệu
lịch sử làm căn cử giải quyêt không đầy đủ.
- Các chính sách, văn bản pháp luật cúa Nhà nước về quán lý đất đai
có nhiều thay đổi, có những vấn đề chưa thật cụ thể. Mặt khác, công tác
cập nhật văn bản pháp luật của cán bộ cơ sở còn yếu, vì vậy việc vận dụng,
thực thi trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn.
- Giá trị quyền sử dụng đất ngày càng tăng cao, vì vậy đã tác động
đến việc khiếu kiện đòi quyền lợi có phần thêm gay gắt.
b. Nguyên nhân chủ quan:
- Trình độ quản Ịý hành chính Nhà nước nóỉ chung vê đất đai của các
cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở còn bất cập.Công tác quản lý đất đai
trong một thời gian dải còn buông lỏng, chưa được chú trọng, hồ sơ địa
chính của thửa đất (là căn cứ quan trọng để giải quyết vụ việc) không đầy
đủ, không cập nhật,thiếu chặt chẽ; thủ tục hành chính không đảm bảo.
- Đối với UBND thị trấn B đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước của thị
trấn qua các thời kỳ về đất đai còn non yếu về chuyên môn, kém hiểu biết
pháp luật về đất đai, thiếu tinh thần trách nhiệm, chưa tôn trọng các quy

Nhà nước, vi phạm nguyên tắc pháp chế XHCN trongq uản lý đất đai, kinh
tế - tài chính, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với sự quản lý
điều hành của Nhà nước nói riêng, Chủ trương, chính sách của Đảng và
Pháp luật Nhà nước ta nói chung.
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
Phần thứ tư
Xây dựng, lựa chọn phương án
Việc giải quyết khiếu nại đòi hỏi phải được phân loại theo tính chất
vụ việc từ đơn giản đến phức tạp, để kịp thời có biện pháp giải quyết, xử lý
phù hợp,Những vụ việc có tính chất tranh chấp trong nội bộ nhân dân, việc
xử lý thuận lợi hơn, những trường hợp có sự tham gia và chỉ dẫn của một
số kẻ lợi dụng dân chủ thì thường hêt sức khó khăn và phức tạp. Do đó, khi
giải quyết khiếu kiện, cần có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức
năng nhằm xác định và hạn chế hoạt động của các đối tượng lợi dụng dân
chủ, lợi dụng quyền khiếu nại để kích động, xúi giục, lôi kéo, tổ chức đông
người đi khiếu kiện.
Để vụ việc khiếu nại cụ thế của ông Nguyễn Văn A được giải quyết
dứt điểm thấu đáo, phù hợp với các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền
và lợi ích bợp pháp của các bên, tác giả cân nhân nhăc giữa 03 phương án
sau:
1. Phương án thứ 1:
- UBND thị trấn B giải quyết đền bù cho gia đỉnh ôngA
- UBND Tĩnh cho phép UBND thị trấn B và UBND huyện C làm thù
tục hợp thức hoá giấy từ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho các
hộ đã được UBND thị trấn giao đất và đã thu tiền sử dụng đất.
Phương án này có ưu và nhược điém sau;
*ưu điểm:
- Khiếu nại sẽ kết thúc, giải quyết được vấn đề ở khía cạnh “tình”,
công dân (cả ông A và bà M đều vui vẻ).

Châu M năm 2007 nguyên là đất ao hoang do UBND thi trấn B quản lý,
ông Nguyễn Văn A chỉ cải tạo một phần diện tích đê trồng hoa màu và sau
khi thu hồi ông A đã thoả thuận, UBND thị trấn B đã đền bù cho gia đình
ông 3.000.000đ.Gia đình ông Nguyễn Văn A không có hồ sơ giấy tờ đế
chứng minh quyền sử dụng đất đií với thửa đất đã nêu trên, đồng thời gia
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
đình ông A cũng không thực hiện nghĩa vụ cho Nhà nước đối với phần diện
tích đất đang sử dụng trồng hoa màu.
- Việc ông Nguyễn Vãn A khiếu nại UBND thị trấn B cẳt vườn của
gia đỉnh ông đê làm đường liên thôn mà không được đền bù là không có cơ
sở để giái quyết vì; Con đường liên khối được UBND thị trấn B chủ trương
xây dụng theo phương án “Nhà nước và nhân dân cùng làm” đã được nhân
dân trong khối (Trong đó có gia đình ôngA) bàn bạc thống nhất biểu quyết
và cùng ký biên bản về việc thu hồi đất vườn để làm đường liên khối không
đền bù về diện tích thu hồi không gắn với nhà ở hoặc công trình xây dựng.
- Đề nghị UBND huyện C và UBND thị trấn B lập lại hồ sơ thủ tục
giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Nguyễn Văn D
và bà Đặng Châu M theo đủng trình tự, thủ tục, thẩm quyền đã được quy
định trong Luật đất đai hiện hành. UBND huyện C chỉ đạo UBND thị trấn
B nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm và có hình thức xử lý đối các cá nhân
có liên quan đã có hành vi, vi phạm trong việc giao đất sai thẩm quyền cho
hai hộ ông Nguyễn Văn D và bà Đặng Châu M đồng thời rút kinh nghiệm
trong việc quản lý đất đai trên địa bàn.
Phương án này có ưu và nhược điềm sau:
*ưu điểm:
Nếu thưc hiện phương án này là phương án tối ưu vừa giải quyết dứt
điểm, đúng pháp luật, đảm bảo tính nghiêm minh trước pháp luật vừa có
tình, có lý đảm bảo quyền lợí và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các cá
nhân công dân có liên quan trong việc khiếu nại đền bù đất đàm bào tính

