ÑAÙ TRAÀM TÍCH
ÑAÙ TRAÀM TÍCH
(SEDIMENTARY ROCK)
(SEDIMENTARY ROCK)
Đá trầm tích tại Nam Qui – Tinh Biên – An Giang, Đợt thực tập
Đo vẻ bản đồ địa chất khóa 2006 – 2010 tháng 7/2009
•
Đá trầm tích: chiếm 75% diện tích bề mặt
đòa cầu nhưng với tỷ lệ nhỏ khỏang 5% tòan
thể vỏ đòa cầu.
•
-Thành lập trên mặt đất hay gần mặt đất
•
- Vật liệu bở rời hay hòa tan do phong hóa
các vật liệu có trước
•
- Lắng tụ trên cạn hay dưới nước.
•
Vậy, đá trầm tích do:
•
Biến đổi (hóa đá) chậm chạp các lọai vật
liệu có trước (chất trầm tích).
•
Sự hóa đá không làm mất đi các tính chất
của vật liệu lắng tụ như xếp lớp, dấu sinh vật
I/ KHÓANG VẬT ĐÁ TRẦM TÍCH
•
* carbonat: calcit, dolomit, aragonit.
•
* sulfat: thạch cao (gypse).
•
* silic: thạch anh tái kết tinh như chalcedoin,
opal.
II/SỰ HÓA ĐÁ
II/SỰ HÓA ĐÁ
( Lithification)
( Lithification)
Sự hóa đá còn có nhiều cơ chế khác nhau
chúng được gọi chung bằng một từ “xuyên
sinh” (diagenesis) hay sự hóa đá non.
Giai đoạn xuyên sinh của sự hóa đá xảy ra khi
chất trầm tích có sự thay đổi về lý tính và
hóa tính.
1/ Sự nén dẽ
1/ Sự nén dẽ
•
Nén dẽ là sự thay đổi về lý tính xảy ra trong khi hóa đá.
Hóa đá theo kiểu này chỉ có ở chất trầm tích thật mòn hạt,
đặc biệt là bùn có pha nhiều sét.
•
*Tải trọng: Bùn bò chôn vùi sâu, dưới sức nén ép của chất
trầm tích (tải trọng)bên trên, nước bò ép ra khỏi các khe hở
và ngay cả nước nằm giữa các lá của hạt sét cũng bò đẩy ra.
•
(sự tái kết tinh):
•
là do tính không bền vững của một dạng
khoáng vật. Khoáng vật này được thay
thế bằng một dạng khoáng vật khác bền
vững hơn. Chất vôi mới trầm tích gồm
có khoáng aragonit và calcit với một
hàm lượng magnê rất cao. Sau một thời
gian cả hai đều hòa tan, rồi thay thế
bằng khoáng calcit chứa thật ít magnê
và rất ổn đònh của giai đoạn xuyên sinh.
b–
b–
Sự xi măng hóa
Sự xi măng hóa
(sự gắn kết):
(sự gắn kết):
•
Nước chứa nhiều chất hòa tan, khi chảy vào các khe
hở giữa những hạt trầm tích, chất hòa tan này kết
tủa lại tạo thành loại xi măng tự nhiên, kết dính vật
liệu bở rời thành đá cứng.
•
Có nhiều loại xi măng tự nhiên:
•
*Xi măng vôi thường có màu trắng đục và sủi bọt
với acid chlorhydric (HCl) loãng ở nhiệt độ thường.
•
*Xi măng silic là loại xi măng thật cứng chắc.
•
* Nhóm đá trầm tích mảnh vỡ.
•
* Nhóm đá trầm tích hóa học và sinh học.
1. Nhóm đá trầm tích mảnh vỡ
1. Nhóm đá trầm tích mảnh vỡ
(vụn)
(vụn)
•
Đá gồm toàn vật liệu bở rời (vụn), sản phẩm của hiện tượng
phong hóa các loại đá có trước.
•
Tùy theo vật liệu trầm tích, đá trầm tích mảnh vỡ được chia
ra thành nhiều loại.
•
Thường giữa các giới hạn kích thước còn có thể trung gian
là do sự trộn lẫn giữa các cỡ hạt, ví dụ cát pha sét cho loại
đá trầm tích có tên là cát bột kết.
•
Đặc biệt thành phần hóa học ít được sử dụng để phân loại
nhóm đá này, lý do :
•
* Thành phần hóa học thật phức tạp và rất thay đổi.
•
* Không chỉ rõ được nguồn gốc và môi trường thành lập.
Sau đây là bảng phân loại đá trầm tích mảnh vỡ.
1/CUỘI KẾT: kích thức >2mm
1/CUỘI KẾT: kích thức >2mm
•
ĐÁ BÙN: Bùn (bột) Đá bùn có thành phần gồm cát
mòn và sét, nên khi dùng ngón tay miết trên mặt đá
sẽ có cảm giác nhám tay.
4/
4/
ĐÁ SÉT: kích thước < 1/256mm, thành phần
ĐÁ SÉT: kích thước < 1/256mm, thành phần
vật liệu : sét
vật liệu : sét
Phân biệt với đá bùn, đá sét thật trơn tay và
có tính xếp lớp rất phẳng, nên còn được gọi
là diệp thạch.
Đá bùn có lớp hay lá cũng được gọi là diệp
thạch.
Diệp thạch và đá bùn có nhiều ở các cửa sông,
tam giác châu cổ, đáy ao hồ và đáy biển của
thời quá khứ.
2. Đá trầm tích gốc sinh học và hóa
2. Đá trầm tích gốc sinh học và hóa
học
học
•
*Do sự trầm tủa hóa học hay sinh học và cũng do
sự gôm tụ của vỏ, xác bã và cột bộ của sinh vật.
*Nhóm đá này được phân loại bằng cách dựa vào
thành phần hóa học.
•
•
a/Đá vôi gốc sinh học:
•
-đá vôi san hô
•
-đá vôi rong
•
-Đá vôi trùng thoi (fusulina)
•
- Đá vôi vỏ sò ốc
•
- Đá phấn