VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - Pdf 24

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ
HỌ VÀ TÊN : ĐÀM XUÂN KIÊN
Đề Tài: VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

NIÊN LUẬN NĂM THỨ 3 NGHÀNH LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: Lịch Sử Thế Giới
KHÓA 34 (2010-2014)

Cán bộ hướng dẫn: THẠC SF DƯƠNG QUANG HIỆP

HUẾ, 07/2013
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬHỌ VÀ TÊN : ĐÀM XUÂN KIÊN

ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

hội của đất nước.
Thời điểm gần đây, vùng Miền Trung nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng
đang nổi lên vấn đề được quan tâm – khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường
trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Những vấn đề này đã đặt ra những yêu cầu
trong công tác khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh. Việc
khai thác tài nguyên này đòi hỏi phải được quản lí chặt chẽ bỡi lẽ những tài
nguyên ở đây có tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của tỉnh nhà, và hoạt động
khai thác tài nguyên ở đây sẽ tác động đến các nguồn tài nguyên khác (rừng là
nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia bị ảnh hưởng, tài nguyên nước bị ảnh
hưởng, tài nguyên không khí bị ô nhiễm, …) và ảnh hưởng lớn đến môi trường
của vùng. Trước các vấn đền nêu trên , nâng cao hoạt động quản lí khai thác về tài
nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế là yêu cầu cần thiết trước
yêu cầu của tình hình thực tế.
Đối với Hương Thủy, vốn là một thị xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế (thành lập từ
ngày 9/2/2010), với nguồn tài nguyên thiên nhiên khá là phong phú, nhất là nguồn
tài nguyên khoáng sản và tài nguyên đất. Những đặc điểm đó đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo vấn đề khai thác tài nguyên
và bảo vệ môi trường sinh thái thị xã Hương Thủy. Tuy nhiên vấn đề bảo vệ
nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như việc ngăn chặn ô nhiễm môi trường của
địa phương hiện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Tài nguyên đang bị
suy thoái do việc khai thác và sử dụng thiếu hợp lí, rừng tự nhiên tiếp tục bị tàn
phá, đất đai bị xói mòn và thoái hóa, nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt ngày
càng bị ô nhiễm, đa dạng sinh học bị suy giảm, nguồn nước mặt và nước ngầm
đang bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hóa học dùng trong bảo vệ thực vật, dùng trong
phát triển công nghiệp, chất thải chưa được thu gom và xử lí triệt để, công tác vệ
sinh môi trường còn nhiều yếu kém … Việc gia tăng dân số, nhất là việc di dân tự
do là những sức ép lớn đối với tài nguyên môi trường. Việc thi hành pháp luật về
bảo vệ nguồn tài nguyên môi trường còn gặp nhiều khó khăn, ý thức tự giác bảo
vệ môi trường chưa trở thành thói quen trong cộng đồng dân cư … đang trở thành
những vấn đề lớn đòi hỏi phải đựơc giải quyết.

Thông, báo cáo Tình hình quản lý việc khai thác cát, sạn sỏi dọc sông Hương
trên địa bàn thị xã Hương Thủy của chủ tịch thị xã Hương Thủy Phan Văn
Thông, kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình trọng điểm Bảo vệ Môi
trường thị xã Hương Thủy năm 2013 của phó chủ tịch xã Phan Văn Xuân, …
Mặc dù đã có nhiều bài nghiên cứu, tác phẩm viết về khai thác tài nguyên và bảo
vệ môi trường ở Hương Thủy – Thừa Thiên Huế, nhưng nhìn chung cũng chỉ mới
chỉ dừng lại trên cơ sở báo cáo thống kê hoặc giải quyết một số nội dung nhất
định, chỉ nói một cách khái quát, chưa đi sâu vào tìm hiểu vấn đề này. Hầu hết
trong các tác phẩm này chỉ được tác giả trình bày một cách khái quát, trình bày
như một phần trong việc khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Hương
Thủy, mà tác giả chưa đi sâu vào vấn đề, chưa giải quyết một cách trọn vẹn, chưa
có đánh giá đầy đủ vấn đề.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
• Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu tập trung tìm hiểu các nội dung chính sau:
- Thực trạng khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị xã
Hương Thủy, hoạt động quản lí khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường
thị xã Hương Thủy.
- Các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động quản lí
Khai thác và bảo vệ môi trường thị xã Hương Thủy từ những thực trạng đã
nghiên cứu.
• Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ
chủ yếu sau:
- Nghiên cứu thực trạng khai thác, bảo vệ môi trường và hoạt động quản lí
khai thác, bảo vệ môi trường trên địa bàn thị xã Hương Thủy.
- Từ thực trạng khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường và hoạt động quản lí
khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường. Để đi sâu tìm hiểu những kết quả
đã đạt được và những hạn chế đang còn tồn tại trong công tác quản lí khai
thác tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị xã Hương Thủy.