trường huyện C.
Tổ chức họp đoàn ngay sau khi có quyết định thành lập để thống
nhất nội dung, chương trình làm việc, thời gian tiến hành và nhanh chóng
về địa phương để triển khai thực hiện.
Yêu cầu, ngay sau khi có quyết định đoàn kiếm tra, xác minh, giải
quyết khiếu nại của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Đoàn kiểm tra,
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
chính quyền địa phương, và các cơ quan hữu quan phải khẩn trương tổ
chức triển khai thực hiện đúng và kịp thời các nội dung sau đây:
1. Công bố Quyết định thành lập Đoàn kiểm tra, xác minh, giải quyết
khiếu nại của cơ quan Nhà nước có thầm quyền đến tận các cán bộ, nhân
dân ở địa phương và các cá nhân có tiên quan.
2. Đoàn thanh tra tiến hành mời các thành phần liên quan để xác
minh từng nội dung sự việc cụ thể đế hoàn tất các hồ sơ, biên bản làm việc
và giải quyết cụ thế cho các bên liên quan rõ hưởng giải quyết của đoàn
nhằm mục đích để cho các bên nắm bắt quan điểm, chủ trương của Đảng và
Nhà nước trong việc giải quyết vụ việc trước khi đoàn công bố kết luận
thanh tra giải quyết vụ việc.
3. Tổ chức họp công bố dự thảo kết luận thanh tra sau khi đã làm
việc cụ thể với các cá nhân liên quan và chính quyền địa phương để thống
nhất trước khi ký kết luận chính thức.
4. Đoàn thanh tra hoàn tất kết luận thanh tra ngay sau khi họp thống
nhất dự thảo để ký công bố chính thức.
5. Giao cho chính quyền và các Ban, Ngành đoàn thể ở địa phương
giải thích cho cán bộ và nhân dân địa phương thông hiếu các nội đung giải
quyết của cơ quan Nhà nước có thấm quyền. Làm tốt công tác tư tưởng cho
cán bộ và nhân dân, các cá nhân có liên quan trong việc nghiêm chỉnh chấp
hành quyết định giải quyết của nhà nước theo đủng pháp luật.
6. Giao cho các cá nhân liên quan, chính quyền thị trấn B và huyện C

quyết khiếu nại đất đai của ông A, đây là quyết định giải quyết cuối cùng
Các tổ chức, cá nhân có liên quan nghiêm túc chấp hành quyết định. Giao
cho thanh tra tinh theo dõi và đôn đốc việc thực hiện quyết định này. Kết
quả thực hiện báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 12/10/2008.
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
Phần thứ sáu
Kiến nghị và kết luận
Từ vụ việc khiếu nại đền bù về đất đai của ông Nguyễn Vân và trên
cơ sở nghiên cứu lý luận cơ bản, phân tích thực tiễn tình hình và giải quyết
khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh. Để góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo,
đặc biệt là các khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, đảm bảo quy định
được tình hình trật tự xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội, tôi xin đưa ra một số kiến nghị như sau:
1. Quán triệt các nguyên tắc giải quyết khiếu nại đất đai:
Khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai phải đảm bảo
các nguyên tắc sau:
- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý;
Nhà nước chỉ giao quyền sử dụng cho công dân; Nhà nước có quyền thu
hồi đất và người sử dụng đất được đền bù theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trinh cách mạng theo tình hình cụ thể mà Đảng và Nhà
nước có các chủ trương, chính sách đất đai phù hợp. Vì vậy giải quyết tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo phải căn cứ vào thời điềm phát sinh của vụ việc và
chính sách tương ứng của thời kỳ đó.
- Giải quyêt các khiếu nại, tranh chấp đất đai trên cơ sở tôn trọng quá
trình sử dụng ổn định của các chủ sử dụng đất, kiên quyết bảo vệ thành quả
cách mạng và lợ ích hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời phải tôn
trọng quy hoạch sử dụng đất của chính quyền địa phương.
- Khi giai quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai phát sinh