Chương 2. Vấn đề khai thác tài nguyên ở Hương Thủy, Thừa Thiên Huế
Chương 3. Vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác tài nguyên nhằm
phát triển kinh tế bền vững ở Hương Thủy hiện nay
CHƯƠNG 1 Vài nét về vùng đất và con người Hương Thủy, Thừa Thiên Huế
1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Ngày 9/2/2010, Chính phủ ban hành nghị quyết 08/NQ-CP thành lập thị xã Hương
Thủy thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế trên cơ sở toàn bộ huyện Hương Thủy, đồng thời
thành lập các Phường thuộc thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
 Tọa độ địa lí:
- Từ 16
o
08

đến 16
o
29’ vĩ bắc.
- Từ 107
o
32’ đến 107
o
45’ kinh đông
Thị xã Hương Thủy nằm về phía Đông Nam, sát thành phố Huế, có tổng diện tích
là 458,1749 km
2
, có 96.525 nhân khẩu (tháng 02/2010)
 Ranh giới hành chính:
- Phía Đông giáp với huyện Phú Lộc
- Phía Tây giáp với thị xã Hương Trà và huyện A Lưới
- Phía Nam giáp với huyện Nam Đông

vùng. Còn các xã chỉ có duy nhất một xã có đường quốc lộ đi qua đó là xã Thủy
Phù, còn các xã khác đều nằm ở những vị trí hiểm trở, khó khăn hơn nên việc giao
lưu giữa các xã với phường, thị trấn cũng không mấy thuận lợi.
Bảng 1.1: Các đơn vị hành chính thị xã Hương Thủy
Đơn vị Diện tích (ha) Nhân khẩu (người)
Phường Phú Bài 1.570,00 14.174
Phường Thủy Lương 857,50 6.774
Phường Thủy Châu 1.795,00 10.471
Phường Thủy Phương 2.825,06 12.910
Phường Thủy Dương 1249,89 11.115
Xã Thủy Bằng 2.305,86 7.369
Xã Thủy Phù 3.428,00 11.835
Xã Thủy Tân 779,70 4171
Xã Dương Hòa 26.343,92 1697
Xã Phú Sơn 3.295,94 1642
Xã Thủy Thanh 874,22 8.579
Xã Thủy Vân 492,50 5.968
Nguồn: phòng thống kê thị xã Hương Thủy, 9/2/2010)
Bản đồ hành chính thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 1.1 Bản đồ hành chính thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế
1.1.2 Địa hình
Hương Thủy nằm tiếp cận phía Nam thành phố Huế, kéo dài về phía Đông Nam
đến Phú Lộc và Tây Nam đến Nam Đông. Đồng thời, trải dài ra hai phía Đông
Tây đến tận địa giới Phú Vang, Hương Trà, A Lưới; Hầu hết phần lãnh thổ phía
Tây đường quốc lộ 1A là đồi núi. Đồi núi là quang cảnh nổi bật trong địa hình và
thiên nhiên Hương Thủy, chiếm đến 76,33% diện tích. Đồng bằng hẹp, chạy một
dải phía Đông và Đông Bắc dọc sông Lợi Nông và Đại Giang.
Đồi núi và đồng bằng có sự khác nhau cơ bản về nguồn gốc phát sinh và hình thái
cấu tạo.
 Địa hình đồi núi:

Dãy phía Đông được bắt đầu từ phía Tây của xã Thủy Phù, ở đây có các núi, tích
dương, đồng nậy, núi quách (còn gọi là núi Phèn, Thiết Sơn) tạo thành bình phong
án ngữ phía Tây là Phú Bài, từ đây dãy núi tiếp tục chạy dài theo hướng Bắc và
Tây bắc như một bức tường thành phía Tây đường quốc lộ 1A, rồi đột ngột chấm
dứt ở đầu nguồn khe Vực. tận cùng của phía Bắc có đông Tranh, cao chừng 150m.
ở phía Tây Thủy Dương, núi Thiên Thai, cao 118m phía Đông xã Thủy Bằng.
Đẹp nhất là vùng đồi núi thấp nhô ở phía nam thành phố Huế, thuộc địa phận
Thủy Bằng, với hơn 140 gò đồi đấu lên nhau trong một khu vực rộng chừng
khoảng 60ha. Điểm cao nhất là 120m, chính là đỉnh đồi có Đan Viện Thiên An tọa
lạc. Ngoài ra trên vùng đồi núi Hương Thủy còn có những địa danh quen thuộc
hoặc ghi lại dấu vết thiên nhiên độc đáo như Phú Sơn, Động Phèn, hoặc đánh dấu
một thời khai hoang lập ấp Như Lụ, Tân Ba. Cũng có những địa danh gần như đi
vào lịch sử, đánh dấu một thời xẩy ra các cuộc giao tranh ác liệt giữa ta và địch, vì
sự nghiệp giải phóng quê hương như động Tranh, động Sầm, Mỏ Tàu …
 Đồng bằng
Chiến 23.67% tổng diện tích, là một dải đất hẹp, giới hạn bởi đường quốc lộ 1A
phía Tây và sông như Ý, Đại Giang phía đông, có nguồn gốc bồi tụ từ phù sa các
sông, chủ yếu là sông Hương. Trong quá khứ xa xưa đây là một bộ phận Mãng
Trũng, có đáy sâu nhưng bị bồi lấp dần. Địa hình thấp dần về hướng Đông Nam,
theo hướng chảy của các sông. Do độ cao trung bình 2-5m nên mùa mưa lũ thường
bị ngập lụt, có nơi rất sâu, nhất là phần tận cùng Đông Nam gần đầm Cầu Hai.
Ngược lại, về mùa khô lại bị nhiễm mặn. cũng do thấp và trũng nên có nhiều ao hồ
đọng nước quanh năm hay từng mùa ở Thủy Tân, Thủy Lương.
Đồng bằng là nơi dân cư đông đúc, sinh sống lâu đơi nên đã có nhiều công trình
cải tạo như đào sông, xây kè cống, đắp đập, làm mương máng …có thể nói địa
hình nhân sinh dày đặc được tìm thấy ở bất cứ nơi nào, không giống như vùng đồi
núi, thiên nhiên còn mang nhiều nét hoang dã.
1.1.3 Thổ nhưỡng
Thổ nhưỡng là sản phẩm của quá trình tác động lâu dài các đá tạo thành đất,
địa hình, khí hậu, nước, sinh vật và cả con người. Ở Hương Thủy đất cũng là

Lượng mưa nhỏ nhất mm 1820
Nhiệt độ trung bình năm °C 25
Nhiệt độ trung bình cao nhất °C 29,6
Nhiệt độ trung bình thấp nhất °C 19.9
Tổng số giờ năng trung bình
năm
Giờ 1400-3000
Độ ẩm trung bình năm % 85-90
Độ ẩm cao nhất % 90
Độ ẩm thấp nhất % 85
Lượng bốc hơi trung bình năm mm 1050
(nguồn: phòng thống kê huyện Hương Thủy, năm 2010)
1.1.5 Chế độ thủy văn
Hệ thống thuỷ văn ở Thừa Thiên Huế nói chung và Hương Thủy nói riêng hết sức
phức tạp và độc đáo. Tính phức tạp và độc đảo thể hiện ở chỗ hầu hết các con sông
đan nối vào nhau thành một mạng lưới chằng chịt: sông Ô Lâu - phá Tam Giang -
sông Hương - sông Lợi Nông - sông Đại Giang - sông Hà Tạ - sông Cống Quan -
sông Truồi- sông Nong - đầm Cầu Hai. Tính độc đáo của hệ thống thuỷ văn là thể
hiện ở chỗ nơi hội tụ của hầu hết các con sông trước khi ra biển là một vực nước
lớn, kéo dài gần 70 cây số dọc bờ biển, có diện tích lớn nhất Đông Nam Á (trừ
sông A Sáp chạy về phía Tây, và sông Bu Lu chảy trực tiếp ra biển qua cửa Cảnh
Dương). Đó là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, đầm phá tiêu biểu nhất trong 12
vực nước cùng loại ven bờ biển Việt Nam và là một trong những đầm phá lớn nhất
thế giới. Mạng lưới sông - đầm phá đó còn liên kết với rất nhiều trằm, bàu tự
nhiên, có tên và không tên, với các hồ, đập nhân tạo lớn, nhỏ. Tổng diện tích mặt
nước của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai khoảng 231 km
2
và tổng lượng nước
mặt do các sông bắt nguồn từ Đông Trường Sơn chảy ra lên tới hơn 9 tỷ mét khối.
Thủy văn chịu sự chi phối của ảnh hưởng khí hậu và điều kiện địa hình. Trong