hành chính cấp trên hơn việc khởi kiện ra Toà án, vì ra Toà án phải chịu án
phí, đủ thu tục và qua các cấp của Toà xét xử nếu có kháng án, Do đó, hầu
hết người khiếu nại quyết định hành chính tiếp khiếu lên cơ quan hành
chính có thầm quyền của cấp trên, hết cấp tỉnh lên cấp Trung ương,
Tình hình trên đang đặt ra sự cần thiết phải đối mới cơ chế giải quyết
tranh chấp, khiêu nại về đất đai. Phải thể chế hoá đúng đường lối giải quyết
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
các tranh chấp, khiếu nại tố cáo có liên quan đến đất đai mà Nghị quyết Hội
nghị Trung ương lần thứ 7 khoá IX đã nêu: “Việc giải quyết tranh chấp,
trước hết cần tiến hành hoà giải, nếu hoà giải không thành thì đưa ra Toà án
giải quyết. Nhà nước quy định thời hiệu và thời hạn giải quyết các khiếu
nại không để kéo dài, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương là cấp giải quyết cuối cũng các khiếu nại vê đất đai trong phạm vi
thẩm quyền của các cấp ở địa phương; trường hợp các đương sự không
nhất trí với quyết định cửa UBND tỉnh, Thành phổ trực thuộc Trung ương
thì đưa ra Tòa án giải quyết. Giải quyết tố cáo về đất đai thì theo pháp luật
tố cáo với cơ chế giải quyết trên sẽ đảm bảo giải quyết được khách quan
người giải quyết độc lập với người ra quyết định bành chính, tránh được
tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, nó cảng mở rộng dân chủ hơn trong
việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trước pháp luật, người
khiếu nại chịu trách nhiệm trước pháp luật khi thực thi quyền khiếu nại,
đồng thời buộc cơ quan hành chính và cá nhân có thẩm quyền phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về quyết định và chính mình mà phái nâng cao
chất lượng khi ban hành các quyết đình hành chính.
Kinh nghiệm cho thấy, việc giải quyết tranh chấp, khiêu nại về đất
đai thời gian qua hiệu quả nhất là hoà giải, không chỉ chú trọng hoà giải khi
phát sinh tranh chấp, mà khi giải quyết khiếu nại tiếp tục hoà giải cũng đạt
nhiều kết quả và có trong trường hợp toà án xét xử có nơi hoà giải thành
cũng đại tỷ lệ cao; hoà giải thành càng nhiều càng tốt vì giải quyết tranh

giải thích đầy đủ, rõ ràng, minh mạch, nhất là đối với các vấn đề có liên
quan đến tranh chấp, khiếu nại; hướng dẫn để thống nhất nội dung giải
quyết tranh chấp, khiêu nại về đất đai; và có tư vấn về pháp luật. Đồng thời
tăng cường tuyên truyền, phổ biến kịp thời, đầy đủ các chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến mọi người dân bằng nhiều hình
thức nhằm tạo cơ hội để mọi người tiếp cận với pháp luật đất đai hiểu biết,
đồng thuận giữa người ra quyết định, người khiếu nại và người giải quyết
khiếu nại.
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp đất đai”
Việc đối mới cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính có liên quan
lĩnh vực đất đai, không những nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại hành
chính, phù hợp với xu hướng cải cách bành chính, cải cách tư pháp trong
nước, mà còn phù hợp với thông lệ quốc tế, trong tiến trình hội nhập của
nước ta hiện nay.
Tiếp tục tăng cường các đoàn, tổ công tác của UBND tỉnh và các
huyện, thị, thành song song với việc trang bị kiến thức pháp luật cho cán bộ
các ngành, các cấp có liên quan trong việc giải quyểt khiếu nại, tố cáo, đặc
biệt là đổi với cán bộ Mặt trận, đoàn thể. Kiên thức và sự hiểu biết pháp
luật của cán bộ chính là một trong những điều kiện đảm bảo cho người cán
bộ khi tiếp dân có khả năng tuyến truyền, giáo dục và vận động người dân
chấp hành pháp luật. Thực tiễn trong giải quyết khiếu tố đã bộc lộ sự hạn
chế về kiến thức pháp luật của cán bộ và hiệu quả phối họp với các đoàn
thể chưa cao. Để khắc phục tình trạng này, đòi hỏi phải có sự chỉ đạo của
các cấp uỷ Đảng.
Song song đó, các ngành chức năng của tỉnh cũng tăng cường phối
hợp và chủ động nẩm chắc tình hình để có biện pháp xử lý kịp thời, kiên
quyết đối với những đối lượng có hành vi vi phạm trong thực hiện quyền
dãn chủ, quyền khiếu nại; xử lý nghiêm theo pháp luật những; đối tượng
quá khích, lợi dụng việc khiếu nại tố cáo đê gây rôi, phá hoại sự đoàn kêt

Tình trạng tranh chấp đất đai là một trong những vấn đề “nóng'’ ở
các địa phương hiện nay đòi hỏi phải được giải quyết một cách nhanh
chóng, kịp thời. Điều đó không chỉ nhằm góp phần ốn định trật tự xã hội
mà còn phòng tránh các hậu quả khác có thê xảy ra. Với tính huống thực tế
xấy ra ở trên có thế khẳng định một điều, không thể chần chừ, hay làm íheo
một mành nhất định mà cần có những biện pháp mạnh mẽ, đồng bộ, triệt
đê, thực sự vào cuộc quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân để giải quyết dứt
điếm, nghiêm minh trong công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
về đất đai.
Hoàng Văn Duyên - Lớp BDKT Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên khóa 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status