lập làng mới” và “Bấy giờ đất Thanh Hóa bị đói luôn, những nông dẫn nghèo khổ
ở đó đã kéo nhau vào Thuận Hóa làm ăn ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho
Nguyễn Hoàng xây dựng lực lượng phát triển kinh tế”.
Những người di dân có tinh thần lao động hang say, quyết liệt, đã mở mang, khai
phá các vùng đất gần biển, ven sông, đầm và dần dà tiến lên khu gò đồi, rừng núi,
tạo thành một khu vực trù phú, có các thể đất liên hoàn trong việc cung cấp tài
nguyên cho con người. Được sự động viên của các Chúa Nguyễn, vùng đất thuận
hóa nhanh chóng khởi sắc , như Dương Văn An đã viết trong Ô Châu cận lục:
“Non sông kỳ tú, ruộng đất mở mang, nhân dân đông đúc, thực là nơi đô hội lớn
của một phương; cảnh tượng vui tươi, phong vật quý giá”.
Vào năm 1558, Chúa Nguyễn Hoàng đổi tên huyện Tư Vang(Tư Vinh, Sĩ Vinh) có
từ đầu triều Lê, thành huyện Phú Vang. Huyện phú vang bấy giờ gồm 6 tổng: Mậu
Tài, Dương Nỗ, Đường Pha, Dã Lê, Sư Lỗ” và Diêm Trường. Một phần của
Hương Thủy hiện nay thuộc Phú Vang, phần khác thuộc Hương Trà.
Trải qua gần ba thế kỷ sau, đất đai các huyện tiếp tục được khai phá, dân cư tăng
nhanh, kinh tế phát triển, đòi hỏi phải phân định địa giới phù hợp với quy hoạt
hành chính mới.năm 1835, vua Minh Mạng đã cho cắt đất 3 huyện Phú Vang,
Hương Trà , Quảng Điền, để lập 3 huyện mới là Hương Thủy, Phú Lộc , Phong
Điền. Riêng Hương Thủy là 1 phần đất của Phú Vang và Hương Trà, gồm các
tổng: An Cựu, Dã Lê (Dã Lê), Cư Chánh, Lương Quán , Lương Văn với 58 xã,
thôn, giáp, phường, ấp. địa giới huyện được Đại Nam Nhất Thống Chí ghi: “ở
cách phủ 19 dặm về phía Đông Nam. Đông tây cách nhau 30 dặm, nam bắc cách
nhau 51 dặm, phía đông đến địa giới Huyện Phú lộc 16 dặm, phía Tây đến địa giới
Hương Trà 14 dặm, phía Nam đến động núi Hương Trà 37 dặm, phía Bắc đến địa
giới huyện Phú Vang 14 dặm”.
Địa giới này ổn định cho đến cách mạng tháng 8/1945. Trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ, phía ta, địa giới hành chính huyện vẫn như đã
nêu, nhưng tên gọi và ranh giới các xã có sự thay đổi. Giai đoạn đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp trước 1949, gọi tên xã theo tên làng, lấy tiếng đầu của tên
làng rồi thêm chữ Thủy vào sau trở thành tên xã như xã Thủy Phù ( làng Phú Bài),

Hương Thủy và Phú Vang. Huyện Hương Thủy trở lại với tên gọi cũ. Hội đồng bộ
trưởng quyết định 2 xã Thủy Bằng và Thủy Dương nhập vào lại huyện Hương
Thủy. như vậy, Hương Thủy có 11 xã và 1 thị trấn: Dương Hòa, Phú Sơn, Thủy
Bằng, Thủy Châu, Thủy Dương, Thủy Lương, Thủy Phù, Thủy Phương, Thủy
Tân, Thủy Thanh, Thủy Vân Và Thị Trấn Phú Bài.
Trong thời gian qua, nhất là từ sau khi thực hiện công cuộc đổi mới của
Đảng, cùng với sự phát triển chung của cả nước, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ
đạo của Đảng và Nhà nước, trực tiếp là Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và sự giúp
đỡ của các sở, ban, ngành của tỉnh; Đảng bộ và nhân dân Hương Thuỷ đã phát huy
truyền thống cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, luôn đoàn
kết, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, từng bước khai thác có hiệu quả tiềm năng
thế mạnh của địa phương, huy động mọi nguồn lực, nhất là nội lực để khôi phục
và phát triển kinh tế - xã hội, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị
theo hướng CNH, HĐH và đô thị hoá. Kết quả được Bộ Xây dựng có Quyết định
số 659/QĐ-BXD ngày 10/6/2009 công nhận thị trấn Phú Bài mở rộng, thuộc
huyện Hương Thuỷ là đô thị loại 4 và Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng
nhất (Quyết định số 1320/QĐ-CTN ngày 09/9/2009).
1.2.2. Dân cư
Với dân số hiện nay là 96.525 nhân khẩu, Hương Thủy thuộc thị xã đông dân
trong tỉnh. Nguồn gốc dân cư Hương Thủy gắn liền với nguồn gốc dân cư Thừa
Thiên Huế. Nhìn một cách khái quát về mặt lịch sử dân cư, người Hương Thủy
gắn với cội nguồn dân tộc Việt sinh sống ở vùng trung du Bắc Bộ và đồng bằng
sông Hồng và sông Mã. Những phát hiện khảo cổ cho thấy vào thời xã xưa, đây là
địa bàn cư trú của cộng đồng người Việt mang sắc thái của một nền văn hóa đá
mới, có nguồn gốc với Quỳnh Văn, Thách Lặc. Đó là một nền văn hóa có công cụ
chế tác từ đá khối, như ở Bàu Tró, Ba Đồn (Quảng Bình) trên địa bàn này cũng đã
tìm thấy các công cụ đồ kim khí, chứng tỏ trong thời kỳ đá, kim khí ở đây từng là
nơi định cư của tộc Việt. Hình dáng , cấu tạo và các nét hoa văn của các công cụ
đồ kim khí tương tự như các công cụ đồ kim khí tìm được ở miền Bắc, trên địa
bàn sinh sống của tộc Việt xưa.

2
nhưng đó cũng là kết quả điều hòa
dân số trong suốt 20 qua.
Diện tích đất tự nhiên tính bình quân theo đầu người là 0,58 ha/. Diện tích đất
nông nghiệp tính bình quân theo đầu người trên toàn huyện là 0,06 ha. Sau đây là
diện tích đất nông nghiệp tính bình quân đầu người 8 xã đồng bằng: Thủy Vân
0,06 ha; Thủy Thanh 0,08 ha; Thủy Dương 0,03 ha; Thủy Phương 0,04 ha; Thủy
Châu 0,05 ha; Thủy Tân 0,08 ha; Thủy Lương 0,07 ha; và Thủy Phù 0,08 ha. Nếu
có sự so sánh với mức độ tăng dân sô trong độ tuổi lao động hàng năm là 744
người, thì diện tích ruộng đất tính bình quân toàn huyện cũng như các xã như trên
là quá hẹp.
So với giai đoạn trước, thì đặc điểm quần cư và phân bố dân cư có thay đổi, đó là
kiểu quần cư thành thị phát triển. số dân thành thị tăng so với trước khá nhiều và
với tốc độ nhanh. Kiểu quần cư nông thôn đồi núi tiếp tục phát triển với cấu trúc
mới theo sự chọn lọc cơ cấu cây trồng đảm bảo hiệu quả kinh tế, sinh thái cao.
Về nghề nghiệp, số người làm các nghề thủ công tăng. Những nghề như chằm non,
thiêu ren, mộc, nề, sửa chữa cơ khí, phục vụ ăn uống, giao thông đi lại … phát
triển. Ở vùng đồi núi nghề khai thác rừng, trồng rừng là nghề mới. số người có tay
nghề thoát li địa phương để tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập cũng khá đông.
Sự biến động về dân cư cũng có nhiều thay đổi khi tiến hành giải phóng đất nước,
thì số người di dân cơ học ngày một lớn, chính sự biến động này gây ra khó khăn
cho việc đánh giá chính xác dân số tự nhiên của huyện.
Bảng 1.3 Bảng số lượng dân cư toàn huyện và xã trong huyện, cơ cấu giới
tính, số người trong độ tuổi lao động và tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên.
Đơn vị hành
chính
Tổng
dân số
Nữ Nam Trong độ
tuổi LĐ

Chúa Nguyễn, các đình Chùa, Am Miếu đến các Lăng Mộ. Nhà ở của nhân dân đã
cho thấy khá rõ điểu này.
Những giá trị văn hóa đó được người Hương Thủy hôm nay kế thừa và phát triển.
Nhiều công trình văn hóa được xây dựng khang trang, bề thế: Nhà văn hóa trung
tâm, nghĩa trang liệt sỹ, vườn chơi thiếu nhi … cùng rất nhiều cơ sở văn hóa của
các xã thị trấn khác.
CHƯƠNG 2. Vấn đề khai thác tài nguyên ở Hương Thủy, Thừa Thiên Huế
2.1. Tài nguyên thiên nhiên
Vĩ tuyến 16 độ vĩ Bắc nằm chính giữa vành đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, nơi
giao thoa của hai miền khí hậu nhiệt đới ở phía Nam và á nhiệt đới ở phía Bắc. Đó
cũng chính là điều đặc biệt của vị trí địa lý tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và thị
xã Hương Thủy nói riêng xét trên phương diện tự nhiên. Chính vị trí đặc biệt cùng
với sự đa dạng của địa hình tương phản trên một mảnh đất hẹp đã làm cho thị xã
Hương Thủy có nhiều đặc điểm nổi bật về tự nhiên và giàu có về tài nguyên thiên
nhiên.
2.1.1 Tài nguyên đất
Ở Hương Thủy có hai miền tự nhiên, với những đặc điểm khác nhau về đá tạo
thành đất, về địa hình, khí hậu, nước trên mặt, nước ngầm, cỏ cây, và cả mước độ
hoạt động của con người. Do đó ở mỗi miền hình thành mỗi hệ thống đất mang
những đặc tính không giống nhau đó là hệ feralit và hệ phù sa, mỗi hệ lại có nhiều
loại khác nhau. Hệ feralit là hệ đất ở miền đồi núi, gồm các loại đất đỏ vàng, như
đất đỏ vàng trên đá mắc ma axit, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất nâu tím
trên phiến thạch tím, đất vàng nhạt trên đất cát, đất vàng nâu trên phù sa cổ, đất đỏ
vàng do biến đổi trồng lúa.
Đất đỏ vàng trên đá mác ma axit chiếm diện tích rộng lớn ở miền núi đồi phía Tây,
giữa hai nhánh sông Hương. Đất đỏ vàng trên đất sét và biến chất, đất vàng nhạt
trên đất đá cát, đất đỏ vàng trên nền phù sa cổ, đất nâu tìm trên phiến thạch tím và
đất đỏ vàng do biến đổi trồng lúa phổ biến trên vùng đồi núi từ phía Đông Tả
Trạch đến ven rìa đồng bằng bồi tụ. trong các loại đất nói trên thì đất đỏ vàng trên
đất sét và biến chất đất nâu tìm trên phiến thạch tím, theo “Tôn Thất Chiểu” là

huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, được bao phủ bởi cả hai kiểu rừng: rừng
kín thường xanh nhiệt đới ở độ cao 900m trở xuống và rừng kín thường xanh á
nhiệt đới từ 900 mét trở lên. Theo thống kê bước đầu, tại Vườn quốc gia Bạch Mã
có 1.406 loài thực vật (dự báo lên đến 2.000 loài), 132 loài thú, 358 loài chim, 311
loại bò sát và 57 loài cá nước ngọt. Bạch Mã là nơi tập trung một số khá lớn các
loài chim của Việt Nam. Số lượng loài chim đã được thống kê ở đây chiếm hơn
43% tổng số loài chim trong toàn quốc, nhưng nếu so sánh về tổng số họ và bộ thì
tỷ lệ này lại còn cao hơn. Các loài chim ở Bạch Mã chiếm tới gần 68% tổng số họ
và gần 80% tổng số bộ trong toàn quốc. Đặc biệt, trong số 12 loài trĩ có mặt tại
Việt Nam thì ở Bạch Mã có tới 7 loài, bằng số loài trĩ hiện có ở Lào và nhiều hơn
số loài trĩ có ở Campuchia. Hơn thế nữa, lịch sử Vườn Quốc gia Bạch Mã có quan
hệ với một loài chim. Người ta kể rằng ý tưởng xây dựng Vườn Quốc gia Bạch
Mã của người Pháp từ những năm 20 của thế kỷ XX bắt nguồn từ việc phát hiện
lần đầu gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi) ở khu vực này.
Ngoài số lượng các loài loài thực vật từ bậc thấp đến bậc cao lớn hơn hẳn so với
các địa phương khác do tính chất chuyển tiếp của các khu hệ thực vật nhiệt đới và
á nhiệt đới, tính đặc sắc đa dạng sinh học của Hương Thủy còn thể hiện ở cho đây
là nơi dừng chân cuối cùng của những giống loài đặc trưng của hai miền Nam,
Bắc, nơi xuất hiện của nhiều giống loài quý hiếm. Những cây ăn quả phổ biến, đặc
trưng cho phức hệ thực vật miền Nam như giáng châu (măng cụt), chôm chôm,
sầu riêng, đều có mặt ở đây, và không thấy xuất hiện ở các vĩ độ cao hơn, nhưng
với mùa vụ lệch pha (trái mùa) như giáng châu, chất lượng kém hơn như chôm
chôm, và năng suất thấp hơn như sầu riêng. Những cây trái đặc trưng của hương vị
miền Bắc trên đường vào Nam, như vải, sấu, đến đây là dừng lại. Trong quá
trình tiến hoá, các hệ sinh thái, các loài và các nguồn gien đã liên tục biến đổi, tạo
ra các loài mới trong điều kiện sinh thái mới, trong khi một số loài khác sẽ biến
mất. Đến thời điểm này, các nhà khoa học đã kiểm kê được ở Hương Thủy co 43
loài thực vật quý hiếm, được phân thành 5 bậc là đang nguy cấp hay đang bị đe
đoạ tuyệt chủng (ký hiệu quốc tế là E) 1 loài, sẽ nguy cấp hay có thể bị đe doạ
tuyệt chủng (ký hiệu quốc tế là V) 10 loài, hiếm hay có thể sẽ nguy cấp (ký hiệu

cảnh quan thiên nhiên. Tài nguyên thiên nhiên đó có ý nghĩa rất to lớn đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên đó chỉ có
thể trở thành yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất xã hội, trở thành nguồn lực cơ
bản cho phát triển khi nó được khai thác, sử dụng và hơn thế nữa, phải được khai
thác, sử dụng một cách hợp lý, thông minh, và có hiệu quả. Những quyết định
đóng cửa rừng tự nhiên, quy hoạch lại nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản,
thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái, những quy định
nghiêm cấm săn bắt, mua bán động vật hoang đã, nghiêm cấm sử dụng các
phương tiện đánh bắt thuỷ sản có tính chất huỷ diệt, là những hành động cụ thể
đã được thị xã thực hiện theo hướng sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên
nhiên giàu có nhưng hữu hạn đó.
2.1.3 Tài nguyên nước
Tài nguyên nước trong thị xã Hương Thủy bao gồm 2 nguồn chính là nguồn nước
mặt và nước ngầm.
 Hệ thống nước trên mặt.
Ngoài hệ thống sông ngòi, khe suối dày đặc thi tại Hương thủy có nhiều hồ tự
nhiên và hồ nhân tạo. Hồ tự nhiên nhỏ, cạn và đều ở đòng bằng hoặc vùng ven
như các hồ ở phía bắc sân bay Phú Bài. Do ít nước và dao động mạnh theo mùa,
nên giá trị sử dụng nhỏ; chỉ góp phần điều tiết nước cho sông hoặc khe suối như
hồ ở điểm sét Phú Bài.
Hồ nhân tạo gồm hồ Châu Sơn, hồ Phú Bài. Hồ châu sơn cách sở UBND thị xã
khoảng 1km về phía tây nam. Hồ được tạo thành ở giữa một trũng sâu giữa các
ngọn đồi và núi Châu Sơn, có dung tích 1 triệu m
3
, dùng để tưới nước cho các
cánh đồng Thủy Phương, Thủy Châu.
Hồ Phú Bài: là hồ chứa nước lớn của thị xã, nằm ở đồi núi phía Tây Nam làng Phú
Bài. Hồ này có 4 mặt đều là đồi núi thấp, thu hút nguồn nước ở các nhánh sông
cùng tên ở phía nam. Hồ rộng, tương đối sâu, có dung tích 5 triệu m
3

lượng vàng trong cát dao động khoảng 0,1-0,4 g/m
3
cát. Bề dày cát sỏi chứa vàng
có thể từ 0,5 – 1,5 m . vàng còn có ở trong bãi cuội, đá dăm ở ven sông, ở đây hàm
lượng vàng có thể đạt từ 0,5-1 g/m
3
. Vàng còn có trong sản phẩm phong hóa đá
gốc tại chỗ, trong các sườn tích và các bãi đá ven chân sườn đồi núi. ở đây, hàm
lượng vàng có thể đạt từ 1-2 g/m
3
đá. Bề dày tầng chứa vàng từ 0,5-2 mét. Đây là
trầm tích ky thứ 4.
Sắt. sắt được phát hiện nhiều nơi tại vùng đồi núi, sông Tả Trạch về phía Đông.
Một là dải đồi núi dọc bờ Đông sông này, từ núi Mỏ Tàu giáp Phú Lộc đến quá
Khe Lau, kéo dài đến hơn 7km và rộng 500-1000m. quặng sắt ở đây có nguồn gốc
ngoại sinh. Gồm sắt nâu (limonit) và sắt đỏ (hêmatít), thành phần Fe
2
0
3
n H
2
0 và
Fe
2
0
3
. Dải quặng này chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Hàm lượng sắt khá
cao, đến 40-45%. Đá chứa sắt là cát và sét kết cổ sinh.
Hai dải quặng này phân bố ở phía Tây xã Thủy Phù. Sắt ở đây được biết đến từ
lâu, trước cách mạng tháng 8 Phú Bài được biết đến nghề sắt nổi tiếng. sắt Phú Bài

học hàm lượng oxyt silic cao, hàm lượng sắt nhỏ. Có màu trắng, trắng đục, vàng
và cũng có công dụng làm nguyên liệu sứ, sản xuất gạch ngói, làm chất độn xà
phòng. Sét ở đây khai thác dễ dang do nằm lộ thiên, nhưng lại là nơi nằm gần
đường quốc lộ 1A và các trục đường nhỏ của thị xã. Trữ lượng đánh giá trước đây
(1983) là 295.295 m
3
.
Ngoài sét ra, trong số khoáng sản phi kim loại, còn có rất nhiều loại khác phân bố
rộng và trữ lượng lớn, dùng làm vật liệu xây dựng, làm móng nhà cửa, công trình,
lát đường sá như đá cát kết, đá granit, cuội sỏi, sạn cát …
 Nhóm khoáng sản nước ngầm
Nước ngầm Hương Thủy lâu nay cũng đã được nghiên cứu nhiều, trong đó doàn
địa chất 708 của liên đoàn địa chất thủy văn miền nam nghiên cứu kỹ nhất. nhằm
mục đích tìm kiếm khai thác mạch nước ngầm cung cấp cho sản xuất công nghiệp,
nông nghiệp và ăn uống của cư dân trên địa bàn Hương Thủy. Đoàn đã tiến hành
khoa sâu nhiều mũi khoan ở đồng bằng, bơm hút nước phân tích, xét nghiệm, xác
định số lượng, chất lượng nước theo địa tầng đến độ sâu trên tram mét. Kết quả
cho thấy, ở rìa đồi và đồng bằng Hương Thủy, nước ngầm khá phong phú. Nhất là
vùng Phú Bài và các khu vực rìa đồi bắc nam. Các lỗ khoan ở đây cho thấy, tang
chứa nước ở độ sâu khá lớn, từ 20m trở xuống. Kết quả bơm thí nghiệm cho thấy
tầng này giàu nước, nước nhạt, có ý nghĩa trong việc cung cấp cho sản xuất, và ăn
uống một cách đều đặn, thường xuyên trong năm. Trữ lượng nói chung khoảng
6000 đến 100000m
3
/ngày, tính theo tài liệu bơm hút.
 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên:
Lợi thế:
- Thị xã Hương Thủy có một vị trí địa lí thuận lợn cho việc phát triển kinh tế và
sản xuất nông, thủy sản của vùng.
- Khí hậu rất thuận lợi cho việc phát triển việc nuôi trồng các loại cây có giá trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status